Tải bản đầy đủ (.pdf) (44 trang)

đảng cộng sản việt nam với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế giai đoạn từ năm 1991 đến những năm đầu của thế kỷ xxi

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.79 MB, 44 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ </b>

<b>TIỂU LUẬN CÁC PHONG TRÀO CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI QUỐC TẾĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỚI PHONG TRÀO CỘNGSẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1991</b>

<b>ĐẾN NHỮNG NĂM ĐẦU CỦA THẾ KỶ XXI</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

Mục lục

<i><b>Chương I: Những nhân tố ảnh hưởng chủ yếu tác động đến PTCS - CNQT từ </b></i>

<b>1. Những thay đổi của cục diện thế giới sau sự sụp đổ chế độ XHCN ở </b>

<b>3. Ảnh hưởng mạnh mẽ từ cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đương </b>

<b>3. Những đổi mới hoạt động của các Đảng Cộng sản</b> 23

<i><b>Chương III: Đảng Cộng sản Việt Nam với PTCS - CNQT từ năm 1991 đến đầu </b></i>

<b>1. Khái quát mối quan hệ của Đảng Cộng sản Việt Nam với PTCS - CNQT </b>

<b>2 . Những cống hiến của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với PTCS - CNQT giai đoạn từ năm 1991 đến những năm đầu thế kỷ XXI</b> 29

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<i><b>2.2. Đóng góp về thực tiễn</b></i> 34

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<b>Lời mở đầu</b>

<i><b>1.Tính cấp thiết của đề tài</b></i>

PTCS - CNQT ra đời gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của giai cấp công nhân hiện đại, một sản phẩm tất yếu của lịch sử, khởi đi từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và sự xác lập vững chắc của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. PTCS -CNQT đã trở thành một trong những động lực chủ yếu của tiến trình lịch sử nhân loại đặc biệt là kể khi chủ nghĩa Mác Lê-nin ra đời và đóng vai trị làm hệ tư tưởng (vũ khí lý luận) của phong trào.

Với tư cách là một phong trào, một q trình lịch sử, nó sẽ khơng tránh khỏi những quy luật thăng trầm trên con đường phát triển của mình. Nó đã từng đạt tới cao trào và làm nên một cuộc cách mạng xã hội vĩ đại trong thế kỉ XX, dẫn đến sư ra đời hệ thống của các nước đi lên CNXH trên phạm vi tồn thế giới. Tuy nhiên đến khoảng ¾ thế kỉ sau, từ năm 1991 trở đi, trước sự tan rã của Nhà nước Liên bang cộng hòa chủ nghĩa Xơ Viết và các nước XHCN Đơng Âu, nó đã đi vào thoái trào, tạo nên một cuộc khủng hoảng và tác động sâu sắc đến phong trào. Những kẻ cơ hội, và các thế lực và chống cộng đẩy mạnh các hoạt động tấn công chủ nghĩa Mác- Lê nin, bóp méo, xuyên tạc và cuối cùng là phủ nhận vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, của PTCS - CNQT đối với lịch sử.

Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ trong mọi hoạt động từ thời kỳ của Hồ Chí Minh vậy nên tất yếu Đảng Cộng sản Việt Nam có bị ảnh hưởng sau sự tan rã của Liên Xô và Đông Âu. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng coi trong PTCS - CNQT.

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

<i><b>Bài tiểu luận “Đảng Cộng sản Việt Nam với phong trào cộng sản vàcông nhân quốc tế giai đoạn từ năm 1991 đến những năm đầu của thế kỷXXI” nhằm nghiên cứu nội dung những nhân tố tác động đến PTCS - CNQT</b></i>

và tìm hiểu về quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam với PTCS - CNQT giai đoạn từ năm 1991 đến những năm đầu thế kỷ XXI để không chỉ nhằm bảo vệ những quan điểm Mác – xít về sứ mệnh lịch sử của giai cấp cơng nhân, khẳng định niềm tin vào lý tưởng cách mạng mà góp phần bảo vệ bản chất khoa học cách mạng chủ nghĩa Mác Lênin, chống lại sự xuyên tạc, phủ nhận vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân của các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội trong giai đoạn lúc đó của thời đại.

<i><b>2.Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu</b></i>

- Phân tích những nhân tố chủ yếu tác động đến PTCS - CNQT từ năm 1991 đến những năm đầu thế kỷ XXI

- Phân tích thực trạng của PTCS - CNQT từ năm 1991 đến những năm đầu thập kỷ XXI

Làm rõ mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với PTCS -CNQT từ năm 1991 đến những năm đầu thế kỷ XXI

<i><b>3.Đối tượng nghiên cứu</b></i>

Đảng Cộng sản Việt Nam với PTCS - CNQT giai đoạn từ năm 1991 đến những năm đầu của thế kỷ XXI

<i><b>4.Phạm vi nghiên cứu</b></i>

- Thời gian: năm 1991 đến những năm đầu thế kỷ XXI - Không gian: Đảng Cộng sản Việt Nam với PTCS - CNQT

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

<i><b>5.Kết cấu tiểu luận </b></i>

Chương I: Những nhân tố ảnh hưởng chủ yếu tác động đến PTCS -CNQT từ năm 1991 đến đầu thế kỷ XXI

Chương II: Thực trạng PTCS - CNQT ở trên thế giới từ năm 1991 đến đầu thế kỷ XI

Chương III: Đảng Cộng sản Việt Nam với PTCS - CNQT từ năm 1991 đến đầu thế kỷ XI

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<i><b>Chương I: Những nhân tố ảnh hưởng chủ yếu tác động đến PTCS - CNQT từ năm 1991 đến đầu thế kỷ XXI</b></i>

Sau khi Liên Xô và Đông Âu tan rã, cục diện thế giới thay đổi có lợi cho chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, cục diện chung của thế giới vẫn là xu thế hoà dịu - hoà hỗn vì lợi ích dân tộc và mục tiêu phát triển giữa các nước trong quan hệ quốc tế. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược đối ngoại, tránh xung đột đối đầu, tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để tăng cường sức mạnh, vị thế quốc tế của mình. Tình hình trên cho thấy, thế giới tuy khó có thể xảy ra những cuộc chiến tranh lớn nhưng những mâu thuẫn lớn vẫn tồn tại và phát triển, làm cho mơi trường an ninh tồn cầu tiềm ẩn những bất trắc khó lường.

<b>1.Những thay đổi của cục diện thế giới sau sự sụp đổ chế độ XHCN ởĐông Âu và Liên Xô</b>

Sau gần nửa thế kỷ tồn tại kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, chiến tranh lạnh và trật tự thế giới hai cực trong vai trị là hình thái biểu hiện của cuộc đối đầu Đông – Tây khốc liệt đã đi đến điểm kết khi chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ. Những sự kiện này làm thay đổi sâu sắc cục diện thế giới, khiến cho cơ cấu địa – chính trị và sự phân bố quyền lực toàn cầu bị đảo lộn. CNXH hiện thực lâm vào thoái trào đã đẩy cuộc khủng hoảng của PTCS - CNQT càng trở nên trầm trọng. Tương quan lực lượng thế giới nghiêng hẳn về phía có lợi cho CNTB, CNĐQ; bất lợi đối với CNXH và các lực lượng cách mạng tiến bộ. Quá trình hình thành trật tự thế giới mới sau chiến tranh lạnh chứa đựng nhiều yếu tố bất trắc, khó đốn định.

Trong bối cảnh đó, trên thế giới đã diễn ra những thay đổi sâu sắc, có tính đan xen, phức tạp, thậm chí trái chiều nhau. Trên bình diện an ninh – chính trị, ngay sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, xu thế hịa diu – hịa hỗn tỏ ra

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

chiếm ưu thế trong quan hệ quốc tế. Quan hệ giữa các nước lớn thay đổi nhanh chóng, từ chỗ mất cân bằng chuyển sang tìm kiếm sự cân bằng mới, kiềm chế bất đồng, tránh xung đột mang tính chất đối kháng.

Trật tự thế giới hai cực mất đi làm giảm các cuộc xung đột bắt nguồn từ cuộc đối đầu Xô – Mỹ trước đó, thì đồng thời nó cũng làm mất đi cái giới hạn kiềm chế đối với các xung đột khác, hoặc làm bộc lộ làm rõ nét và ngày càng gay gắt thêm một số mâu thuẫn với tiềm ẩn. Xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, những bất ổn do mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố xảy ra ở nhiều nơi.

Triệt để lợi dụng ưu thế trong so sánh lưu lượng sau chiến tranh lạnh, Mỹ tỏ rõ tham vọng độc quyền “lãnh đạo” thế giới. Từ khi G.W. Busơ trở thành tổng thống, chính quyền Mỹ càng ráo riết thi hành một chính sách đơn phương mang nặng tính vị kỷ, bất chấp sự phản đối của nhiều nước lớn và cộng đồng quốc tế.

Vận động trong điều kiện của những thay đổi rất căn bản của cục diện thế giới, các Đảng trên thế giới cũng như Đảng Cộng sản Việt Nam không thể không chịu ảnh hưởng lớn trên nhiều phương diện. Một mặt, sựu thay đổi của cục diện thế giới sau sự sụp đổ chế độ XHCN ở Đơng Âu và Liên Xơ cũng góp phần cảnh tỉnh, giúp các ĐCS thấy rõ hơn thực chất những mưu đồ thâm độc, xảo quyệt cùng với tham vọng hiếu chiến của các thế lực đế quốc phản động đối với CNXH, PTCS-CNQT và các lực lượng dân chủ, tiến bộ. Trong điều kiện khơng cịn lực lượng đối trọng từ Liên Xơ và hệ thống XHCN, thì CNTB càng phơi bày rõ hơn bản chất vốn có, khơng hề thay đổi cùng với những mâu thuẫn nội tại không thể khắc phục và giới hạn lịch sử không thể vượt qua của nó. Nhìn chung, sự thay đổi của cục diện thế giới sau chiến tranh lạnh đã thực

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

sự tạo ra những chấn động nặng nề chưa từng thấy, tác động rất tiêu cực đối với PTCS-CNQT nói chung.

Sự tan rã chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô, CNTB chiếm lĩnh đa phần thế giới và trong lúc khơng cịn địch thủ đáng gờm phải đối mặt, CNĐQ đứng đầu là đế quốc Mỹ càng ráo riết bành trướng thế lực, đẩy mạnh thực hiện chiến lược toàn cầu phản cách mạng, mưu toan thao túng hoàn toàn thế giới quỹ đạo của mình. Mỹ và các thế lực đế quốc gia tăng “Diễn biến hịa bình” nhằm xóa bỏ các nước XHCN cịn lại, trong đó có Việt Nam; tăng cường áp lực khống chế các nước đang phát triển; đồng thời đẩy mạnh chống phá các ĐCS và các phong trào dân chủ.

Chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ đã kéo theo những hẫng hụt, hoài nghi về lý tưởng, suy giảm nhất định về niềm tin của một bộ phận nhân dân lao động vào CNXH, gây ra sự dao động mạnh về lập trường chính trị tư tưởng.

Những khó khăn, tổn thất lớn của CNXH, của PTCS – CNQT và sự gia tăng chống phá của CNĐQ, thì trong hầu như tất cả các ĐCS ở các nước đã xuất hiện những khuynh hướng cơ hội, cải lương, xét lại rất đa dạng. Nhiều ĐCS bị phân hóa, phân liệt sâu sắc, không thể thống nhất về tư tưởng và đồng thời cũng không thể hành động trong tư cách một lực lượng thống nhất.

Những thay đổi của cục diện thế giới sau sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô, Đông Âu đã ảnh hưởng tiêu cực nặng nề đến PTCS – CNQT trên thế giới trên nhiều phương diện, địi hỏi phong trào phải có đối sách thích hợp, vượt qua những thách thức nghiệt ngã để tồn tại và phát triển. Nhìn tồn cục, sự sụp đổ này, bước thoái trào tạm thời CNXH hiện thực hiển nhiên là một tổn thất

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

lớn đối với PTCS – CNQT trên thế giới và mối quan hệ của phong trào với ĐCS Việt Nam.

<b>2.Ảnh hưởng của xu hướng tồn cầu hóa</b>

Tồn cầu hóa mà cốt lõi là toàn cầu kinh tế đã trở thành một xu thế khách quan của thế giới, tác động và ảnh hưởng sâu sắc đến vận mệnh các quốc gia cũng như diện mạo thế giới. Là một chủ thể trong thế giới hiện đại, PTCS – CNQT đã và đang chịu sự tác động, chi phối mạnh mẽ của tồn cầu hóa về mọi mặt. Quan điểm, thái độ của các ĐCS và cơng nhân đối với tồn cầu hóa cũng như sự nhạy bén chính trị, năng lực hoạt động thực tiễn đấu tranh chống mặt tiêu cực của tồn cầu hóa có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của PTCS – CNQT hiện đại.

- Thách thức đối với PTCS – CNQT

Những thay đổi của cục diện thế giới cùng sự tác động mạnh mẽ của tồn cầu hóa sau “chiến tranh lạnh” đã làm cho PTCS - CNQT rơi vào khủng hoảng nặng nề. Đó là sự khủng hoảng về lý luận, đường lối phát triển, về cơ cấu giai cấp - xã hội, đặc biệt là cơ cấu giai cấp công nhân - lực lượng xã hội nền tảng cho phong trào này.

Phong trào còn chịu sự chống phá của các thế lực thù địch; mất đi một phần sự tín nhiệm, ủng hộ của các lực lượng truyền thống trước đây. Các ĐCS bị cơng kích, chèn ép trong cơ chế đa ngun chính trị của các chính phủ tư sản, từ đó dẫn đến nhiều thua thiệt trong tranh cử.

Tồn cầu hóa tạo ra tình trạng cạnh tranh quyết liệt về việc làm, điều kiện sống... làm nảy sinh mâu thuẫn, dẫn đến phân hóa trong nội bộ giai cấp

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

công nhân ở từng nước cũng như trên phạm vi khu vực và toàn cầu, gây chia rẽ khối đồn kết thống nhất của giai cấp cơng nhân.

Thực trạng trên đòi hỏi các ĐCS muốn tồn tại và phát triển phải tự đổi mới về lý luận, cơ cấu tổ chức, hình thức tập hợp lực lượng cũng như phương thức đấu tranh.

- Sức sống mới của chủ nghĩa xã hội

Trong bối cảnh tồn cầu hóa, các nước xã hội chủ nghĩa không chỉ kiên định trụ vững, mà phải từng bước vượt qua những khó khăn, thách thức, tiếp tục thực hiện cải cách, đổi mới thắng lợi về mọi mặt và nâng cao vị thế quốc tế của mình. Con đường cải cách và đổi mới của các nước xã hội chủ nghĩa đã đóng góp nhiều thành tựu về lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội. Các nước xã hội chủ nghĩa đã, đang và sẽ là những chủ thể quốc tế quan trọng trong quá trình thúc đẩy sự hình thành trật tự thế giới mới sau “chiến tranh lạnh”.

Thành tựu cải cách và đổi mới của các nước xã hội chủ nghĩa đã chứng tỏ sức sống và khả năng tự đổi mới để đi lên chủ nghĩa xã hội là rất mãnh liệt. Sự khai phá, tìm tịi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Trung Quốc, Việt Nam và một số nước có một giá trị nhân đạo cao cả, đóng góp cả về mặt lý luận và thực tiễn giúp các Đảng Cộng sản vững niềm tin trong việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

- Các Đảng Cộng sản và công nhân càng nhận thức rõ hơn về bản chất của chủ nghĩa tư bản

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

Trong bối cảnh tồn cầu hóa, những mâu thuẫn vốn có của xã hội tư bản càng trở nên sâu sắc hơn. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất xã hội hóa cao với quan hệ sản xuất chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất ngày càng trở nên gay gắt. Tồn cầu hóa hiện nay khơng "san lấp" mà cịn "đào sâu thêm hố ngăn cách" giàu nghèo. Tồn cầu hóa đang làm nảy sinh những vấn đề tồn cầu cấp bách, mơi trường sống của con người đang bị phá hủy nghiêm trọng. Do đó, trong mỗi quốc gia, đặc biệt là các nước tư bản phát triển đã xuất hiện nhiều phong trào xã hội hoài nghi về sự “trường cửu” của chế độ tư bản và đấu tranh nhằm khắc phục chủ nghĩa tư bản, xây dựng một xã hội mới bền vững.

Tồn cầu hóa dẫn đến tình trạng cường quyền, hiếu chiến ngày càng tăng của chủ nghĩa đế quốc. Lợi dụng cuộc chiến chống khủng bố sau “sự kiện 11-9-2001”, Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh quy mô lớn ở Áp-ga-ni-xtan (2001) và I-rắc (2003). Năm 1999, Mỹ tiến hành can thiệp quân sự ở bất cứ nơi nào trên thế giới mà Mỹ cho là ở đó có biểu hiện “vi phạm” dân chủ, nhân quyền. Cuối năm 2002 - Mỹ lại thông qua học thuyết “đánh đòn phủ đầu” đối với những lực lượng, những quốc gia mà Mỹ coi là mối đe dọa đến lợi ích chiến lược của Mỹ. Những biểu hiện trên càng làm cho nhân loại tiến bộ và trước hết là những người cộng sản nhận rõ hơn bản chất thực của chủ nghĩa tư bản.

- Tồn cầu hóa tạo ra những tiền đề mới của chủ nghĩa xã hội

Tồn cầu hóa, một mặt, tăng cường quyền lực của tư bản, mặt khác, làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản và chuẩn bị những tiền đề của chủ nghĩa xã hội ngay trong lòng chủ nghĩa tư bản.

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

Thứ nhất, xu hướng thị trường xã hội ngày càng chiếm ưu thế. Để khắc phục những hậu quả của thị trường tự do, từ giữa thế kỷ XX một số nước tư bản đã thực hiện xây dựng thị trường xã hội. Nhà nước thực hiện điều tiết kinh tế thị trường bằng sức mạnh kinh tế, tạo ra sự kiểm soát xã hội đối với thị trường, làm giảm thiểu các tác động của khủng hoảng. Công cuộc cải cách, đổi mới của Trung Quốc và Việt Nam theo hướng xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa hay nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời gian qua là một đóng góp to lớn vào lý luận xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chung trên thế giới.

<b>Thứ hai, xu hướng kinh tế tri thức tạo tiền đề khắc phục tha hóa lao</b>

động. Q trình tồn cầu hóa làm nảy sinh kinh tế tri thức - nền kinh tế mà mọi việc từ sản xuất, lưu thông, phân phối, đến tiêu thụ sản phẩm đều dựa trên cơ sở sử dụng tri thức và thông tin. Tri thức trở thành tư liệu sản xuất chủ yếu, người lao động là nguồn lực của tri thức, trí tuệ của họ chính là tư liệu sản xuất chủ yếu, không tách rời họ, thuộc về họ.

<b>Thứ ba, văn minh chính trị tạo ra tiền đề khắc phục tha hóa quyền lực.</b>

Giai cấp thống trị dùng quyền lực mưu lợi cho mình, cịn nhân dân thì đấu tranh địi giai cấp thống trị dùng quyền lực vì lợi ích chung của xã hội. Thực chất đó là cuộc đấu tranh đòi dân chủ của nhân dân và kết quả đưa đến sự tiến hóa của các nền dân chủ, đưa đến văn minh chính trị. Nền văn minh chính trị đạt được trong xã hội hiện đại của quá trình tồn cầu hóa đã tạo ra những tiền đề để khắc phục sự tha hóa quyền lực.

Tồn cầu hóa càng phát triển càng tạo điều kiện cho dân chủ hóa chính trị và càng tạo ra đầy đủ hơn những tiền đề để thực hiện mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Đồng thời đây cũng chính là những tiền đề để PTCS - CNQT xem xét,

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

lựa chọn tiến tới con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội khoa học - một xã hội nhân đạo hồn bị.

Tồn cầu hóa là một q trình đầy mâu thuẫn, trong đó mâu thuẫn giữa các lực lượng lợi dụng tồn cầu hóa để mở rộng sự bóc lột về kinh tế, áp đặt về chính trị với các lực lượng đấu tranh chống mặt trái của toàn cầu hóa, bảo vệ độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Hiện nay, xuất hiện nhiều phong trào xã hội mới đấu tranh chống mặt trái của toàn cầu hóa với tên gọi chung là "Phong trào chống tồn cầu hóa". Phong trào này đã phần nào thức tỉnh được ý thức cơng dân tồn cầu trước những vấn đề cấp bách về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, mơi trường... của nhân loại hiện nay. Mục tiêu đấu tranh chung của phong trào là chống lại việc chủ nghĩa tư bản lợi dụng toàn cầu hóa để áp đặt một kiểu tồn cầu hóa tiêu cực, phi nhân tính; chống lại sự lũng đoạn của hệ thống quyền lực tư bản độc quyền quốc tế, đồng thời hướng tới xây dựng một trật tự thế giới mới dân chủ, cơng bằng và bình đẳng hơn. Mục tiêu bao trùm đó đã được cụ thể hóa thành những mục tiêu cụ thể như: chống đói nghèo, bất công xã hội, chống chủ nghĩa tự do mới, chống nền chính trị cường quyền... hoặc, địi xóa nợ cho các nước nghèo và kém phát triển, bảo vệ mơi trường sống, dân chủ hóa cơ cấu và cơ chế của các tổ chức quốc tế như Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB).

Như vậy, trong bối cảnh tồn cầu hóa, PTCS - CNQT ln chịu sự tương tác tổng hợp, đan quyện vào nhau, vừa trực tiếp vừa gián tiếp của hàng loạt nhân tố khách quan và chủ quan. Những nhân tố đó tác động nhiều mặt đến sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của các Đảng Cộng sản, tạo ra những tiền đề cho việc xây dựng một xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Đành rằng, sự phục hưng của chủ nghĩa xã hội trong thế kỷ XXI là một quá

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

trình từ từ, lâu dài, khúc khuỷu, thậm chí có thể xuất hiện những bước lặp đi lặp lại mới, nhưng quy luật cơ bản phát triển của xã hội loài người là tiến tới chủ nghĩa nhân đạo hoàn bị - chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Do đó, chủ nghĩa xã hội tất yếu sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản. Tiến trình đó là khơng thể đảo ngược.

<b>3.Ảnh hưởng mạnh mẽ từ cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đươngđại</b>

Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đương đại đã phát triển như bão kể từ giữa thế kỷ XX đến nay, mang tính tích hợp rất cao, diễn ra đồng thời ở hầu hết các lĩnh vực, và xâm nhập vào mọi mặt của đời sống xã hội. Cách mạng khoa học - công nghệ trở thành một xu thế mới, lôi cuốn và tác động mạnh mẽ tất cả các nước, tạo ra những thay đổi lớn không chỉ trong đời sống kinh tế - xã hội, mà cả trong so sánh lực lượng cũng như ngôi vị của mỗi quốc gia trên trường quốc tế.

Cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại làm thay đổi rất căn bản tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, đẩy nhanh việc cơ cấu lại nền kinh tế và công nghệ làm biến đổi cơ cấu ngành nghề, do đó tác động đến sự biến đổi cơ cấu giai cấp công nhân. Cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại tác động làm phân hố nội bộ giai cấp cơng nhân, do đó tác động đến ý thức giai cấp. Đây là thách thức mới về mặt lý luận, là nhiệm vụ chính trị thực tiễn đặc biệt quan trọng của PTCS - CNQT. Tình hình trên buộc các ĐCSphải thay đổi chiến lược, sách lược lãnh đạo chính trị, linh hoạt, sáng tạo trong phương pháp hoạt động.

</div>

×