Tải bản đầy đủ (.pdf) (48 trang)

văn hóa ẩm thực

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (10.67 MB, 48 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<i>Văn hóa sinh hoạt vật chất là một thành tố quan trọng trong đời sống văn hóacủa bất kỳ dân tộc nào. Đối với người Việt, văn hóa sinh hoạt vật chất có một nét đặc điểm rất riêng, đậm chất văn hóa nơng nghiệp từ xa xưa. Điều này đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia cực kỳ ấn tượng trong mắt nhân dân nói riêng và tồn thế giới nói chung về ẩm thực, trang phục, kiến trúc và giao thông.</i>

<b>I.Văn hóa ẩm thực</b>

Theo “Từ điển Việt Nam thơng dụng” thì ẩm thực chính là ăn uống - là hoạt động để cung cấp năng lượng cho con người sống và làm việc…

<b>1. Đă c trưng, cơ c Āu ba ăn ca ngưi Viê t</b>

*đặc trưng

Ẩm thực là thành tố văn hóa sinh hoạt vật chất có ý nghĩa quan trọng nhất đối với sự sinh tồn của con người.

Nói đến ẩm thực là nói đến vấn đề ăn uống, vấn đề liên quan đến sự sinh tồn của con người ở bất kì một quốc gia, một dân tộc nào. Người phương Đông cũng phải ăn mà sống, người phương Tây cũng không thể sống mà khơng ăn. Nhưng văn hố phương Đơng và văn hố phương Tây lại có cách lựa chọn khác nhau về vấn đề ăn uống, từ chuyện ăn cái gì, ăn như thế nào cho đến chuyện đâu là văn hoá lối ăn đã trở thành bản sắc văn hố của một dân tộc.

Văn hố phương Đơng dựa vào nền sản xuất nơng nghiệp nhìn chung quan tâm đến cả hai khía cạnh của ẩm thực đó là cái ăn và cách ăn. Văn hoá phương Tây chủ yếu dựa vào văn minh du mục, thương mại mà sau này là văn minh công nghiệp với những đặc điểm riêng lại

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

ưu tiên lựa chọn vấn đề hàng đầu là cái ăn, sau đó mới đến cách ăn. Là bởi nhịp điệu thời gian gấp gáp, bởi đề cao giá trị cá nhân, bởi tư duy duy lí và đầu óc thực tiễn nên người phương Tây thích ăn theo suất riêng, cơ cấu bữa ăn cũng nghiêng về đạm động vật, cách chế biến thức ăn cũng phù hợp với lối sống hiện đại của văn minh công nghiệp

Người Việt Nam lựa chọn như thế nào để tạo dựng nét đặc trưng trong văn hoá ẩm thực? - đây là vấn đề cần được làm sáng tỏ.

Có người cho rằng người Việt chỉ quan tâm đến ý nghĩa thực dụng của sự sinh tồn, chỉ quan tâm đến cái ăn, đến nội dung mà quên mất văn hố lối ăn, bỏ qua hình thức. Trong thực tế thì sự lựa chọn của người Việt thơng minh và linh hoạt hơn nhiều.

Một mặt người Việt rất coi trọng cái ăn: “Có thực mới vực được đạo”, “ Đói thì thèm thịt, thèm xơi - Hễ no cơm tẻ thì thơi mọi bề”...

Nhưng mặt khác người Việt lại tự cân bằng một cách hài hồ cho quan niệm trên bằng những lời giáo lí: “ Lời chào cao hơn mâm cỗ”, “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”, “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”...

->Cái ngon mà người Việt cảm nhận là ngon ở cái tình cái nghĩa, là ở thái độ ứng xử có văn hố trong cách ăn, chứ không phải cái ngon ở mâm cao cỗ đầy hay từ sơn hào hải vị, cao lương.

Văn hóa ẩm thực Việt Nam chịu ảnh hưởng về phong tục, tập quán, thói quen, địa lý, điều kiện khí hậu và đặc biệt là quan niệm của con người. Chạy dọc theo đất nước hình chữ S từ Bắc đến Nam với 63 tỉnh thành và 54 dân tộc anh em, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nền văn hóa ẩm thực độc đáo, hoang dã nhưng lại vô cùng tinh tế không thua kém các nước trên thế giới.

Người Việt Nam ta sống đồng thuận, hài hoà với tự nhiên. Là một cộng đồng dân cư sống dựa vào phương thức sản xuất lúa nước là chủ yếu, người Việt tận dụng tối đa đặc điểm môi trường tự nhiên để xây dựng đời sống văn hoá vật chất.

Văn hoá cây trồng thấm sâu vào từng thành tố văn hoá vật chất để người Việt nâng cái ăn, cái ở, cái mặc, cái phương tiện đi lại lên hàng văn hố: văn hóa ẩm thực, văn hố trang phục, văn hóa kiến trúc, văn hố giao thơng.

->> Cái đời thường đã trở thành triết lí mơi trường – triết lí sống thể hiện mối quan hệ giữa văn hố với mơi trường của người Việt Nam.

<i><b>* Cơ c Āu, mơ hình</b></i>

Xét về cơ cấu, mơ hình bữa ăn hằng ngày của người Việt gồm ba thành tố cơ bản: cơm, rau, cá. Đây là sự kết hợp của ba sắc thái văn hóa: văn hóa đồng bằng, văn hố núi và văn hố biển. Văn hóa đồng bằng ra đời sau nhưng lại định hình thành bản sắc văn hóa Việt bởi cơm khơng chỉ là thức ăn, cái ăn mà còn là bữa ăn của người Việt.

- Phân loại các nhóm thực phẩm trong ẩm thực Viê kt ❖ Thực vâ kt: gạo-rau quả- gia vị

cơ cấu bữa ăn nghiêng về văn hoá cây trồng mà quan trọng nhất chính là sản phẩm của cây lúa: hạt gạo.

Việt Nam thuộc một đất nước công nghiệp, chính vì vậy mà tại đây được xem là một trong những đất nước sản xuất gạo lớn nhất trên thế giới. ->>Đối với nét văn hoá ẩm thực

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

Việt Nam từ xưa thì gạo chính là ngun liệu chính khơng thể thiếu, được sử dụng trong những món ăn của người Việt.

Có hai loại: gạo nếp và gạo tẻ, nhưng người Việt không sử dụng gạo nếp trong bữa ăn thường nhật. Gạo nếp chỉ được sử dụng vào những dịp giỗ Tết để tạo nên sắc thái linh thiêng cho không gian tâm linh. Hương thơm của lúa nếp đã trở thành biểu tượng của nền văn minh đất Việt: “Quê hương ta lúa nếp thơm nồng – Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong – Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”.

Trong đời thường, người Việt dùng gạo tẻ, ngoài cơm, người Việt còn sử dụng củ mài và các thứ sản phẩm được gọi là lương thực như sắn, khoai, ngơ.

Cơm đã khơng cịn chỉ một thành tố trong bữa ăn mà chỉ chính bữa ăn của người Việt, người ta gọi đó là bữa cơm, nó có ý nghĩa mật thiết và sâu sắc tới mức người Việt coi “Cơm tẻ mẹ ruột”. Và khi người phụ nữ Việt Nam khiêm nhường tự nhận “Chàng ơi giận thiếp mà chỉ – Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lịng” thì hạt gạo, hạt cơm khơng chỉ bao chứa một lớp nghĩa đơn thuần là văn hóa sinh hoạt vật chất.

Cơm là sản phẩm từ gạo, cái hạt gạo đã làm nên vóc dáng và hình hài đất nước: “hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã dần sàng, đất nước có từ ngày đó”. Cái hạt gạo làm nên bát cơm là hạt ngọc của đất, là mồ hôi nước mắt của con người, là sự biến đổi kỳ diệu của lao động làm nên phẩm chất và giá trị văn hóa: “bàn tay ta làm nên tất cả - có sức người sỏi đá cũng thành cơm”.

“Cơm không rau như đau không thuốc”.

Thành phần thứ hai trong cơ cấu bữa ăn của người Việt là rau, đây là thức ăn không thể thiếu, bởi khơng chỉ giúp con người no bụng mà cịn tạo nên sự khỏe khoắn, lành mạnh Rau sắng, măng đắng và nhất là rau muống những thứ cây trồng được sử dụng quen thuộc tới mức trong nỗi nhớ của người con xa q chỉ cịn hình ảnh: “Anh đi anh nhớ quê nhà - Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương”.

Văn hóa thực vật thể hiện rõ đặc trưng của mình trong cơ cấu bữa ăn của người Việt khi cơm và rau đều là sản phẩm của cây trồng trên đất.

Cách ăn rau của người Việt cũng thể hiện sự lựa chọn riêng, nhưng đa phần người Việt rất thích ăn theo lối “canh tập tàng thì ngon”, ăn nhiều loại rau cùng một lúc.

Cách chế biến của người Việt nghiêng về rau luộc hoặc nấu canh, phù hợp với khí hậu nóng ẩm của Việt Nam. Mỗi một loài rau gắn với một vùng quê, với một mùa vụ nhưng nhìn chung trong cái ăn của người Việt để duy trì sự sống khơng thể khơng có rau xanh.

❖ Đơ kng vâ kt: thuỷ hải sản-thịt

Văn hóa biển và sơng nước có mặt trong cơ cấu bữa ăn của người Việt. Cá trong bữa ăn của người Việt không hẳn là cá, mà là các sản phẩm từ văn hóa sơng nước, văn hố biển.

Có thể đó là các nhuyễn thể, tơm, cua, mực, trai, hến, sị... nhưng cơ bản là cá nhỏ đánh bắt từ suối, ao, hồ. Từ cá người Việt đã tạo nên một sản phẩm làm nên nét độc đáo trong ẩm thực Việt Nam, đó chính là nước mắm. Từ biển các diêm dân sẽ làm nên hạt muối mặn mà để kết nối hai miền văn hóa núi cao và biển rộng thành sự hợp nhất hài hòa đầy triết lý: “tay bưng chén muối đĩa gừng - gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”.

❖ Đồ uống: rượu, nước chè, nước vối

Nói đến ẩm thực là nói đến hai thành tố riêng biệt: ẩm là uống, thực mới là đồ ăn.

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

Đồ uống của Việt Nam khá phong phú: bắt đầu từ những thứ đơn giản như là nước suối, nước giếng, nước vối đến những thứ đồ uống cao cấp vốn xưa kia xa lạ với đời sống của người Việt, nhưng ngày nay lại rất quen thuộc: cafe, cacao, sinh tố... Người Việt biết uống trà, uống rượu từ ngày xưa. Và cái thú uống trà, uống rượu của người Việt cũng lắm công phu, cũng thể hiện sự tinh tế trong quan niệm : “ Rượu ngon, bạn hiền nghìn chén thiếu – Người khơng tri kỷ nửa câu thừa”.

Tuy nhiên nền sản xuất kinh tế tiểu nông với những tảo tần, lam lũ của người nông dân đã khiến thú thưởng trà, ngắm trăng, làm thơ trở thành nghệ thuật tao nhã, thưởng thức cái đẹp của các nho sĩ, các tạo nhân mà không phổ biến sâu rộng trong đời sống bình dân. Cho nên uống trà, uống rượu nên chăng xem xét như nét riêng của phong tục – lối sống, mà không xem là đối tượng của văn hoá ẩm thực.

<b>2. Văn hố lối ăn ca ngưi Việt</b>

<i>2.1. Tính tổng hợp</i>

<b>+Tổng hợp nhiều ch Āt, nhiều vị: được tạo nên từ nhiều nguyên liệu bổ sung lẫn nhau để cho</b>

ta những món ăn có đủ: Đạm - béo - bột - khống, mà còn tạo nên những hương vị độc đáo như: Mặn - béo - chua - cay - ngọt lại có nhiều màu sắc bắt mắt.

Dù là bình dân, đơn giản như xơi ngơ, ốc nấu,… hay cầu kì như bánh chưng, nem rán hay - tất cả được tạo nên từ rất nhiều nguyên liệu. Các món xào, nấu, ninh, tần, hấp, nộm của ta bao giờ cũng có thịt, cá, rau, quả, củ, đậu, lạc.... rất ít khi chỉ có thịt khơng. Từng ấy thứ tổng hợp lại với nhau, bổ sung lẫn nhau để cho ta những món ăn có đủ mọi chất : chất đạm, chất béo, chất bột, chất khống, chất nước; nó khơng những có giá trị dinh dưỡng cao cịn tạo nên một hương vị vừa độc đáo ngon miệng, vừa nồng nàn khó quên của đủ ngũ vị :mặn -béo

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

-chua -cay -ngọt, lại vừa có cái đẹp hài hịa của đủ ngũ sắc: đen-đỏ-xanh-trắng-vàng. Ví như nem rán có vỏ bọc là bánh đa làm từ gạo với nhân gồm thịt hoặc tôm, cua, và rau độn là giá đỗ, su hào, đu đủ hoặc củ đậu thái nhỏ, cũng có thể là miến dong....Một món quà sáng bình dân như xơi ngơ khơng chỉ chứa gạo nếp, ngơ, đỗ, mà cịn được rắc muối lạc, rưới nước mỡ trộn hành phi mỡ; ở miền Nam nó được rắc thêm đường, cùi dừa.

<b>+Tính tổng hợp cịn thể hiện ngay trong cách ăn.</b>

Mâm cơm của người Việt Nam dọn ra bao giờ cũng có đồng thời nhiều món : cơm, canh, rau, dưa, cá thịt, xào, nấu, luộc, kho. ... Suốt bữa ăn là cả một quá trình tổng hợp các món ăn. Bất kì bát cơm nào, miếng cơm nào cũng đã là kết quả tổng hợp rồi : trong một miếng ăn đã có thể có đủ cả cơm- canh-rau-thịt. Điều này khác hẳn cách ăn lần lượt đưa ra từng món của người phương Tây - ăn hết món này mới đưa ra món tiếp theo.

<b>+Tính tổng hợp trong nghệ thuật chế biến: là sản phẩm của sự pha chế tổng hợp: Rau này</b>

với rau khác, rau với các loại gia vị, rau quả với cá tơm…

Việt Nam ảnh hưởng nhiều về văn hóa Trung Hoa, vì thế ảnh hưởng của ẩm thực Trung Quốc đến Việt Nam là khơng cịn xa lạ. Theo đó, triết lý Phật giáo được thể hiện rõ nét trong ẩm thực Việt Nam qua ngũ hành.

Ngũ hành trong âm dương được liên tưởng đến 5 hương vị cơ bản cay (kim), chua (mộc), mặn (thủy), ngọt (thổ) và đắng (hỏa) để tạo nên sự đặc sắc. Và mỗi món ăn trong ẩm thực Việt Nam phải hòa quyện giữa các yếu tố đó. ->> Chính vậy, đó là lý do vì sao hầu hết

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

các món ăn Việt Nam đều có kết cấu tương phản nhau.

Với sự hòa quyện tinh tế của các loại rau thơm, rau tươi, thịt và cách sử dụng gia vị có chọn lọc, món ăn Việt Nam khơng những khơng giống bất kỳ món ăn nào ở Đơng Nam Á mà còn được coi là một trong những nền ẩm thực lành mạnh nhất trên thế giới.

Sự cân bằng này có nghĩa là hầu hết các món ăn truyền thống của Việt Nam sử dụng nhiều loại thảo mộc và gia vị để mang lại hương vị khác biệt cho các thành phần chính của món ăn.

-> Ăn uống của người Việt Nam mang tính hài hịa âm dương: người Việt tuân thủ nghiêm ngặt luật âm dương để chế biến thức ăn trong bữa ăn của mình. Chẳng hạn, gừng (tính dương) đi kèm với (tính âm) như bí đao, rau cải, cải bắp,.. Hay rau răm đi với trứng vịt lộn...Như vậy, cơ cấu bữa ăn của người Việt Nam thiên về thực vật, ít mỡ, ngon miệng, bổ dưỡng, hài hịa âm dương.

<i>2.2. Tính cộng đồng</i>

Người Việt đặc biệt coi trọng tính cộng đồng trong văn hố lối ăn mà biểu hiện trước tiên là ở quan niệm của người Việt về bữa ăn. Bữa ăn có ý nghĩa thiêng liêng đối với người Việt, nên người ta có ý thức rất rõ về việc tập hợp đầy đủ các thành viên, đợi chờ nhau cho đến khi tất cả mọi người đều quây quần thì bữa ăn mới bắt đầu.

+ Người Việt thích ăn chung: Bữa ăn là sự sum họp, vừa ăn vừa truyện trò trao đổi, chia sẻ cho nhau những tâm tư tình cảm. Trong bữa ăn, con cháu sẽ có cơ hội bày tỏ lịng hiếu thảo với ơng bà cha mẹ, người lớn bày tỏ sự quan tâm với trẻ thơ bằng cách gắp cho nhau những miếng ngon, chan chứa vị ngọt lành.

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

->Bữa ăn chứa đựng tình nghĩa: Tình nghĩa giữa những người đang sống với nhau, giữa những người đang sống với người đã khuất. Khi đó, người sống vẫn mời cơm người đã khuất cứ như một sự chia sẻ.

-> Trong bữa ăn mỗi người đều cố tạo dựng một khơng khí đầm ấm, người ta quan tâm chăm sóc cho nhau từng miếng ăn, từng lời nói cử chỉ, người ta tránh nhất là sự tranh cãi đụng độ trong bữa ăn.

<b>+Tính cộng đồng chi phối cả cách tổ chức ba ăn, cả trong sự lựa chọn khơnggian ba ăn, trong văn hố lối ăn.</b>

Các món ăn khác thì có thể có người ăn, người khơng, cịn cơm và nước mắm thì ai cũng ăn và ai cũng chấm. Vì ai cũng dùng, cho nên chúng trở thành thước đo sự ý tứ, sự dạy dỗ, gia phong của con người trong việc ăn uống. Bát nước chấm của người Việt là trung tâm đồn kết, nó được đặt ở giữa mâm cơm tạo nên sắc màu và hương vị đậm đà trong bữa cơm gia đình. Nhiều món ăn rất đơn giản thậm chí nhạt nhẽo lại trở thành hấp dẫn là nhờ ở bát nước chấm được pha chế khéo léo.

Khi lấy cơm, nên lấy vừa phải “lưng bát”, bát cơm lấy xong phải gọn, đẹp khơng toe tt, khơng dính cơm vào miệng hay bên ngoài bát. Nồi cơm sau khi xới cũng thể hiện sự trách nhiệm với người sau: nồi cơm phải được đánh tơi, đánh bông cơm, lấy vào bát xong phải xới gọn lại không để cơm trong nồi vón thành mảng, thành cục, hơn thế nữa không bao

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

giờ vét sạch nồi cơm khi người khác còn ăn.

Với bát nước chấm, thường được để giữa mâm hoặc gần món ăn dùng loại nước chấm đó để mọi người chấm chung. Khi chấm phải gọn, sạch, không rơi rớt và phải dùng bát ăn để đón đỡ phía dưới, sau đó đặt nhẹ thức ăn vào bát của mình, tuyệt đối khơng gắp thức ăn, chấm thức ăn xong đưa thẳng vào miệng.

<b>+Tính cộng đồng thể hiện ở cách sắp xếp vị trí, chỗ ngồi cho các thành viên tronggia đình. Một điều tưởng đơn giản nhưng lại thể hiện rất rõ sự cộng cảm, cộng đồng và lối</b>

ứng xử tinh tế của người Việt.

Các thành viên thường ngồi theo thứ bậc nhưng khi có khách thì lịng hiếu khách của người Việt sẽ thể hiện rõ: chủ nhà và khách sẽ ngồi gần cửa sổ hoặc ngồi ở phòng khách, phụ nữ và trẻ em ngồi mâm riêng. Cịn ngày thường thì vị trí chỗ ngồi khơng quy định rõ mà mang tính dân chủ bình đẳng bởi mâm cơm của người Việt thường là mâm tròn, ngồi trên chiếu hoặc ngồi ở hiên nhà, tương thơng với thiên nhiên thống đãng.

Vào bữa người phụ nữ (người mẹ, người chị hay cô con dâu...) sẽ là người ngồi bên cạnh nồi để lấy cơm cho mọi người. Trước khi ăn người Việt truyền thống đều đợi người lớn ra ý cho phép và người dưới phải mời người trên xong tất cả mới cầm bát cơm lên.

-> Đây không phải là thứ luật tục mang ý nghĩa coi thường phụ nữ mà là phẩm chất hy sinh bao dung của người mẹ trong gia đình, lấy hạnh phúc của chồng của con làm thước đo cho hạnh phúc chính mình.

<b>+Tính cộng đồng cịn thể hiện trong việc chế biến các món ăn một cách tổng hợp.</b>

Người Việt thường ít khi ăn một món đơn nhất mà thường ăn các món cùng nhau. Cách bài trí món ăn ra đĩa cũng phải ngon mắt rồi mới tới ngon miệng. Các gia vị đi kèm món ăn cũng làm nên nét độc đáo cho ẩm thực Việt Nam. Hành tím, tỏi cần thiết với các món thịt và rau xanh. Khi dùng, sẽ thái hành ra từng lát mỏng, còn tỏi phải giã hoặc đập dập dùng tẩm ướp nguyên liệu trong giai đoạn sơ chế hoặc xào nấu. Hành lá khiến món ăn dậy mùi. Riềng và sả giúp giò heo ngon, thịt hon bắt mắt, kích thích vị giác. Các món từ đặc sản đến bình dân, truyền thống hay hiện đại của người Việt không thể thiếu gia vị đi kèm. Nghệ thuật sử dụng gia vị còn tạo nét chấm phá ấn tượng trong văn hóa ẩm thực vùng miền.

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

<i>2.3. Tính biện chứng linh hoạt</i>

<b>+ Đặc sắc trong văn hoá ẩm thực ca ngưi Việt thể hiện rõ qua tính năng động,linh hoạt ca ngưi Việt khi sử dụng các nguyên liệu và các dụng cụ để chế biến, bàybiện ba ăn.</b>

Cơ cấu bữa ăn truyền thống là cơm rau cá, nhưng không phải lúc nào trong mâm cơm cũng bắt buộc có đủ 3 thành phần này.

Cơm có thể được thay thế bằng ngơ khoai sắn, rau có thể được thay thế bằng củ quả, cá cũng có thể được thay thế bằng các sản phẩm khác. Người ta có thể ăn cơm, có thể thay bữa cơm bằng cháo, bún, bánh, phở... Trong lĩnh vực này, tài trí của người Việt Nam thể hiện rất linh hoạt.

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

Nói đến ẩm thực Việt Nam phải nhắc đến phở, bún, hủ tiếu. Đây là những món ăn được chế biến từ gạo gắn bó lâu đời với người Việt. Chỉ từ nguyên liệu cơ bản là gạo, ông bà xưa đã tạo ra nhiều loại sợi gạo với hình dáng, kích thước và mùi vị khác nhau với đặc trưng không thể nhầm lẫn. Từng loại sợi gạo lại được người dân địa phương kết hợp với các loại thành phần, nước dùng và gia vị khác nhau, tạo nên những biến tấu thú vị của loại thực phẩm này. Mỗi miếng ăn ngon đều nhắc nhở con người phải biết học hỏi, khám phá và sáng tạo, bởi không chỉ biết thưởng thức mà còn phải biết đánh giá đúng cái ngon cái lạ cái hấp dẫn của món ăn, biết cách thức chế biến và ý nghĩa văn hoá trong nghệ thuật thưởng thức ấy.

<b>+ Tính linh hoạt được thể hiện trong dụng cụ ăn, ngưi Việt Nam truyền thốngchỉ dùng một thứ dụng cụ là đôi đũa - vừa được sử dụng để xào n Āu vừa gắp thức ăn.</b>

Trong khi người phương Tây phải dùng một bộ đồ ăn gồm dao, thìa, dĩa, mỗi dụng cụ có một chức năng riêng. Đôi đũa được sử dụng với nhiều chức năng khác nhau: xào, nấu, Gắp, xé,... trong bữa ăn.

Văn học dân gian Việt Nam còn lưu lại nhiều câu khá thú vị về hình tượng đơi đũa phản ánh chiều sâu của triết lý nhân sinh. Trong suy nghĩ, nói năng, hành xử thì cần phải rành mạch, thẳng thắn cho “ra đầu ra đũa”, “đến đầu đến đũa”. Trong đối nhân xử thế, nhìn nhận sự việc, đánh giá con người không được hồ đồ “vơ đũa cả nắm”.

-> Đơi đũa là nét đẹp trong văn hóa của người Việt, nó khơng chỉ có mặt trong ẩm

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

thực đời thường, nó có mặt trong đời sống tâm linh. Khi người thân ra đi, bát cơm cúng không thể thiếu đôi đũa cắm thẳng để kết nối âm dương. Trên bàn thờ Tổ tiên, đôi đũa cũng có mặt như một sự thành kính, thành tâm của con cháu. Sử dụng đôi đũa là cả một nghệ thuật, tinh tế và sâu sắc. Chỉ nhìn cách một người sử dụng đôi đũa trong giao tiếp, người ta có thể đốn định được trình độ văn hóa của người ấy, khơng phải ở phương diện học thức mà là nhận thức và ứng xử.

<b>+Trong c Āu trúc ẩm thực Việt Nam tồn tại hai dạng thức, đó là ẩm thực cungđình vốn dành cho bậc vua chúa và ẩm thực bình dân dành cho ngưi lao động.</b>

Ngày xưa, ẩm thực cung đình của các bâ kc Vua chúa Viê kt Nam đều hướng đến những món ăn hiếm hoi, khó kiếm được gọi là cao lương m‚ vị hay sơn hào hải vị: bào ngư, hải sâm, da tê, yến sào,...

Mă kc dù, Cái tài của người Việt trong ẩm thực cung đình rất đáng được ghi nhận, nhưng ẩm thực cung đình khơng đại diện cho ẩm thực Việt Nam, mà tinh hoa của ẩm thực Việt Nam được thể hiện chính là ở ẩm thực bình dân. Chính ẩm thực bình dân mới có sự kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại, giữa cao sang và bình dị, giữa sự cầu kì và giản đơn. Có những món ăn bình dân đã trở thành đặc sản của văn hoá vùng miền, được dâng lên cung vua phủ chúa cũng trở thành cao lương mĩ vị. Và ngược lại ở chốn làng quê xưa, bữa ăn của người Việt không phải lúc nào cũng thanh đạm. Vào dịp giỗ Tết hay lễ hội, người Việt cũng tự thưởng cho mình những mâm cỗ vừa giàu giá trị dinh dưỡng, vừa thể hiện hết cái tài hoa, cái khéo léo trong cách chế biến và trình bày một bữa ăn.

<b>=>> Nhng chuẩn mực trong ẩm thực Việt</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

<i>3. Vai trò của văn hóa ẩm thực truyền thống </i>

Văn hóa ẩm thực truyền thống ở Việt Nam có vai trị rất quan trọng và đóng góp tích cực vào cuộc sống của người dân Việt Nam từ nhiều khía cạnh khác nhau:

1. Đóng vai trị quan trọng trong đời sống vật chất của người dân Việt Nam: Ẩm thực là nhu cầu thiết yếu của con người, vì vậy, đóng vai trò quan trọng trong đời sống vật chất của người dân Việt Nam. Những món ăn truyền thống như phở, bánh chưng, bánh tét, nem rán, bún chả, cơm tấm, món xơi, etc. đều được xem là những thức ăn cơ bản, đơn giản và phong phú, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng và cung cấp năng lượng cho người dân.

2. Giữ gìn và truyền lại giá trị văn hóa của đất nước: Ẩm thực Việt Nam là một phần không thể thiếu của văn hóa Việt Nam, góp phần giữ gìn và truyền lại giá trị văn hóa của đất nước đến các thế hệ sau. Qua các món ăn truyền thống, ta có thể tìm hiểu được về lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng và tâm linh của người Việt Nam.

3. Tạo nên sự đa dạng và phong phú trong ẩm thực Việt Nam: Với nhiều dân tộc, miền đất khác nhau, ẩm thực Việt Nam đã tạo ra sự đa dạng và phong phú trong cách chế biến và cách sử dụng các nguyên liệu. Những món ăn truyền thống được tạo ra từ các nguyên liệu tự nhiên như gạo, bắp, đậu, thịt, cá, rau củ, trái cây, etc. được kết hợp một cách sáng tạo để tạo ra những món ăn đậm chất văn hóa Việt Nam.

4. Góp phần thúc đẩy ngành du lịch Việt Nam: Văn hóa ẩm thực truyền thống Việt Nam cũng góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy ngành du lịch của đất nước. Những món ăn đặc trưng như phở, bún chả, bánh xèo, bánh mì, etc. đã trở thành những đặc sản được khách du lịch u thích.

<b>KẾT LUẬN</b>

<b>II. Văn hóa trang phục</b>

<b>1. Quan niệm về trang phục (Phạm Hiền)</b>

<b>Khái niệm: Trang phục là khái niệm chỉ các loại đồ mặc như áo quần, đồ đội như mũ</b>

khăn nón, đồ đi như giày dép guốc, những trang phục phụ như khăn quàng, thắt lưng cùng với các đồ trang sức.

<b>Chức năng: Nhằm bảo vệ thân thể con người và để làm đẹp cho con ngườiĐặc điểm: Trang phục của từng dân tộc, từng quốc gia hình thành và phát triển gắn</b>

bó với những đặc điểm lịch sử, đặc điểm kinh tế, địa lý, phong tục tập qn, tín ngưỡng tơn giáo,... mà dân tộc đó, quốc gia đó chịu sự chi phối

Quan niệm của con người về chức năng của trang phục:.

- Ban đầu trang phục chỉ đơn thuần giúp con người ứng phó được với cái nóng, rét, mưa, gió. Vì vậy quan niệm về mặc của Việt Nam trước hết là một quan niệm rất thiết thực:

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

<i>Ăn lấy chắc, mặc lấy bền;</i>

<i>Cơm ba bát, áo ba mạnh, đói khơng xanh, rét khơng chết</i>

- Giai đoạn tiếp đến, mặc khơng chỉ để ứng phó với mơi trường mà cịn có ý nghĩa xã hội quan trọng, vì vậy con người quan niệm trang phục đóng vai trị thẩm m‚ Được<b>.</b>

thực hiện với mục đích trang điểm, làm đẹp con người: Khắc phục những nhược điểm về cơ thể, tuổi tác:

<i>Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân, chân tốt về hài, tai tốt về hoa; Cau già khéo bổ thì non; Nạ dịng trang điểm lại giòn như xưa</i>

- Trang phục trong quan niệm con người cịn thể hiện trình độ nhận thức trong văn hố ứng xử, biểu tượng của văn hoá dân tộc

<i><b>Trong lời hiệu triệu tướng sĩ đánh quân Thanh, Quang Trung viết: Đánh cho để tóc</b></i>

<i>dài, đánh cho để răng đen,... (tức khẳng định những nét văn hóa trang phục, chủ</i>

quyền dân tộc, thể hiện niềm tự hào, cương quyết bảo vệ dân tộc)

Hình ảnh Áo dài hay những chiếc áo mang quốc kỳ Việt Nam trong các hội nghị quốc tế, đàm phán ngoại giao, cuộc thi quốc tế luôn là niềm tự hào, tự tôn dân tộc khi đất nước ta đang trên đà phát triển, hội nhập quốc tế

<b>Quan niệm về các loại hình trang phục:● Trang phục truyền thống:</b>

- Triều phục trong xã hội phong kiến trước đây:

Triều phục hoàng gia là trang phục Hoàng tộc mặc trong những dịp quan trọng hoặc khi thiết triều

+ Trang phục của vua có mũ miện, áo long cổn, xiêm, đai, hia, hốt… (thời Nguyễn)

Ý nghĩa của triều phục:

Trang phục này là nghệ thuật mặc, nghệ thuật may mặc, phong cách mặc mang đặc trưng nổi bật của triều đại.

● Giá trị lịch sử: Giá trị về niên đại, hồng phục thể hiện sự hiếm có của di sản còn lại qua thời gian, thể hiện sự tiêu biểu của hiện vật với một giai đoạn lịch sử, cơng trình hay khơng gian là chứng tích cho những sự kiện lịch sử

● Giá trị truyền thống: tri thức về bản sắc trên trang phục rất đáng để các thế hệ sau học tập.

● Giá trị kế thừa, chuyển tiếp trong bối cảnh đương đại. Giá trị này nếu nhìn về thời gian (coi là gốc) của di sản thì nó chưa hình thành, mà được hình thành dần cho đến ngày hôm nay

Thời xưa trang phục quan lại thường được phân loại theo cách cắt của cổ áo thành ba dạng:

<b>đối lĩnh (tức giao lĩnh) vua, quan mặc trong các lễ tế.</b>

<b>trực lĩnh Lễ phục trực lĩnh trong cung thời nguyễn dành riêng cho các bà và gọi là áo</b>

mệnh phụ

<b>bàn lĩnh. phổ thông nhất</b>

</div>

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×