Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (64.13 MB, 121 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
HÀ NỘI —- NĂM 2017
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><small>Mã sô : 60380107</small>
HÀ NỘI —- NAM 2017
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3"><small>Các kêt quả nêu trong Luận văn chưa được cơng bơ trong bât kỳ cơng trình nàokhác. Các sơ liệu trong luận văn là trung thực, có ngn gơc rõ ràng, được trích dânđúng theo quy định.</small>
<small>Tơi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.</small>
<small>Tác giả luận văn</small>
<small>Phạm Trung Hiếu</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4"><small>thân, tôi đã nhận được rất nhiễu sự giúp đð, động viên và hướng dan của các thaycô giáo, gia đình và bạn bè trong suốt khóa học cũng như thời gian nghiên cứu đề</small>
<small>tài luận văn.</small>
<small>Với lịng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thànhđến Tiến sĩ Nguyễn Quý Trọng — Người đã tận tình hướng dan, chỉ bảo và giúp aotơi trong suốt q trình thực hiện và nghiên cứu Luận văn của mình.</small>
<small>Dong thời, tơi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu,toàn thé quỷ thay cơ, cán bộ trong Phịng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa Phápluật Kinh tế và cán bộ Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo mọi điễu kiệnthuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hồn thành Luận văn</small>
<small>Thạc sĩ.</small>
<small>Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệpđã ln bên cạnh động viên và giúp đỡ tơi trong q trình học tập và thực hiện đề</small>
<small>tài nghiên cứu của mình.</small>
<small>Ci cùng, tơi xin chân thành cam ơn các thay cô trong hội đơng cham</small>
<small>luận văn đã cho tơi những đóng góp q báu để hoàn thiện luận văn này.</small>
<small>Hà Nội, ngày 06 tháng 08 năm 2017Túc giả</small>
<small>Phạm Trung Hiễu</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">2. Tình hình nghiên cứu đề tài ...- - «6 k5 E£Ek‡EEEEEEEEEEEEEEEEEEEkrkerkerrrkd 2 3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn ...--- 4
<small>4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn ...- - - -- c5 3+ Sc 1132 ssseereeseerresse 55. Phuong pháp luận và phương pháp nghiên cứu cua luận van ... 5</small>
6.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn ...---- - 2 25s+s+£z£z£szszx+ 6 7. Bố cục của luận văn... + tt SE SESESEEEEEEEEEEE1511151515111111111122 2E. xeE 6 Chương 1. NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE RỦI RO PHÁP LÝ VÀ PHÁP LUẬT VE RỦI RO PHÁP LÝ TRONG TO CHỨC, QUAN LÝ CÔNG TY CO PHẢN...-2°s<©+sst+rkeEEEkeEEksttrkertrkserrrkserrred 8
1.1. Khái quát về rủi ro pháp lý trong tổ chức, quan lý công ty cỗ phần... 8 1.1.1. Nhận diện tổ chức, quan lý công ty cổ phần... - 2s ++s+zx+xe+x4 8 1.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của công ty cổ phân ...-- 2-5 2+c+cs+c+s2 8 1.1.1.2. Tổ chức, quản ly công ty cỗ phầhn...-- ¿2-52 52+ +£x+EzEerzrered 11 1.1.2. Khái niệm va đặc điểm rủi ro pháp lý trong tổ chức, quan lý công ty cỗ phầhn...---¿- 5< St+k9 1215 1E112151121111111111111111111 1111111111111 11111111111 xe 17
1.1.2.1. Khái niệm rủi ro pháp lý trong công ty cỗ phần...--- - s52 17 1.1.2.2. Đặc điểm của rủi ro pháp ly trong tổ chức, quản ly công ty cỗ phan 21 1.2. Vai trò của việc nghiên cứu van đề rủi ro pháp lý đối với tổ chức, quản lý công ty CO phầhn...---¿- 5s SkEE E91 111E111191111111111111111111111111 111111 xe. Bà,
1.3. Sự tương đồng và khác biệt giữa rủi ro pháp ly trong công ty cỗ phan với
<small>các loại rủi rO khắc ...--- 231111 11111111EE955335 1111111115555 5111 re 23</small> 1.4. Pháp luật của một số quốc gia về rủi ro pháp lý trong tô chức, quan lý công ty cô phan và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam...-- - 2-52 25
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">quản lý công ty cổ phần...-¿- ¿St kSk+E£EkEEE+EEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEkrkerkekrrkd 28 1.5.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về rủi ro pháp lý trong tổ chức, quản lý công ty CO phầhn...---¿- 5t k£Ek+ESEEEEESEEEEEEEEEEE1111111111111111111 1111111 Te. 29 Chương 2. THUC TRẠNG PHÁP LUẬT VE RỦI RO PHAP LÝ
TRONG TO CHỨC, QUAN LY CÔNG TY CO PHAN Ở VIỆT NAM.32 2.1. Những quy định về rủi ro pháp lý trong tô chức, quan ly công ty cổ phan
<small>KG Si XöSEC 1.908, 4g SS RRS SS SES REN MM. TRA A AN ch Pr Ba</small>
2.1.1. Rui ro pháp lý trong việc gia nhập thị trường của công ty cô phan... 32 2.1.1.1. Về việc đăng ký thành lập doanh nghiệp...--- 2 2 2+2 sz£ 32 2.1.1.2. Về ngành nghề kinh doanh... - 2 + 2 +k+EE+E£EE+Ee£keEzEerxexerkd 36 2.1.2. Rui ro pháp lý trong quá trình hoạt động của công ty cô phần... 39 2.1.2.1. Rủi ro VỀ VỐN...--5:c 22 2221222112212 221.2... red 39 2.1.2.2. Về người đại diện theo pháp luật ...-- ¿2 2s s+xetxeEzkerxzrered 44 2.1.2.3. Rủi ro trong việc ra quyết định, ký kết hợp đồng có nguy cơ phát sinh
<small>mãi... 45</small>
2.1.2.4. Về cơ chế giám sát hoạt động quản lý, điều hành trong công ty... 61 2.1.3. Rui ro pháp lý trong việc rút lui khỏi thị trường của công ty cô phan . 62 2.1.3.1. Về việc tổ chức lại công ty...--- ¿+ 2 +s+Ek+Ee 2 EEEEEEEEEEEEEerkerrrkd 62 2.1.3.2. Giải thé công £y...--c- St 1T 1 11 11111111011110111111 1111111111111 Ekrrk. 63 2.2. Thực tiễn áp dụng rủi ro pháp lý trong tổ chức, quản ly công ty cô phần ở <small>eM NU, MỆT THẾ]! crs wrens cst sc JAN A AR A 66</small>
2.2.1. Những kết qua dat đưỢC...-¿-- 2-5 tk 2E E111 eErkd 66 2.2.3. Nguyên nhân của những bắt cập, hạn chế trong trong rủi ro pháp lý của
<small>công ty cô phân ... - - --- -- c 12 1121111111119 11 1 11 1 111 0111 E11 HH vn re 85</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">CAC RUI RO PHAP LY TRONG TO CHUC, QUAN LY CONG TY CO 3.1. Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả của việc thực hiện pháp luật nhằm giảm thiểu các rủi ro pháp lý trong tổ chức, quan lý công ty cổ phân... 87 3.2. Một số kiến nghị nhằm giảm thiểu rủi ro pháp ly trong tổ chức, quan lý công ty CO phầhn...--¿- 5s +kESEk+E9EE1115112191111111111111111111111111 1111k. 88 3.2.1. Các giải pháp về phương diện lập pháp...--- - 2 2 s+z++szzx+xezxd 88 3.2.2. Các giải pháp về phương diện thực thi pháp luật ...--- 93 9800000777 ... 100
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Với ban chất là công ty đối vốn và là công ty mở, công ty cô phần được xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến ngày nay của loài người dé huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển'. Công ty cô phan đã trở thành hình thức tơ chức doanh nghiệp mang tính quyết định nhằm giải quyết nhu cầu về vốn cho nền kinh tế, là hình thức huy động vốn trên quy mô lớn một cách hiệu quả nhất.
Xuất phát từ những ưu điểm liên quan đến sự linh hoạt về việc huy động, chuyển nhượng vốn; sự phong phú về cô đông và tư cách pháp lý, theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong năm loại hình doanh
<small>nghiệp được thừa nhận tại Việt Nam theo quy định của Luật Doanh nghiệp thì</small>
cơng ty cổ phần là một trong ba loại hình doanh nghiệp được đăng ký thành lập nhiều nhất (sau Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty
<small>trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên). Vì lí do này mà ngay từ LuậtCơng ty năm 1990, Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm2005 và hiện nay là Luật Doanh nghiệp năm 2014 đang có hiệu lực thi hành</small>
đều đưa ra rất nhiều các quy định chi tiết, cụ thé về cơ cau tô chức, quản lý và điều hành trong loại hình doanh nghiệp này. Điều này đảm bảo cho các công ty cô phan có một hành lang pháp lý tương đối vững chắc dé hoạt động và han chế được những rủi ro pháp lý có thể xảy đến với cơng ty. Tuy nhiên, do đặc điểm của trình độ lập pháp ở nước ta còn một số hạn chế nhất định, vì vậy các quy định của pháp luật nhiều khi cịn chưa theo kịp hoặc thậm chí vượt xa với <small>! Nguyễn Ngọc Bich (2003), Luật Doanh nghiệp, vốn và quản lý trong công ty cổ phần, Nxb Trẻ, tr.18.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">định của pháp luật doanh nghiệp từ giai đoạn thành lập, đến hoạt động thậm chí cả khi cham dứt hoạt động của công ty.
Đề hạn chế tinh trạng này thì khung pháp lý về cơng ty cơ phan địi hỏi cần có sự hồn thiện ở mức độ cao dé điều chỉnh có hiệu quả quá trình hoạt
động của cơng ty cổ phan. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật
Doanh nghiệp năm 2014 điều chỉnh về tổ chức, quan lý công ty cô phan đang tồn tại nhiều vướng mắc bất cập mang tới những rủi ro pháp lý cho quá trình
<small>thành lập, hoạt động của công ty.</small>
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả nhận thấy cần thiết phải nghiên cứu làm rõ và đề xuất một số hướng giải quyết để khắc phục, hạn chế và nâng cao hiệu quả của cơng tác phịng, chống rủi ro pháp lý đối với loại hình cơng ty đối vốn điển hình này. Do vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “Rui ro pháp lý trong tô chức, quản lý công ty cỗ phan theo Luật Doanh nghiệp năm 2014” dé làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cơng ty cổ phan là một loại hình doanh nghiệp phố biến ở trên thé giới
<small>và chính thức được thừa nhận trong các quy định của pháp luật doanh nghiệp</small>
Việt Nam từ rất sớm. Công ty cổ phần luôn thu hút được sự quan tâm của các nha nghiên cứu kinh tế cũng như luật học bởi những đặc điểm, sự hình thành, vận động, phát triển và chấm dứt hoạt động của mình. Các cơng trình nghiên cứu được thê hiện ở những phạm vi rộng và hẹp về phạm vi, đối tượng nghiên cứu và quy mơ khác nhau, bao gồm các cơng trình sách, luận án tiến sĩ, luận
<small>văn thạc sĩ, các bài báo, bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành</small>
như: các cuốn sách của tác giả Nguyễn Ngọc Bích (2003), Luật Doanh nghiệp
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">một cách khái qt về lịch sử hình thành, vị trí, vai trị, đặc điểm của công ty cô phan trên thế giới cũng như ở Việt Nam; phân tích mơ hình tổ chức, quản
<small>lý của loại hình doanh nghiệp này trong Luật công ty năm 1990, Luật Doanh</small>
nghiệp năm 1999 và Luật Doanh nghiệp năm 2005...; Luận án tiến sĩ của tác gia Trần Ngọc Liêm (2002), Hoàn thiện pháp luật về các loại hình cơng ty trong nên kinh tế thị trường ở Việt Nam; Nguyễn Minh Hang (2010), Pháp luật về chào bản cô phan của công ty cô phan ở Việt Nam những van dé lý luận và thực tiên... Các luận văn thạc sĩ luật học tại Trường Đại học Luật Hà Nội của các tác giả Bùi Minh Nguyệt (2010), Bảo vệ quyển lợi của cổ đông trong công ty cổ phan theo pháp luật Việt Nam — Những van dé lý luận và thực tiên; Lưu Thi Dung (2015), Tổ chức quản lý nội bộ công ty cổ phan theo Luật Doanh nghiệp năm 2014; Đỗ Kỳ Anh (2016), Các hình thức huy động vốn của công ty cổ phần ở Việt Nam theo Luật Doanh nghiệp năm 2014...
Các cơng trình luận án, luận văn này chứa đựng rất nhiều thông tin cũng như nhận định rõ nét về các vẫn đề liên quan đến quá trình thành lập, phát triển và cham dứt hoạt động của công ty cô phần hoặc chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu chung về tất cả các loại công ty hoặc ngược lại có một số cơng trình lại chỉ nghiên cứu ở một khía cạnh nhỏ về vẫn đề huy động vốn hay về vấn đề tổ chức quản trị cơng ty... Bên cạnh đó, trên các tạp chí chuyên ngành cũng đã đăng một số bài viết của nhiều nhà nghiên cứu về các quy định của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam cũng như một số quốc gia trên thế giới về công ty cô phan. Trong đó có thể kể đến bài viết của các tác giả Nguyễn Thị Lan Hương “Một số so sánh về Công ty cô phần theo Luật công ty Nhật Bản và Luật Doanh nghiệp Việt Nam”, Tap chí Luật học, số 25, năm 2009; Lê Thi
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">hồn thiện, Tap chí Nhà nước và Pháp luật, số 12, năm 2013; Trần Ngọc Dũng, Hoàn thiện quy định về cơ chế giám sát hoạt động quản lý, điều hành trong công ty cô phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5, năm 2016 và rất nhiều các bài báo, bài tạp chí liên quan đến đề tài cơng ty cổ phần trên các báo mạng khác.
Do hoàn cảnh kinh tế, xã hội đất nước có sự thay đơi mà một số các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 khơng cịn phù hợp với thực tế. Bởi vậy, ngày 26/11/2014 Quốc hội khóa 13 đã chính thức thơng qua Luật Doanh nghiệp năm 2014 thay thế cho Luật Doanh nghiệp năm 2005. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 có khá nhiều các điều luật mới sửa đổi, bổ sung, ban hành mới về việc thành lập, tô chức, quản lý và chấm dứt hoạt động của công ty cô phần. Ké từ khi Luật mới được ban hành, đã có khá nhiều các cơng trình, bài viết nghiên cứu về đề tài này. Tuy nhiên, qua kiểm tra tác giả nhận thay hiện nay chưa có một cơng trình nào nghiên cứu về van đề rủi ro pháp lý có thé xảy đến với cơng ty cơ phan trong q trình tơ chức, quan lý cơng ty. Bởi vậy, người viết lựa chon dé tài này để nghiên cứu với mong muốn bù đắp các thiếu hụt về mặt lý luận cho công ty cổ phan hoạt động và phát triển.
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vỉ nghiên cứu của luận văn 3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật, trong đó tập trung chủ yếu là các quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 về việc rủi ro trong tô chức, quan lý công ty cổ phan và thực trạng áp dụng các quy định trong thực tiễn. Đồng thời, việc nghiên cứu các rủi ro pháp lý trong tổ
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">Rui ro trong công ty cổ phan là một vấn dé rất phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, pháp lý , xã hội...Tuy nhiên, trong phạm vi Luận văn Thạc sĩ Luật học, học viên chỉ đề cập đến vấn đề rủi ro pháp lý trong tổ chức, quản lý công ty cổ phần được quy định trong Luật
<small>Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản pháp luật liên quan như Bộ luật Dânsự năm 2015, Luật Chứng khoán, Luật Thương mại từ giai đoạn bước chân</small>
vào thị trường cho tới việc tô chức hoạt động của doanh nghiệp và cuối cùng là giai đoạn chấm dứt hoạt động của công ty.
<small>4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn</small>
Luận văn đặt ra mục tiêu nghiên cứu nhằm: Làm rõ các van dé lý luận rủi ro pháp lý và rủi ro pháp lý trong việc tổ chức, quản lý công ty cổ phan
<small>theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014; Phân tích, đánh giá thực</small>
trạng áp dụng, xác định các ưu điểm, hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những bat cập, hạn chế đó trong rủi ro pháp lý trong tổ chức, quan lý công ty
cô phan. Trên cơ sở các phân tích đó, Luận van nhận diện được những u
cầu và các giải pháp cụ thé, thiết thực dé nâng cao hiệu quả công tác thực thi pháp luật nhằm hạn chế rủi ro pháp lý trong tô chức, quan ly của CTCP.
<small>5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn</small>
<small>Luận van sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư</small>
tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết các nội dung đặt ra trong luận văn. Phương pháp chính được sử dụng xuyên suốt nội dung luận văn là phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê và luật học so sánh. Bên cạnh đó dé giải quyết van dé
<small>nghiên cứu, tac giả còn sử dụng phương pháp logic tại Chương 1; phương</small>
pháp liên hệ thực tế, thống kê và so sánh để nêu rõ các nội dung ở Chương 2;
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">chức, quản lý cơng ty cơ phần tại Chương 3 nói riêng. 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Luận văn nghiên cứu làm rõ một số van dé lý luận về rủi ro pháp lý và rủi ro pháp lý trong tô chức, quan lý công ty cổ phan. Trong đó, nổi bật là việc xây dựng khái niệm, nêu rõ các đặc điểm pháp lý của rủi ro pháp lý trong tô chức, quản lý công ty cô phần; nội dung cơ bản của pháp luật về rủi ro pháp lý trong tổ chức, quản lý cơng ty cổ phan.
- Luận văn đã phân tích, đánh giá ưu điểm, nhược điểm trong các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về tô chức, quản ly cơng ty cơ phan. Từ đó, chỉ ra những rủi ro pháp lý mà công ty phải đối mặt theo ba giai đoạn
<small>là trong quá trình gia nhập thị trường, trong quá trình hoạt động và trong việc</small>
rút lui khỏi thị trường. Đồng thời, đánh giá những kết quả đã đạt được cũng như những mặt tồn tại, hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện Luật Doanh nghiệp năm 2014 về rủi ro pháp ly trong công ty cổ phan.
Trên cơ sở đó chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế, bat cập đó; chỉ ra những yêu cầu và kiến nghị có giá trị tham khảo nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về rủi ro pháp ly trong tổ chức, quan lý công ty cỗ phan.
7. BO cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
<small>văn được chia được 3 chương như sau:</small>
Chương 1. Những van dé lý luận về rủi ro pháp lý và pháp luật về rủi ro pháp lý trong tổ chức, quản lý công ty cổ phan.
Chương 2. Thực trạng pháp luật về rủi ro pháp lý trong tô chức, quản lý công ty cô phan
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">1.1. Khái quát về rủi ro pháp lý trong tổ chức, quan lý công ty cỗ phan 1.1.1. Nhận diện tổ chức, quản lý công ty cỗ phan
1.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của công ty cổ phan
<small>a. Khai niệm</small>
Công ty cổ phan (sau đây gọi tắt là CTCP) là một loại hình doanh nghiệp phổ biến trên thế giới. Dù tồn tại ở quốc gia nào trên thé giới thì ngồi những đặc điểm chung, CTCP vẫn luôn mang những nét đặc thù phản ánh điều kiện cụ thé của quốc gia đó. Ở những nước theo hệ thống pháp luật Chau Âu lục địa (Civil Law), CTCP có quy chế pháp lý riêng và được phân biệt rõ ràng với loại hình công ty đối vốn khác là Công ty trách nhiệm hữu hạn
<small>(TNHH). Ví dụ: theo quy định của pháp luật Cộng hịa Pháp, CTCP được gọi</small>
là cơng ty vơ danh, phải có ít nhất bảy cơ đơng, vốn điều lệ của công ty được chia thành các cổ phan với mệnh giá thống nhất, cổ đông được quyền tự do chuyển nhượng cô phần”. Những nước theo hệ thống pháp luật Anh Mỹ (Common Law) lại không phân chia công ty đối vốn thành các loại khác nhau một cách rõ ràng, và vì vậy thường khơng có quy chế pháp lý riêng cho loại hình cơng ty cổ phần”. Tuy nhiên, ở các nước này van tôn tại những cơng ty có tính chất pháp lý tương tự như CTCP trong hệ thống pháp luật lục địa. Ví dụ, công ty công hữu hạn ở Anh với vốn điều lệ được chia thành các cô phan, các cô phần có thê được tự do chuyên nhượng nếu Điều lệ khơng có quy định <small>? Đồng Ngọc Ba (2000), Cơng ty cổ phan trong nén kinh tế thị trường, Luận văn thạc sĩ luật học, trường Dai</small>
<small>học Luật Hà Nội, tr.7</small>
<small>3 Đồng Ngọc Ba (2000), Công ty cổ phần trong nên kinh tế thị trường, Luận văn thạc sĩ luật học, trường Đại</small>
<small>học Luật Hà Nội, tr.8.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">lượng xác định cỗ phần, những người tham gia công ty không chịu trách nhiệm trước các nghĩa vụ của công ty mà chỉ chịu các rủi ro liên quan đến hoạt động của công ty trong phạm vi giá trị những cô phần mà họ sở hữu”.
Ở Việt Nam, quan niệm về CTCP được ghi nhận cụ thể lần đầu tiên
<small>trong Luật Công ty năm 1990 (LCT 1990), theo đó CTCP “... là doanh</small>
nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lễ tương ứng với phần vốn góp và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào cơng ty”. Đến Luật Doanh nghiệp (LDN) năm 1999 (Điều 51) cũng như LDN 2005 (Điều 77) và LDN 2014 thì lại khơng đưa ra một định nghĩa khái quát về CTCP mà chỉ liệt kê những đặc điểm của nó. Theo đó, CTCP là một loại hình doanh nghiệp, có những nét riêng biệt bao gồm: vốn điều lệ được chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; người chủ sở hữu cổ phan là cổ đông, họ là thành viên công ty, chịu trách nhiệm về các khoản nợ, các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào cơng ty và cơng ty được phát hành chứng khốn để huy động vốn.
Như vậy, tựu chung lại có thé hiểu một cách thống nhất về khái niệm CTCP đó là một loại hình cơng ty đối vốn, trong đó vốn điều lệ được chia làm nhiều phan bang nhau gọi là cỗ phan; người sở hữu các cơ phan đó gọi là cổ
<small>đơng của cơng ty; các cơ đơng có thê sở hữu một hay nhiêu cô phân và chịu</small>
<small>* Liang Yu Chi (201 6), Dia vị pháp lý cua công ty cổ phan dưới góc độ so sánh pháp luật doanh nghiệp hiện</small>
<small>hành của Trung Quốc và Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, tr.12.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">trách nhiệm trong phạm vi cô phần mà họ nắm giữ; đồng thời, cơng ty có quyền phát hành chứng khoán dé huy động vốn.
b. Đặc điểm
Cơng ty cơ phần có những đặc điểm cơ bản dựa vào đó chúng ta phân
<small>biệt với cơng ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh sau đây:</small>
- Về thành viên cơng ty: Trong suốt q trình hoạt động ít nhất phải có 3 thành viên tham gia CTCP. Là loại công ty đặc trưng cho công ty đối vốn, cho nên có sự liên kết của nhiều thành viên và vì vậy, việc quy định số thành viên tơi thiêu phải có đã trở thành thơng lệ quốc tế trong may trăm năm tôn tại của công ty cơ phần. Ở hầu hết các nước đều có quy định số thành viên tối thiểu của CTCP.
- Về vốn: Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được phan ánh trong cơ phiếu. Một cơ phiếu có thé phản ánh mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phan. Việc góp vốn vào cơng ty được thực hiện bang cách mua cơ phan, mỗi cơ đơng có thé mua nhiều cé phan. Luật không hạn chế mỗi thành viên được mua tôi đa bao nhiêu phần trăm vốn điều lệ nhưng các thành viên có thể thỏa thuận trong điều lệ giới hạn tôi đa số cô phần mà một thành viên có thể mua nhằm chống lại việc một thành viên nào đó có thể nắm quyền kiểm sốt cơng ty.
- Về tinh tự do chuyển nhượng phan vốn góp: Phan vốn góp (cỗ phan) của các thành viên được thể hiện dưới hình thức cỗ phiếu. Các cô phiếu do công ty phát hành là một loại hàng hóa. Người có cổ phiếu có thé tự do chuyền nhượng theo quy định của pháp luật.
- Về chế độ trách nhiệm: Công ty cô phan chịu trách nhiệm về các
<small>khoản nợ của công ty băng tài sản của công ty. Các cô đông chịu trách nhiệm</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">về các khoản nợ và các nghĩa vụ tai sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào cơng ty (tức là đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu)”.
- Về quyền phát hành chứng khốn: Trong q trình hoạt động, cơng ty cơ phần có quyền phát hành chứng khốn (như cổ phiếu, trái phiếu) ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán để huy động vốn. Điều này thê hiện khả năng huy động vốn lớn của CTCP.
- Về tư cách pháp lý: CTCP là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân. Cơng ty có tư cách pháp nhân kế từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng kí
<small>kinh doanh.</small>
1.1.1.2. Tổ chức, quan bp cơng ty cổ phan a. Khái niệm tô chức quản lý công ty cô phần
Xét về mặt ngữ nghĩa, khái niệm “tổ chức, quan lý công ty cổ phan được cấu thành bởi hai thành tố đó là “tổ chức, quản lý” và “cơng ty cơ phần”.
<small>Theo như phân tích ở trên, luận văn đã trình bay và làm rõ nội hàm của khái</small>
niệm CTCP. Bởi vậy, để có thé hiểu rõ được khái niệm “tổ chức, quản ly công ty cô phần”, trong mục này luận văn sẽ tập trung làm rõ nội hàm và ngoại dién của khái niệm “tô chức, quản lí”.
Theo từ điển Tiếng Việt thì “tổ chức” hiểu theo nghĩa của một động từ có nghĩa là (i) “hành động sắp xếp, bồ trí cho thành một chỉnh thé, có một cau tạo, một cau trúc và những chức năng chung nhất định”; (ii) làm những gi cần thiết dé tiễn hành một hoạt động nào đó nhằm có được hiệu quả tốt nhất”... Cịn “quan lý” là (i) “trơng coi và giữ gìn theo những u cầu nhất định”; (ii) “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cau nhất định”... Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), “Quản lý công ty là một hệ <small>5 Trường Dai học Luật Ha Nội (2008), Giáo trình Luật Thương mai (tap 1), Nxb Công an nhân dân, Ha Nội,</small>
<small>° truy cập ngày 15/5/2017.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">thống các cơ chế, các hành vi quản lý. Cơ chế này xác định việc phân chia các quyền và nghĩa vụ giữa cô đông, hội đồng quản trị, các chức danh quản lý và những người có lợi ích liên quan, quy định trình tự ban hành các quyết định kinh doanh. Bằng cách này, công ty tạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạt
<small>động, tạo ra phương tiện thực thi và giám sát việc thực hiện các mục tiêu</small>
đó””. Theo ngân hang thé giới (WB), quản lý công ty được coi là một hệ thống kết hợp các yếu tố luật pháp, thể chế và các hệ thống quản lý của cơng ty. Nó cho phép cơng ty có thé thu hút được các ngn tài chính và nhân lực, hoạt động một cách hiệu quả, tạo ra các gia trị kinh tế lâu dài cho thành viên trong khi vẫn tơn trong các qun lợi của những người có quyền, lợi ích liên quan và của xã hdi®.
Theo ngân hành phát triển Châu Á (ADB), quản lý công ty bao gồm một hệ thống các quy chế xác định rõ mối quan hệ giữa các cổ đông, các chức
<small>danh quản lý, các chủ nợ, Chính phủ và những người có lợi ích liên quan khác</small>
cũng như hệ thống các cơ chế đảm bảo thực hiện các quy chế trên”.
Như vậy, khái niệm “tơ chức, quản li” sẽ có thê được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa hẹp thì tổ chức quan lí là cách hiểu thứ (i); cịn cách hiểu
<small>thứ (11) là theo nghĩa rộng.</small>
<small>2^</small>
<small>Ghép nôi nội hàm của các khái niệm trên với khái niệm công ty côphân, chúng ta sẽ có hai cách hiêu vê khái niệm “tơ chức, quản lí cơng ty cơ</small>
phần”. Cu thé:
<small>Nguyễn Thị Lan Hương, “Một số so sánh về Công ty cô phan theo Luật Công ty Nhat Bản và Luật Doanh</small>
<small>nghiệp Việt Nam”, tap chí Luật hoc (25), Tr.20.</small>
<small>® Nguyễn Thị Lan Hương, “Một số so sánh về Công ty cé phần theo Luật Công ty Nhật Ban và Luật Doanh</small>
<small>nghiệp Việt Nam”, tap chí Luật học (25), Tr.20.</small>
<small>? Cao Thị Kim Trinh (2004), 76 chức quản lý nội bộ công ty cỗ phan — Những vấn dé lý luận và thực tiễn,</small>
<small>Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.7</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì tổ chức, quản lý CTCP là hệ thống các cơ chế tổ chức điều hành và kiểm sốt cơng ty, trong đó các quyên và nghĩa vụ của các chủ thể quản lý như cổ đông, Hội đồng quản trị (gọi tắt là HĐQT), Giám đốc/Tổng giám đốc (gọi tắt là GD/TGD), Ban Kiểm soát (gọi tắt là
<small>BKS) được phân định rõ ràng, giám sát thực hiện chặt chẽ.</small>
Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì tổ chức, quản lí cơng ty cô phần bao gồm một chuỗi các hành động của người quản lí, của cổ đơng trong CTCP trong việc đăng ký thành lập, tổ chức bộ máy của cơng ty, sắp xếp nhân sự, kí kết hợp đồng, ra các quyết định... cho đến khi công ty chấm dứt hoạt động theo
<small>quy định của pháp luật.</small>
Nhăm mục dich bao quát được tat cả những rủi ro pháp lý có thé xảy ra với CTCP, trong phạm vi luận văn này, tác giả sẽ phân tích khái niệm tơ chức, quản lí cơng ty cơ phần theo nghĩa rộng nêu trên. Do đó, khái niệm “tổ chức, quan li Cơng ty cơ phần” ở đây có thé được hiểu trùng khớp với khái niệm “tổ chức quản lí kinh doanh” và “quản trị doanh nghiệp”. Theo đó, tổ chức quản lý kinh doanh là công tác sắp xếp, điều hành, quan lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do GD hoặc Ban giám đốc (gọi tắt là BGĐ) thực hiện. Quản trị doanh nghiệp được hiểu là q trình hoạch định, tơ chức, lãnh đạo, kiểm tra hoạt động của các thành viên nhằm thực hiện những mục tiêu của doanh nghiệp. Còn tổ chức, quản li công ty ở đây là việc tổ chức bộ máy quản lý, công tác điều hành của công ty để duy trì và thúc đây hoạt động của cơng ty, đảm bảo cho sự thành lập, hoạt động của cơng ty nhằm hồn thành được những mục tiêu nhất định đã dé ra. Đây là quá trình tác động của cổ đơng, của người quản lí, điều hành cơng ty tới hoạt động của tồn cơng ty nhằm đảm bảo quyền lợi của mình. Như vậy, quản trị cơng ty và quản lý cơng ty có sự trùng lắp nhất định. Mặc dù, quản trị công ty thường được xét dưới góc độ kinh tế, cịn quản lý nội bộ cơng ty là xét dưới góc độ pháp lý. Tuy
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">nhiên dù tiếp cận dưới góc độ nào thì trong q trình quản lí, điều hành công ty chắc chăn công ty sẽ phải thực thi các quy định của pháp luật. Do đó, việc các quy định của pháp luật có tiễn bộ, có phù hợp hay không sẽ ảnh hưởng rat
<small>lớn tới hiệu quả hoạt động của công ty.</small>
b. Đặc điểm của tổ chức, quản lý CTCP
Từ khái niệm trên, có thé thấy tơ chức, quản lý CTCP có đặc điểm sau
- Tổ chức quản lý CTCP là hệ thống các thiết chế nội bộ được pháp luật quy định nhằm định hướng, vận hành và kiểm soát tổ chức quản lý điều hành CTCP. Hệ thống các quy định về tổ chức quản lý nội bộ CTCP được quy định cụ thé từ Điều 134 đến Điều 171 LDN 2014 — có vai trị trung tâm, chi phối hầu hết van đề tơ chức quản lý CTCP đang hoạt động tại Việt Nam.
- Việc tô chức quản ly công ty cô phần được thực hiện trên cơ sở phân định rõ ràng về quyên, nghĩa vụ của các cổ đông, người quản lý và các phương pháp áp dung theo một trình tự, thủ tục nhằm đảm bảo tô chức và hoạt động của công ty một cách hiệu quả. Trong cơ cấu tổ chức quản lý CTCP, tồn thé các cơ đơng hợp thành một cơ quan dé hình thành ý chi và thé hiện lợi ích của các cổ đơng, đó là Đại hội đồng cô đông (gọi tắt là ĐHĐCĐ) — cơ quan quyết định cao nhất. Cơ quan này xây dựng và thông qua một quy chế quan lý chung được gọi là Điều lệ. Theo Điều lệ công ty, DHDCD bau ra va ủy quyền một số người dé hình thành cơ quan chấp hành là HĐQT dé thực hiện ý chí của cơ quan quyết định. Bên cạnh cơ quan chấp hành, DHDCD lại bầu ra và ủy quyền cho một nhóm người dé hình thành cơ quan giám sat va BKS để thường xuyên kiểm soát hoạt động quản lý điều hành của cơ quan chấp hành. Cơ cấu quản lý như vậy đã thé hiện sự tách biệt giữa quyền sở hữu với quyền quản lý kinh doanh và sự cân bằng giữa các cơ quan quyền lực
<small>trong nội bộ cơng ty. Như vậy, có thê nói răng, cơ sở của chê độ quản lý</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">CTCP chính là cơ chế phân quyền và mối quan hệ giữa các cơ quan quyền lực trong công ty trên cơ sở tách biệt quyền sở hữu với quyền quản lý kinh doanh
<small>công ty.</small>
- Tổ chức, quản lý CTCP đảm bảo sự kiểm soát, giám sát giữa các cơ quan quản lý: HĐQT và BGD được coi là cơ quan hành pháp, cơ quan điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của Cơng ty; Cịn BKS đóng vai trị của cơ quan tư pháp, cơ quan có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm sốt hoạt động của HĐQT và BGD công ty. BKS trong công ty cô phần ở Việt Nam được “thiết kế” là một co quan (có thé hiểu đơn giản là “tư pháp”) riêng trong cơ cấu
<small>HDQT nội bộ của CTCP, cơ quan này có nhiệm vụ chuyên trách giám sat và</small>
đánh giá HĐQT và những người quản lý điều hành nhân danh cơ đơng vì lợi ích của cổ đơng của CTCP. Như vậy, vai trò của BKS trong mối quan hệ với các bộ phận khác trong CTCP như DHDCD, HĐỌT, BGĐ, nhất là trong hoạt động của CTCP thì BKS trong vai trò kiểm tra, giám sát và kiềm chế, đối trọng với HDQT và BGD dé các hoạt động của công ty được hoạt động minh bạch vi lợi ích của các cổ đông công ty.
c. Các yếu tô ảnh hưởng tới việc tổ chức, quan lý công ty cô phan
<small>* Các quy định pháp luật</small>
Các quy định pháp luật về tổ chức quản lý CTCP tác động lên quan hệ tổ chức quản lý CTCP. Trước hết các quy định pháp luật ghi nhận các nguyên tắc cơ bản về quản lý CTCP, việc xây dựng trên cơ sở luật định và không
<small>được trái với các quy định pháp luật.</small>
Các quy định pháp luật tạo khung pháp ly cần thiết dé bộ máy quản lý nội bộ vận hành cơng ty. Với những quy định mang tính bắt buộc thì bộ máy quản lý nội bộ CTCP nhất thiết phải tuân thủ. Với những quy định mang tính mở, cho phép CTCP có quyền lựa chọn thì CTCP có quyền tự quyết định trong khn khổ những quy định đó. Các quy định về điều kiện hoạt động, tổ
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">chức, quan lý nội bộ CTCP rõ ràng, đồng bộ, minh bạch sẽ là nhân tố thuận
<small>lợi cho hoạt động quản lý nội bộ, nâng cao sức mạnh cho công ty.</small>
* Điều lệ công ty
Điều lệ CTCP là bản cam kết của tất cả các thành viên cơng ty về mục đích thành lập, tổ chức quản lý và tổ chức hoạt động của công ty, được các
<small>thành viên công ty thông qua và được thông báo tới cơ quan đăng ký kinh</small>
doanh. Bởi vậy, các quy định của điều lệ cơng ty có tính chất bắt buộc thi hành với công ty và các thành viên công ty, được coi là bản Hiến pháp của công ty. Điều lệ công ty quy định cụ thé, chi tiết về quá trình gia nhập thị
trường, bộ máy quản lý nội bộ công ty; việc tô chức lại, giải thê công ty. Đối
với CTCP, Điều lệ quy định cơ cấu bộ máy quản lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan trong bộ máy quản lý đó (HĐQT, GD/TGD, BKS). Đồng thời, Điều lệ cịn quy định về cơ chế kiêm soát lẫn nhau giữa các cơ quan trên, tùy thuộc vào yêu cầu của từng công ty, trong phạm vi quyết định của DHDCD phải dat ty lệ phiếu nhất định được LDN quy định mức tối thiêu (51% hoặc 65% tùy trường hợp), nhưng Điều lệ có thé quy định mức cụ thé khác chứ không phải mức tối thiểu này. Hoặc về van dé người đại diện theo pháp luật, theo quy định tại khoản 2, Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014, CTCP có thể có “một hoặc nhiều người đại điện theo pháp luật”.
<small>Như vậy, so với LDN 2005, LDN 2014 quy định cơng ty hồn tồn có</small>
thé tự quyết định, chỉ định một người đại diện theo pháp luật hoặc trong trường hợp cần thiết thì có qun tự chủ quyết định việc có nhiều người đại diện theo pháp luật, số lượng, chức danh quản lý và quyên, nghĩa vu của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được quy định tại Điều lệ Cơng ty. Vì vậy, Điều lệ Cơng ty có ảnh hưởng lớn tới việc tổ chức quan lý
<small>* Các văn bản nội bộ của CTCP</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">Trong quá trình thành lập cho đến bước vào hoạt động, CTCP có rất nhiều văn bản theo quy định của pháp luật cũng như văn bản nội bộ như: Quy chế làm việc, quy chế quản lý tài chính, quy chế quản lý nhân sự...
Quy chế làm việc là một trong những loại văn bản nội bộ vô cùng quan trọng trong bất kỳ công ty nào, dù lớn hay nhỏ, dù đa ngành nghề hay đơn ngành nghé. Bởi nếu khơng có quy chế làm việc thì hoạt động tơ chức, quản lí công ty sẽ không đạt được kết quả ở mức tối đa. Quy chế làm việc sẽ quy định các điều kiện như nguyên tắc làm việc, chế độ trách nhiệm, lề lối làm việc, quan hệ công tác và trình tự giải quyết cơng việc và cơng tác quản lý thiết bị, tài sản, tài chính CTCP... tùy vào mục tiêu hoạt động của mỗi CTCP. Quy chế quản lý tài chính CTCP sẽ đảm bảo mọi khoản chỉ tiêu đều theo quy định, tránh sự tùy tiện hoặc lạm quyền của người quản lý, tạo được lòng tin, giúp cơ đơng gắn bó với cơng ty. Quản lý tài chính cơng ty khơng hiệu quả là ngun nhân chính khiến cơng việc kinh doanh của cơng ty kém hiệu quả, mất đi niềm tin nơi thành viên và khiến họ muốn rời bỏ cơng ty nhằm bảo tồn, cứu vãn vốn đầu tư đã bỏ ra. Quy chế quản lý nhân sự nhằm quản lý con người — yếu tô quan trọng tạo nên sự thành công của mỗi cơng ty.
Các văn bản nội bộ này có giá trị áp dụng đối với công ty. Bên cạnh Điều lệ cơng ty, các văn bản nội bộ có ảnh hưởng lớn đến bộ máy quản lý nội bộ CTCP. Các văn bản này là “cánh tay nối dài” của Điều lệ cơng ty, cụ thể hóa những quy định của Điều lệ. Chính vì vậy, trong q trình hoạt động của minh, các công ty cô phan cần phải tuân thủ chặt chẽ những văn bản này. 1.1.2. Khái niệm và đặc điểm rủi ro pháp ly trong tổ chức, quản lý công ty cổ phan
1.1.2.1. Khái niệm rủi ro pháp lý trong công ty cổ phan
Khái niệm “rủi ro pháp lý trong công ty cô phần” được cấu thành bởi hai từ ghép đó là “rủi ro pháp lý” và “cơng ty cổ phan”. Dé có thé hiểu được
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26"><small>nội hàm của khái niệm này, chúng ta cũng phải nghiên cứu ý nghĩa của từng</small>
khái niệm cấu thành nó.
Thứ nhất, về khái niệm “rủi ro”: Cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về rủi ro. Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau. Các định nghĩa này rất phong phú và đa dạng nhưng tựu trung lại có thé chia thành hai trường phái lớn:
* Theo trường phái truyền thống: Rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tôn thất mat mát, nguy hiểm. Do là sự giảm sút về tài sản hay sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến. Rui ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tôn tại và phát trién của một doanh nghiệp. Tóm lại theo quan điểm này rủi ro mang tính tiêu cực.
* Theo trường phái hiện đại: Rủi ro là sự bất trắc có thé do lường được, vừa mang tính tích cực vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những tốn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, chớp lấy những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai.
Thường thì các định nghĩa được phát biểu tùy theo quan điểm của từng người, từng ngành. Chang hạn theo quan điểm của bảo hiểm, rủi ro được định nghĩa là sự ton thất ngẫu nhiên, là khả năng có thé gây ra tơn thất, là khả năng có thé xuất hiện một biến cơ không mong đợi. Theo xác suất và thong kê thi rủi ro là bién cố ngẫu nhiên có thé đo lường bằng xác suất. Theo quan điểm hiện đại, rủi ro được định nghĩa là: “khả năng sẽ xảy ra một kết quả có lợi hay khơng có lợi từ mỗi nguy hiểm hữu hình”'°.
<small>'0 </small>
<small> truy cap ngay 4/4/2017.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">Đối với doanh nghiệp, rủi ro là bất cứ điều gì có khả năng ngăn cản sự phát triển của doanh nghiệp. Có những rủi ro xâm nhập từ bên ngoài doanh nghiệp cũng như phát sinh bên trong doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp khi thực hiện những chiến lược hoạt động phát triển sản phẩm và dịch vụ của mình khơng thé khơng tránh khỏi việc đương dau với những rủi ro có thé xảy ra trong kinh doanh. Chang hạn, một doanh nghiệp xuất khẩu bat ngờ phải đối mặt với một vụ kiện chống bán phá giá dẫn tới những thua thiệt trong đơn đặt hàng: hay công nhân của nhà máy đột ngột đình cơng làm ngưng trệ sản xuất; giá của ngun liệu đầu vào tăng đột biến trong khi giá sản phẩm không đổi
<small>làm lợi nhuận bị sụt giảm mạnh... Những rủi ro đó sẽ làm cho doanh nghiệp</small>
bị bắt ngờ và dẫn đến thiệt hại, ảnh hưởng đến mục tiêu của doanh nghiệp.
<small>Trong phạm vi bài luận văn, tác giả thừa nhận khái niệm rủi ro theo</small>
cách hiểu của trường phái hiện đại đó là những bắt trắc có thể xảy ra đối với
<small>CTCP theo trục thời gian từ khi bước chân vào thị trường cho tới khi rời khỏi</small>
thị trường. Và nguyên nhân của những bat trắc đó là do chính các quy định
<small>của pháp luật. Bởi vậy, nghiên cứu các rủi ro pháp lý cũng chính là nghiên</small>
cứu các quy định của pháp luật để chỉ ra những điều có thể gây khó khăn, tổn thất cho doanh nghiệp. Từ đó đề xuất những cách giải quyết hợp li.
Thuật ngữ rủi ro pháp lý được giới báo chí, luật sư và cộng đồng doanh nghiệp nhắc đến nhiều, tuy nhiên khi rà soát các văn bản pháp lý cũng như tra cứu các tài liệu chuyên ngành, chúng ta chưa tìm thấy một khái niệm cho
<small>thuật ngữ này.</small>
Các rủi ro xuất phát từ nguyên nhân khác nhau sẽ được gọi tên khác nhau. Và rủi ro xuất phát từ các quy định của pháp luật thì được gọi là rủi ro pháp lý. Theo COSO'”, rủi ro được hiểu là sự kiện khơng chắc chắn, có thé
<small>'' (Committee of Sponsoring Organization — thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận báo cáo tàichính được thành lập dưới sự bảo trợ của các hiệp hội: hiệp hội kế tốn viên cơng chứng Hoa Ky (AICPA);</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">xảy ra và ảnh hưởng đến mục tiéu của tổ chức. Tương tự, rủi ro pháp ly có thể hiểu là sự kiện pháp lý không chắc chắn, có thể xảy ra và ảnh hưởng đến mục tiêu của chủ thé pháp lý. Như vậy, rủi ro pháp lý là một sự kiện pháp ly có thé xảy ra hoặc khơng xảy ra (tức là có xác suất đưới 100%) và khi xảy ra, nó sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu của tổ chức ”. Ví dụ Doanh nghiệp A thực hiện chương trình quảng cáo dé khách hàng bốc thăm trúng thưởng (chương trình mang tính may rủi) mà chưa có sự đồng ý của cơ quan có thấm quyền theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, Doanh nghiệp A có thể bị cơ quan quản lý dừng chương trình quảng cáo này, đồng thời xử phạt vi phạm hành chính (rủi ro pháp lý). Trong thực tế, Doanh nghiệp A có thể bị xử phạt hoặc không, tùy thuộc vào quyết định của cơ quan quản lý. Do trong quá trình thành lập, hoạt động, doanh nghiệp phải tuân thủ và sử dụng đến rất nhiều các văn bản pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau, cho nên phạm vi của khái niệm rủi ro pháp lý thường rất rộng. Trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ phân tích những rủi ro pháp lý mà doanh nghiệp phải đối mặt theo quy định
<small>của LDN 2014.</small>
Từ đó, có thé xây dựng khái niệm rủi ro pháp ly của công ty cổ phan theo quy định của LDN 2014 như sau: Rủi ro pháp lý của công ty cổ phần là những điều khơng may, tuy khơng chắc chắn nhưng có thể xảy ra trong quá trình thành lập, hoạt động và chấm dứt của công ty cô phần mà nguyên nhân chủ yếu là xuất phát từ các quy định của pháp luật doanh nghiệp và việc thực hiện trách nhiệm của người quản lý, điều hành doanh nghiệp.
<small>hiệp hội kế toán Hoa Kỳ (AAA); Hiệp hội quan trị viên tài chính (FEI); Hiệp hội kế toán viên quản tri (IMA)và Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA)</small>
<small>'? truy cập ngày</small>
<small>20/5/2017.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">1.1.2.2. Đặc điểm của rủi ro pháp lý trong tổ chức, quan lý công ty cỗ phan
Cơng ty cơ phan là một trong năm loại hình doanh nghiệp theo quy
<small>định của Luật Doanh nghiệp 2014. Do vậy, ngay từ giai đoạn đăng ký thành</small>
lập đến hoạt động và giải thể, phá sản doanh nghiệp, các doanh nghiệp nói chung và cơng ty cơ phần nói riêng đều phải đối mặt với các rủi ro pháp lý. Bởi vậy, các rủi ro pháp lý trong CTCP sẽ có những đặc điểm chung của rủi
<small>ro pháp lý nói chung đó là: Rui ro pháp lý là một sự kiện khách quan, xảy ra</small>
bất ngờ; Doanh nghiệp có thể lường trước cũng như khơng lường trước sự kiện đó; Rủi ro pháp lý ân chứa nhiều mối nguy (khách quan và chủ quan); Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro pháp lý là các quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, do đặc điểm đặc trưng về số lượng thành viên, về vốn, quyền phát hành chứng khoán... bởi vậy rủi ro pháp lý trong CTCP cịn có thêm một số đặc điểm đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, rủi ro pháp lý thường có phạm vi rất rộng. Trong q trình hoạt động của mình, cơng ty tham gia vào rất nhiều mối quan hệ, do đó rủi ro có thê đến từ các chủ thể có quan hệ với doanh nghiệp. Ví dụ rủi ro đến từ cơ quan quản lý nhà nước — chủ thé có quyền ban hành các quyết định hành chính và có sẵn bộ máy cưỡng chế thực hiện quyết định nay; từ các hành động pháp lý của đối tác — chủ thé có quyền hành động hoặc khơng hành động dựa trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên; rủi ro đến từ các hành vi cố ý, vô ý hoặc bất cân của cán bộ quản lý và người lao động của doanh nghiệp.
<small>Thứ hai, mức độ thiệt hại do rủi ro pháp lý gây ra khó xác định bởi vì</small>
khi rủi ro pháp lý xảy ra, doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu các chế tài pháp lý. Các chế tài này thường có nhiều loại và mức độ khác nhau. Bên cạnh đó, việc xác định chế tài nào được áp dụng lại do cơ quan có thâm quyền (ví dụ như tịa án, trọng tài thương mại, cơ quan quản lý nhà nước...) quyết định. Do đó,
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">mức độ thiệt hại do rủi ro pháp lý gây ra thường không thể xác định ngay và doanh nghiệp cũng khó có thể tự đánh giá được.
Thứ ba, rủi ro pháp lý có thời gian tồn tại kéo dai vì các quy định pháp luật có các điều khoản về thời hiệu, thời hạn để các chủ thê có quyền hồi tố các hành vi pháp lý đã thực hiện trong quá khứ. Điều này có nghĩa là rủi ro pháp lý phát sinh, thời gian tồn tại của nó khơng chỉ được tính từ thời điểm xảy ra mà còn bao gồm cả khoảng thời gian từ trước đó do các điều khoản về hồi tố.
Vì rủi ro pháp lý có các tính chất nêu trên, doanh nghiệp cần phải nhận diện và đánh giá đầy đủ từng rủi ro pháp lý để kiểm soát và hướng đến triệt tiêu các nguyên nhân có thê khiến rủi ro trở thành sự cố, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp có thé bi mat mát tài sản, mất quyền pháp lý, phá sản và thậm chí chủ doanh nghiệp có thể đối mặt với các chế tài hình sự.
1.2. Vai trò của việc nghiên cứu vấn đề rủi ro pháp lý đối với tổ chức, quan lý công ty cỗ phần
Rui ro có thê hiểu là những bat trắc có thê xảy đến bat cứ lúc nào. Việc chi ra các rủi ro pháp lý có thé xảy ra trong tơ chức, quản lý CTCP có ý nghĩa
<small>đó là:</small>
* Đối với CTCP: Phân tích rủi ro pháp lý là công cụ để phát hiện những rủi ro tiềm ấn trong các quy định của pháp luật về tổ chức, quản lý mơ hình cơng ty này. Bất kì mơ hình doanh nghiệp nào khi đăng ký và đi vào hoạt động cũng phải đối mặt với những rủi ro pháp lý khác nhau. Tuy nhiên, các rủi ro đó thường là những rủi ro tiềm ẩn. Chỉ khi chúng ta tiễn hành phân tích hoặc thực hiện pháp luật trên thực tế mới phát hiện được những điểm bat lợi đó và có những biên pháp ngăn chặn kịp thời để giảm thiêu rủi ro và mang lại
<small>hiệu quả hoạt động cho công ty.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">* Đối với nhà đầu tư (cô đông công ty): Dé đưa ra quyết định nên lựa chọn loại hình doanh nghiệp nào dé đầu tư kinh doanh thu lợi nhuận, các nhà đầu tư cần phải cân nhắc những ưu điểm, nhược điểm của từng loại hình. Mà ưu điểm, nhược điểm đó đều nằm ẩn trong các quy định của pháp luật. Bởi
<small>vậy, việc phân tích và chỉ ra các rủi ro pháp lý trong chính các quy định đó sẽ</small>
giúp ích cho nhà đầu tư (cơ đơng) biết được mức độ rủi ro của cơng ty, từ đó đưa ra quyết định có nên đầu tư hay khơng.
* Đối với các chủ nợ của công ty: Các chủ nợ quan tâm đầu tiên đó là mức độ an toàn của các doanh nghiệp dé đảm bao tra nợ, đặc biệt là các quy
định của pháp luật trong việc bảo vệ qun, lợi ích hợp pháp của họ. Thơng
qua việc phân tích rủi ro pháp lý của CTCP, các chủ nợ sẽ biết được mức độ an toàn của cơng ty này từ đó đưa ra quyết định cho vay hay không và mức vay là bao nhiêu. Nếu mức độ rủi ro pháp lý càng thấp thì sẽ càng được các nhà cho vay tin tưởng, ưu tiên, càng dé dàng tiếp cận với nguồn vốn của họ
* Đối với Nhà nước: Do thực tại xã hội luôn ln có sự vận động, biến đổi khơng ngừng nên bản thân các văn bản pháp luật không bao giờ có thể phù hợp 100% với thực tại xã hội. Sự phù hợp, tiến bộ này chỉ mang tính tương đối ở từng thời điểm nhất định. Có thể ở thời điểm xây dựng và ban hành quy định cụ thé nay là hợp lý nhưng ở thời điểm khác quy định đó là trở nên bất hợp lý, gây khó khăn cho cơng ty. Do vậy, qua việc phân tích chỉ ra những bat cập trong quy định của pháp luật doanh nghiệp về tô chức, quản lý CTCP cịn có ý nghĩa rất lon trong việc hồn thiện pháp luật về tô chức, quản lý đối với mô hình cơng ty này.
1.3. Sự tương đồng và khác biệt giữa rủi ro pháp lý trong công ty cỗ phan
<small>với các loại rủi ro khác</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">Rui ro pháp ly là khả năng khách quan xảy ra sự sai lệch bat lợi so với sự tính liên quan đến pháp luật. Rủi ro pháp lý là những sự kiện pháp lý bất
lợi xảy ra một cách bat ngờ gây nên những thiệt hai vat chất hoặc phi vật chất
cho các doanh nghiệp, bị gây nên bởi yếu tố chủ quan của doanh nghiệp và yếu tố khách quan từ bên ngồi xảy ra trong q trình hoạt động.
Khi phân loại rủi ro của doanh nghiệp theo tiêu chí dựa vào đối tượng
<small>của rủi ro đó là:</small>
Rủi ro tài sản: Là đối tượng có thê hưởng lợi hoặc chiu tơn thất về vật chất, tài sản chính hoặc tài sản vơ hình khi rủi ro xảy ra. Tài sản có thể bị hư hong, tàn phá, mat mát hoặc giảm giá bằng nhiều cách khác nhau.
Rui ro pháp lý: là các đối tượng có thé xảy ra tơn thất vì các trách nhiệm pháp lý đã quy định. Các trách nhiệm pháp lý thay đổi theo từng quốc gia cũng là điều cần phải lưu ý.
Rủi ro nguồn nhân lực: Là các đối tượng có liên quan đến “tài sản con người” nó khơng chỉ là thiệt hại về thể xác mà sự bat ổn kinh tế như mất việc, nghỉ hưu cũng là ton thất phổ biến.
Thứ nhất, điểm tương đồng: Các rủi ro này đều có bản chất là những điều khơng may, thường sẽ nam ngồi khả năng dự đốn của CTCP và các cơ đơng cũng như người quản lý công ty; thường đến một cách bat ngờ, hậu quả xảy ra làm thiệt hại về uy tín và tài sản cho cơng ty.
Thứ hai, điểm khác biệt: Rủi ro pháp lý trong CTCP có những điểm
<small>khác biệt so với các loại rủi ro khác sau đây:</small>
Một là, phạm vi nguyên nhân của rủi ro: Rủi ro pháp lý chỉ xuất phát từ một nguyên nhân duy nhất đó là các quy định của pháp luật về van đề tơ chức, quản lý CTCP. Cịn các rủi ro khác như rủi ro về tài chính, rủi ro về nguồn hàng, về khách hàng... xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan như sự
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">thay đổi của nền kinh tế hoặc nguyên nhân chủ quan như sự thiếu nhạy bén
<small>của người quản lý công ty, tham nhũng...</small>
Hai là, hậu quả của rủi ro pháp lý: Các rủi ro pháp lý có nguồn gốc từ sự thay đôi của pháp luật liên quan như: sự mập mờ, chồng chéo không thống nhất của các văn bản pháp quy, sự thiếu thông tin trong việc phổ biến pháp luật, quá nhiều những điều chỉnh. Hậu quả của những rủi ro pháp lý là những tranh chấp kiện tụng giữa các doanh nghiệp, các cơng trình xây dựng bị đỡ bỏ, kìm hãm sự đầu tư từ nước ngoài.
1.4. Pháp luật của một số quốc gia về rủi ro pháp lý trong tổ chức, quản lý công ty cỗ phần và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Dé kiểm soát các rủi ro pháp lý đối với CTCP, pháp luật một số quốc gia trên thé giới quy định về van dé này như sau:
a. Vương quốc Anh
Theo quy định của pháp luật Vương quốc Anh, bộ máy quản lý CTCP gồm 2 cơ quan có chức năng độc lập với nhau đó là ĐHĐCĐ và HĐQT.
<small>Trong khi DHDCD là cơ quan có vai trị và chức năng chính trong việc quanlý hoạt động kinh doanh của công ty. Các thành viên HĐQT được coi lànhững người đại diện cho công ty trong các hoạt động kinh doanh. Mức độ</small>
độc lập của hai cơ quan này phụ thuộc vào cơ cấu cô đông của công ty. Đối VỚI Các cơng ty có cơ cầu cơ đơng nội bộ Ỷ, sự độc lập này trên thực tế có thể khơng tồn tai vì các cổ đơng thường đồng thời là thành viên HĐQT (là những người tham gia quản lý công ty). Tuy nhiên, trong các công ty lớn có cơ cấu cơ đơng phân tán, rất ít cơ đơng có thể năm giữ vi trí thành viên HĐQT. Trong khi các cơng ty có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý điều hành như vậy, mặc dù ĐHĐCĐ và HĐQT đều là những cơ quan có
<small>'S Là các cơng ty có số lượng cơ đơng ít, các cổ đơng thường quen biết hoặc có mối quan hệ thân tín với nhau</small>
<small>(small closely held companies).</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">quyền đưa ra các quyết định nhân danh công ty song hoạt động kinh doanh của công ty chủ yêu được quản lý bởi các thành viên HĐQT - những người có thé thực hiện “tất cả các thầm quyền của công ty”’*. Tuy nhiên, khi HĐQT gặp “bề tắc” trong việc đưa ra quyết định, DHDCD sẽ là cơ quan có quyền quyết định giải quyết tình trạng đó. Như vậy, Luật Cơng ty năm 2006 của Vương quốc Anh mặc dù trao quyền cho HĐQT trong việc quyết định tất cả các van đề liên quan đến việc quản lí cơng ty song vẫn dành quyền can thiệp cho DHDCD thông qua nghị quyết đặc biệt dé thực hiện quyền quan lý công ty. Quyền năng này của DHDCD được gọi là các quyền lực còn lại sau khi đã trao các quyền cụ thê cho HĐQT. Trên thực tế, quyền lực này của ĐHĐCĐ thường ít được sử dụng vì khi cỗ đông không đồng ý với quyết định của HĐQT, họ có thể thực hiện quyền bãi nhiệm HĐQT vì theo quy định tại Điều 168 Luật Công ty 2006, việc bãi nhiệm HĐQT có thê được thực hiện chỉ băng một nghị quyết thơng thường.
Mục đích của các quy định về quản trị công ty của Vương quốc Anh cũng khơng có sự khác biệt với các quy định về quản trị cơng ty của các nước phát triển, đó là đảm bảo những người quản lí cơng ty khơng dùng tiền của
<small>cơng ty phục vụ cho lợi ích riêng mà phải hành động vì lợi ích của các chủ sở</small>
hữu cơng ty, mặc dù những người quản lí này được chủ sở hữu trao cho quyền tự quyết rất lớn trong việc quản lý cơng ty. Nói cách khác, các quy định này nhằm dung hịa lợi ích giữa chủ sở hữu và những người quan lý công ty `.
<small>b. Thụy sĩ</small>
<small>'* Điều 70 Bảng A Điều lệ mẫu cơng ty ban hành kèm theo Luật Cơng ty (trích dan theo Hà Thị Thanh Bình(2015), Điều hịa lợi ích của cỗ đông và người quản lý công ty đại chúng ở Vương quốc Anh, tap chí Luậthọc, số 12, tr.59.</small>
<small>'S Trích dẫn theo Ha Thị Thanh Binh (2015), Điều hịa lợi ích của cổ đơng và người quản lý cơng ty đạichúng ở Vương quốc Anh, tap chí Luật học, số 12, tr.59.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">Tháng 3 năm 2013, người dân Thụy Sĩ đã bỏ phiếu thông qua “sáng kiến Minder”, sáng kiến này đã đưa ra những thay đổi đáng kể đối với các quy tắc quan trị tại các cơng ty cơ phần có cổ phiếu được niêm yết trên thị trường chứng khoán Thụy Sĩ hoặc nước ngoài. Nội dung sáng kiến như sau:
Yêu cầu ràng buộc phải bỏ phiếu hàng năm về tiền thù lao cho hội đồng quản trị và ban giám đốc tại cuộc họp cô đông, không cấp tiền trợ cấp thơi việc, tạm ứng hay các giao dịch thanh tốn cho thành viên hội đồng quan tri và ban giám đốc được cổ đông bầu hàng năm. Vi phạm các quy định mới sé bị xử nặng, bao gồm ngồi tù lên đến 3 năm và nộp tiền phạt tối đa 6 lần thu
<small>nhập hàng năm.</small>
Dé bảo vệ nền kinh tế, tài sản tư và các cổ đông, và nhăm quản lý doanh nghiệp bền vững, luật quy định các cơng ty cơng Thụy Sỹ có niêm yết
<small>trên sàn chứng khốn trong và ngồi nước tn thủ các quy định sau:</small>
- Hàng năm, đại hội cổ đông thống nhất thù lao của hội đồng quản trị, ban giảm đốc va ban có vẫn (cả tiền mặt và hiện vật). mỗi năm, đại hội cũng bầu chủ tịch hội đồng quản trị, các thành viên hội đồng quản trị (từng người một), các thành viên ủy ban bồi thường va một đại diện độc lập. các cổ đông bỏ phiếu điện tử; không bỏ phiếu qua người đại diện hay bỏ phiếu bằng văn
- Các thành viên hội đồng quản trị không được chi trả bồi thường khi rời nhiệm sở hay bất kì một khoản bồi thường nào khác theo dạng tạm ứng, <small>cũng như không được thường khi công ty sát nhập hay bán và cũng không</small>
được làm tư vấn hay làm việc cho các công ty khác trong tập đồn. Việc quản
<small>lý cơng ty khơng được giao cho một đơn vi có tư cách pháp nhân.</small>
- Các điều lệ của công ty quy định các khoản tiền hưu, các khoản vay và tín dụng cho các thành viên hội đồng quản trị, kế hoạch thưởng và SỐ
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">lượng các nhiệm vụ bên ngoài, cũng như thời gian của Hợp đồng lao động với
<small>các thành viên quản lý.</small>
- Vi phạm các quy định từ điểm a đến c nói trên sẽ bị phạt tù tối đa 3 năm và nộp phạt tối đa 6 tháng thù lao.
Chính phủ Thụy Sĩ đã phê duyệt một pháp lệnh vào tháng 11/2013 về
việc thực hiện điều chỉnh Hiến pháp, có hiệu lực từ đầu năm 2014. Các cổ đơng do đó có thé bỏ phiếu các khoản bồi thường cho năm 2014 tại cuộc họp cô đông năm 2015. Pháp lệnh sẽ được thay thé bằng luật liên bang do Nghị viện phê chuẩn “.
1.5. Khái niệm và nội dung cơ bản của pháp luật về rủi ro pháp lý trong tô chức, quản lý công ty cổ phan
1.5.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về rủi ro pháp lý trong tổ chức, quản lý công ty cỗ phan
Tổ chức, quản ly công ty cổ phan ở đây được hiểu theo nghĩa rộng đồng nghĩa với việc quản trị CTCP. Theo đó, việc tơ chức, quản lý CTCP được xem là hệ thống các thiết chế, chính sách, thông lệ nhằm định hướng, vận hành và kiểm soát CTCP. Tổ chức, quản lý CTCP cũng bao hàm mối quan hệ giữa nhiều bên, không chỉ trong nội bộ CTCP như các cô đông, ban giám đốc, HĐQT mà cịn những bên có lợi ích liên quan bên ngồi cơng ty như cơ quan quản lí nhà nước, các đối tác kinh doanh và cả môi trường, cộng đồng, xã hội”. Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn, tác giả nghiên cứu các rủi ro pháp lý trong việc tổ chức, quản lý CTCP cũng chính là những rủi
<small>'* OECD (2014), Risk management and Corporate Governance, Corporate Governance, OECD publishing,</small>
<small>page 76, Nguyễn Quy Trọng (2014), Thách thức trong quan trị công ty cổ phần ở Việt Nam từ li thuyết đến thựctiễn áp dụng, tap chí Luật hoc, số 2, tr. 54</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">ro, thách thức đặt ra đối với việc quản trị CTCP theo quy định của pháp luật
<small>Việt Nam, đặc biệt là LDN 2014.</small>
Theo đó, xét về mặt thuật ngữ pháp lý, có thê hiểu pháp luật về rủi ro pháp lý trong tổ chức, quan lí cơng ty cơ phần được hiểu là hệ thống các quy định của pháp luật doanh nghiệp điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc kiểm soát, hạn chế và xử lý các rủi ro về mặt pháp ly mà công ty cổ phần có thể phải đối mặt trong q trình quản lý, điều hành công ty từ giai
<small>đoạn thành lập, hoạt động cho tới khi rút lui khỏi thị trường.</small>
Hệ thống các quy định của pháp luật về rủi ro pháp lý trong tô chức, quan lý công ty cổ phần có các đặc điểm và cũng chính là điểm khác biệt của nhóm các quy định này so với các quy định khác về CTCP sau đây:
Thứ nhất, về đối tượng điều chỉnh: Giống như tên gọi của nhóm quy định pháp luật này, pháp luật về rủi ro pháp lý trong tổ chức, quản lí CTCP có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ pháp luật phát sinh trong q trình điều hành cơng ty bao gồm việc đăng ký thành lập công ty, lựa chọn mô hình tổ chức, sắp xếp nhân sự vào các vi trí trong bộ máy đó, ra các quyết định, kí kết hợp đồng, tiễn hành thủ tục giải thé, phá sản công ty.
Thứ hai, về phạm vi điều chỉnh: Các quy định của pháp luật về rủi ro pháp ly trong tổ chức, quản lí CTCP khơng nằm tron ven trong một phan cụ thé nào của LDN mà nam rai rác ở trong các điều luật khác nhau. Các quy định này điều chỉnh việc thành lập, hoạt động, giải thể và tổ chức lại của CTCP bao gồm cả các Công ty cổ phan đã niêm yết trên thị trường chứng khoán và chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán.
1.5.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về rủi ro pháp lý trong té chức, quản lý công ty cổ phan
Ngay khi quyết định gia nhập thị trường, CTCP đã phải xác định rõ việc phải đối mặt với những rủi ro pháp lý khác nhau trong q trình hoạt
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">động của minh. Có thé chia nội dung pháp luật về rủi ro pháp lý trong tô
<small>chức, quan lý CTCP theo quy định của LDN 2014 thành các giai đoạn sauđây:</small>
<small>- Rủi ro pháp lý trong việc gia nhập thị trường:</small>
Nham tạo hành lang pháp lý cơ bản cho các CTCP thành lập, hoạt động, LDN 2014 đã đưa ra các quy định cụ thé về các bảo đảm của nhà nước đối với công ty và chủ sở hữu công ty (Điều 5); quy định về quyền và nghĩa cụ của công ty (Điều 7, Điều 8); Các quy định trong Chương II LDN 2014, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp, ngày 14/9/2015 (sau đây gọi tắt là Nghị định 78/2015/NĐ-CP) về thành lập doanh nghiệp bao gồm: quyền thành lập, góp vốn, mua cơ phan và quản lý doanh nghiệp; hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp; hồ sơ đăng ký thành lập công ty; Điều lệ cơng ty; Chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn; Định giá tài sản góp vốn; tên, con dấu của công ty; Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2015 quy định chi tiết một số điều của Luật doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là Nghị định số 96/2015/NĐ-CP) về con dấu doanh nghiệp...
<small>- Rui ro pháp ly trong qua trình hoạt động:</small>
Quá trình hoạt động, công ty phải ra các quyết sách và thực hiện rất nhiều các giao dịch khác nhau nhằm phục vụ cho sự phát triển của công ty và mang lại lợi nhuận cho các cơ đơng. Đây cũng chính là giai đoạn nảy sinh nhiều rủi ro dẫn tới các tranh chấp kinh doanh, thương mại nhất trong công ty. Ví dụ như các tranh chấp giữa các cỗ đơng công ty với công ty, giữa các cỗ đông công ty với nhau; giữa công ty với đối tác của công ty liên quan tới các quyết định của GD/TGD, của HĐQT với những người có liên quan... Nguyên nhân của các tranh chấp này xuất phát từ nhóm các quy định của LDN về mơ hình tổ chức, quản ly nội bộ CTCP tại Chương V LDN 2014 từ Điều 110 đến
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">Điều 171 và các văn bản nội bộ của công ty như Điều lệ, nội quy, quy chế của
<small>công ty.</small>
<small>- Rủi ro pháp lý trong việc rút lui khỏi thị trường:</small>
<small>Trước nhũng rủi ro trong kinh doanh, khơng phải cơng ty nào cũng có</small>
thé đủ sức mạnh dé vượt qua. Bởi vậy, khi không cịn khả năng duy trì hoạt động thì cách tốt nhất là nên để doanh nghiệp chấm dứt hoạt động. Bản thân việc chấm dứt hoạt động này có lẽ cũng đã là một rủi ro đối với các nhà đầu tư. Bởi lẽ, không ai khi đầu tư thành lập cơng ty lại mong muốn cơng ty của mình bị giải thể hoặc phá sản. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật doanh nghiệp quy định về việc rút lui khỏi thị trường của CTCP cũng bộc lộ những điểm bắt hợp lý, gây ra các rủi ro nhất định đối với công ty. Các quy định này năm trong Chương IX LDN 2014 từ Điều 201 đến Điều 207.
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">Chương 2. THUC TRẠNG PHÁP LUAT VE RỦI RO PHÁP LÝ TRONG TO CHỨC, QUAN LY CÔNG TY CO PHAN Ở VIỆT
2.1. Những quy định về rủi ro pháp lý trong tổ chức, quan lý công ty cỗ phần
2.1.1. Rui ro pháp lý trong việc gia nhập thị trường của công ty cỗ phan 2.1.1.1. Về việc đăng ký thành lập doanh nghiệp
Đăng ký doanh nghiệp là một hành vi pháp lý, do các nhà đầu tư chủ động thực hiện. Theo đó, nhà đầu tư cơng khai hóa trên thương trường sự xuất
<small>hiện của mình. Thơng qua đó, họ được nhà nước và pháp luật bảo hộ, đảm</small>
bảo an toàn pháp lý về những hoạt động kinh doanh được cơng khai hóa. Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp được quy định cụ thể tại Chương II của LDN 2014, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP và Nghị định số 96/2015/NĐ-CP. Công ty cô phan là một trong năm loại hình doanh nghiệp
<small>được thừa nhận trong LDN của Việt Nam. Do đó, việc đăng ký thành lậpCTCP cũng sẽ phải tuân thủ các quy định của LDN nêu trên. Vì vậy, khi phântích các rủi ro pháp lý của CTCP trong quá trình gia nhập thị trường, tác giả</small>
sẽ tập trung nghiên cứu, làm rõ những điểm hạn chế, bất cập trong quy định của LDN 2014 và các văn bản pháp lý liên quan về đăng ký thành lập doanh nghiệp, từ đó chỉ ra những rủi ro mà CTCP có thể gặp phải khi thực hiện thủ
<small>tục đăng ký doanh nghiệp.</small>
Thứ nhất, về hồ sơ đăng ký kinh doanh: Công ty cô phan có thé nộp hỗ sơ trực tiếp hoặc gián tiếp tới Sở Kế hoạch và Đầu tư nơi Công ty đặt trụ sở chính. Theo quy định tại Điều 23 LDN 2014 thì hồ sơ đăng ký thành lập CTCP bao gồm: “Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp; Điều lệ công ty; Danh sách cô đông sáng lập và cổ đơng là nhà đầu tư nước ngồi; Ban sao các giấy
<small>tờ sau đây: a) Thẻ căn cước công dân, Giây chứng minh nhân dân, Hộ chiêu</small>
</div>