Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (8.37 MB, 82 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
BỘ TƯ PHÁP.
TRUONG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HÀ NỘI - 6/2017
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><small>MỤC LỤC</small>
<small>thành niên thực biện từ góc độ tâm lý —</small>
<small>Lý luận và thực tiễn</small>
<small>1. |Phòng ngừa tội phạm từ góc độ tâm lý|TS. Chu Văn Đức 1</small>
học hiện đại qua lý thuyết tương tác
<small>Phong ngita tội phạm theo quan điểm của | TS. GVC. Bùi Kim Chỉ 7</small>
tâm lý học hành vì ~ Lý luận va thực tiễn
4, _| Tée dung phịng ngàa tội phạm của hình|GV.NguyềnThànhLong — [23
<small>phạt đưới góc độ tâm lý</small>
<small>5. [Phịng ngừa các tội phạm bạo lực từ góc | ThS. GVC. Dương Thị Loan |27</small>
<small>độ tâm lý học — Lý luận và thực tiễn</small>
<small>6. [Phòng ngừa tội phạm về tham những từ| TS. Lý Văn Quyền. 3“sóc độ tâm lý học ~ Lý luận và thực tiễn</small>
<small>7... | Phòng ngừa tội phạm mại dâm từ góc độ | TS. GVC. Bài Kim Chỉ 4</small>
tâm lý học — Lý luận và thực tiễn
<small>Phong ngừa các tội phạm về ma túy từ | ThS. GVC. Dương Thi Loan |62</small>
góc độ tâm lý học — Lý luận và thực tiễn
<small>9%. [Phòng ngừa tội phạm do người chưa|TS.Lý Văn Quyền 5</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3"><small>TS. Chu Văn Đức</small>
1. Đặtvấn đề
Lê Văn Q, 27 tuổi, yêu chị H, 22 tuổi. Năm 2012, chị H lên tinh học. Ở đây chi gặp rồi yêu anh N, vì thé chị H gọi điện nói lời chia tay với anh Q. Ngay hôm sau, Q đi xe máy lên tỉnh, hẹn gặp anh N để nói chuyện nhưng bị N từ chối. Tối hém đó, Q ngủ nhờ ở nhà người quen. Sáng hôm sau anh ta đã lấy một con dao
của chủ nhà, giấu dưới yên xe máy, tim dén phòng trọ của chị H, thuyết phục chị H
chim dứt quan hệ với N. Chị H không đồng ý. Q tức giận, giật điện thoại của chị H ném xuống đất, sau đó ra lẫy con dao đặt lên giường và nói: “Bây giờ đứa nào phan bội, đứa đó phải chết". Chị H hoảng sợ, giả vờ di vệ sinh, rồi bắt ngờ xô O,
chạy ra đường và hơ to: “Có kẻ giết người, có kẻ giét người, cứu, cứu... ". Q cằm dao chạy theo và khi dudi kip chị H thi đâm liên nếp vào người chị. Kết quả Khám:
"nghiệm nữ thi cho thấp chi H bị giết bởi 29 nhát dao.
<small>“Trong lịch sử lâu dai của tâm lí học, cuộc tranh luận về tính quyết định</small>
giữa con người (cá nhân, cá tính, nhân cách) và hồn cảnh đối với hành vi ln tồn tại dai ding. Cuộc tranh luận này đã đưa đến sự xuất hiện của quan điểm tương tác.
(reciprocal determinism) rằng con người và hoàn cảnh tương tác lẫn nhau, cùng.
quy định hành vi và hành vi có tác động trở lại đối với cả con người và hoàn cảnh. Quan điểm này mang tính tổng hợp, dung hịa nhiều lý thuyết đối lập và có lẽ vì
<small>vậy nhanh chống được chấp nhận và trở nên thịnh hành trong tâm lí học hiện đại,vốn được đặc trưng bởi sự đa dang và sự sống chung tương đối hịa bình giữa các</small>
trường phái. Bài viết này sử dụng mơ hình tương tác kết hợp với mơ hình thơng tin. = nhận thức để ban luận về phòng ngừa hành vi phạm tội. Đài viết cũng sử dung
<small>tình huống phạm tội được mơ tả ở trên như là ví dụ chính để phân tích, minh hoa.</small>
2... Lý thuyết tương tác và biện pháp phòng ngừa tội phạm.
<small>Lý thuyết tương tác xuất hiện từ cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa hành vicực đoan vốn nhắn mạnh vai trị quyết định của hồn cảnh, xem nhẹ yếu tố con</small> người đối với hành vi, va Albert Bandura, nhà tâm If học nỗi tiếng người Mỹ, cha.
đẻ của lý thuyết học tập xã hội được xem là tác giả chính. Theo lý thuyết tương tác,
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4"><small>"hành vi cũng tác động trở lại con người và hồn cảnh. Vi dụ, một người thích.</small>
đã tim đến ngày hội bia và ở đó anh ta được uồng bia thỏa sức. Những năm. sau, anh ta luôn có mặt ở ngày hội bia. Ap dụng lý thuyết này vào hành vi phạm. tội, chủng ta có sơ đồ dưới day:
<small>Toàn cảnh</small>
(inh huồng)
<small>‘So đồ 1: Hành vi phạm tội theo lý thuyết tương tác</small>
Theo sơ 46 2, biện pháp phịng ngừa tội phạm có thể tác động vào con
người, hoàn cảnh hoặc hành vi, hoặc đồng thời cả 3.
<small>Các biện pháp tác động vào con người</small>
Con người (cá nhân, cá tính, nhân cách) là một hệ thống mở phức tạp bao gồm nhiều thành phần, nhiều mặt có vai trị có thể khơng như nhau trong quan hệ với hành vi. Ở đây, sẽ xem xét: các đặc điểm sinh vật, các đặc điểm được hình
thành, các tiến trình trí tuệ (nhận thức), cảm xúc bao gồm cả được ý thức vả không. <small>được ý thức,</small>
Cée đặc diém sinh vật
“Con người trước hết là một sinh vật”, 'Sinh lý là nền tảng của tâm lí và hành vi”, v.v. Day là những câu nói mà chúng ta thường nghe thấy khi nhì nhận về con người, về bản năng, về các đặc điểm bam sinh di truyền ở con người, ý
muốn nhắn manh vai trò quan trong của chúng đổi với tư duy và hành vi của con người. Vậy các đặc điểm này có vai trị như thé nào đối với hành vĩ nói chung và
<small>3</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5"><small>hành vi phạm tội nói riêng? Trong lich sử tư tưởng nhân loại, khơng ít nhà tư</small>
tưởng, nhà khoa học (khơng chỉ đơn thần là nhà tâm lí học) xem các đặc điểm sinh. vật là yếu tố quyết định hành vi. Vi dụ, Franz Joseph Gall (1758-1828), cha đẻ của thuyết định khu chức năng của não và khoa tướng sọ học, cho rằng các khả nang ở
con người ở những mức độ khác nhau và tit cả đều bẩm sinh [3, tr.334-336]. Với S, Freud (1856-1939) và nhiều nhà phân tâm học, các bản năng là khối quyết định hành vi, nếu như không phải tất cả thì hầu hết hành vi, kể cả hành vi phạm tội, được thúc đẩy bởi những xung năng có nguồn gốc từ khối bản năng. Các xung năng nay, hung hăng và mù quáng, có th phamé bắt chấp luân thường đạo lý, bat chấp các chuẩn mục đạo đức, pháp luật, bởi vậy ai trong chúng ta cũng có thể phạm tội và phịng ngừa tội phạm có nghĩa là: a, tạo rào cân để các xung năng
không đưa đến hành vi trên thực tổ; 2, tao gn để giải toa các xung năng [11, 1r.97-102]. Cho nên việc chọn nghề phủ hợp, ví dụ một người có tính gây hắn cao
có thể làm nghề giết mé gia súc, việc này giúp anh ta giải tỏa phần nào hung tính ‘va trở nên hiền lành hơn; việc t6 chức các hoạt động, các hình thức vui chơi, thm
chí thể thao mạo hiểm, bạo lực (đấm bỗ:) cũng có tác dụng. Nguy hiểm là tỉnh "rạng sang năng không được giải t5a dẫn đến “nhàn cư vi bết thiện” như người xưa
Theo kết quả nghiên ảnh hưởng của yếu tố di truyền trên các đặc điểm thể. chất, trí thông minh và nhân cách của Thomas Bouchard (1984) ở 4 mẫu cặp song. <small>sinh: 1, khác trứng, được nuôi dưỡng chưng với nhau; 2, khác trứng, được nuôidưỡng cách biệt; 3, cùng trứng, được nuôi dưỡng chung với nhau; 3, cùng trứng,</small>
được nuôi dưỡng cách biệt. Kết quả đưa ông đến kết luận về sự ảnh hưởng mạnh "mẽ của yếu tổ di truyền: thé lí giống nhau hầu như 100%, trí thơng minh: 50-80%
<small>và cả các đặc tinh nhân cách (DT. 2, tr651-654].</small>
6 đại học Minnesota, nha tâm lí học nhân cách Auke Tellegen nghiên cứu <small>các nét nhân cách ở 350 cặp song sinh, trong đó có 44 cặp song sinh cùng trứng</small>
.được nuôi đưỡng cách biệt nhau. Bằng cách cho họ lim một tập trắc nghiệm đánh
<small>giá 11 nét nhân cách, Auke Tellegen đã xác định được mức độ ảnh hưởng của gene</small>
<small>di truyền đối với 11 nét nhân cách này là từ 61% (đối với nét thích có quyển lực.</small>
trong xã hội) đến 33% (thích rang buộc xã hội) [DT. 2, tr. 490-491].
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6"><small>'Trong lĩnh vực tâm sinh lí tội phạm, nhà tâm lí học Adrian Reine (2002) đặc,</small>
biệt chú ý đến nền ting sinh lí của tội phạm. Mới đây, năm 2013, sau hàng chục năm. nghiển cứu về tâm sinh lí tội phạm đã cho ra mắt cuốn The Anatomy of Violence: The
<small>Biological Roots of Crime, trong </small><sub>đó ơng cho rằng “50% tội ác đã được ngầm quy định</sub> ‘rong bộ gene [5].
Niu vậy, có thể thấy rằng có nhiều cơng tình nghiên cứu của nhiều nhà tâm sinh lý học nỗi tiếng cho thấy các đặc điểm sinh học là yếu tố chính ảnh hướng đến
"hành vi nói chung và hành vi phạm tội nối riêng, Va như B.R Hergenhan cho biết các
<small>nha khoa học này đề xuất mức ảnh hưởng 50% cho yếu tố di truyền, 50% còn lại cho.</small> mơi trường [3, tr.653-654]. Điều này có nghĩa rằng, trong việc phòng ngừa tội phạm. cần chú ý đến yếu tố sinh học. Tuy nhiên, ở nước ta, việc áp dụng những biện pháp.
phòng ngứa tác động tr yếu trên sinh lý của người phạm tội, có lẽ là chưa có. Ở Mỹ, với những trường hợp phạm tội ấu dâm và có hóc mơn tinh đục cao có thé bị áp dụng biện
<small>1à sau hàng loạt vụ lạm dung tinh dục trẻ em được phát hiện trong thời gian qua.</small>
Quay trở lại với hành vi phạm tội eda Lé Văn Q, do khơng có thơng tin về
pha hệ của Lê Van Q, chúng ta rét khó nói đến vai trd của các đặc điểm sinh học ở đây. Tuy vậy, hành vi của Q cũng cho thấy những đặc tính nhân cách chịu ảnh
hưởng lớn của yếu tố di truyền theo nghiên cứu của Auke Tellegen như kiểu phản. đứng cảm xức, phấn ứng với stress. Ngoài ra cũng có thể nhận thấy rằng Q bị đồn.
nnến ghê gớm về cảm xúc.
“Các đặc tính hình thành trong q trình sống,
Phin lớn các nhà tâm If học thừa nhận sự hiện diện và ảnh hưởng của các .đặc điểm nhân cách được hình thành trong cuộc đời trên hành vi con người. Ngay cả S.Freud, dù cho rằng bản tính con người là xấu, là mâu thuẫn với xã hội, tuy
<small>°</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">nghiệp chẳng hạn. Trong trường hợp của Q, đáng tiếc là chuẩn mực đạo đức, lương.
<small>tâm của Q không đủ mạnh, rào cản bên ngồi xã hội cũng khơng đủ lực ngăn cản Qđừng lại trước bi kịch của cuộc địi.</small>
nhiều trong những năm gần đây) thì chính những nét nhân cách tiêu cực được hình thành ở con người do những thiếu sót từ mơi trường sống và hoạt động là nguyên. nhân chính đưa con người đến chỗ phạm tội. Tinh huống nêu trên khơng cung cấp.
nhiều thơng tin về q trình sinh trưởng, hoạt động của Q. Tuy nhiên, qua hành vi
của Q có thể nhận xét về những nét trong cá tính của Q như: khả năng kiêm chế yếu, ích kỷ hẹp hịi, thiếu bao dung, thiếu hiểu biết, trí tuệ cảm xúc thấp, gia. <small>trưởng, bộc trực... Chính con người Q với những nét cá tính này, khi gặp tình</small> huống bị bạn gái bỏ rơi, đã đưa Q đến với tội ác.
lý thuyết gắn bó (attachment theory). Theo lý thuyết nay, từ rất sớm, trước 3 tuổi,
qua sự tương tác với người ni đưỡng, tré đã sớm hình thành kiểu gắn bố với người ni đưỡng và kiểu gắn bó này sẽ quy định kiểu quan hệ sau này của trẻ với người xung quanh [5]. Tiến sỹ tâm lí thực hành Bemie Katz là người ứng dụng.
thuyết gắn bó trong trị liệu hành vi và thu được kết quả tích cực [4, tr. 97-123]. Theo lý thuyết này, suy ngược lại trường hợp của Q, có thể phán đốn rằng hành vi ứng xử của
Q với bạn gái có một phần nguyên nhân từ những hạn chế của mối quan hệ giữa Q và
<small>‘Tom lạ, trong những nguyên nhân đưa con người trưởng thành đến với tội</small>
<small>phạm có những nét nhân cánh được hình thành trong quá trình sinh trưởng, đặc biệt ở</small>
thời thơ ấu của người đó, và để phịng ngừa tội phạm cần chú ý han chế, loại bỏ nguyên.
nhân, điều kiện của những nét nhân cách nay. Tiển trình trí tuệ và xử lí thơng tin
“Theo quan điểm của các nhà tâm lí học nhận thức, ngun nhân của hành vỉ nói
<small>‘chung và hành vi phạm tội nói riêng là những ý nghĩ, những niềm tin [2, tr535]. Những</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">ý nghĩ, những niễm cin nảy xuất hiện chủ yếu từ sự quan sát, từ học hỏi xã hội. Còn nói
<small>theo các nhà tâm lí học xử lí hơng tin tl chính từ q tỉnh xử lí hơng tin tha được từ</small>
<small>môi trường. Trong trường hợp của Q, Q đã có những ý nghĩ, những niềm tin sai lầm, rit</small> có thể ở dạng như: H là của mình, minh bị phân bội, minh bị coi thường, với một thẳng. <small>đàn ơng như vậy là nhục nha... Chính những ý nghĩ, niềm tin này đã đưa Q đến hành vi</small>
tội lỗi. Nếu như Q khơng có những ¥ nghĩ đó mà lại có những ý nghĩ ngược lại, chẳng,
hạn như: đó quyền của H, H có quyền tìm hạnh phúc cho mình, giữa mình và H chưa. <small>có gì rằng buộc, minh phải tơn trọng H, hoặc thậm chí nf: tại sao H quyết định như</small> vậy, điều đó có nghĩa gì, tốt hay xấu cho mình, tốt ở điểm nào, mình nên làm gì là tốt nhất v.v. thì tội ác trên chắc đã không xảy ra. Nhu vậy có thé thấy rằng chính việc thiếu
kỹ năng tư duy đúng, từ việc phân tích, đánh giá thơng tin, tình huống, Q đã đi đến
hành vi sai lẫm. Và như vậy phòng ngừa tội phạm phải bát đầu từ việc giáo dục, bồi
<small>Các biện pháp tác động vào hoàn cảnh</small>
‘Hoan cảnh ở đây bao gồm cả hoàn cảnh trước mắt (tình huỗng) và hồn cảnh sống nói chung. Như trên đã nói, nhiều nhà tâm lí học cho rằng ảnh hưởng của yếu tổ di truyền ở mức 50%, ode lại 50% thuộc về hoàn cảnh. Tuy nhiên, khơng phải nhà tâm lí
Các nhà tâm Jý học hành vi cực đoan, mà tiêu biểu là John Broadus Watson (1878-1958), người sáng lập thuyết hành vi, gán cho hoàn cảnh quyền lực tuyệt đối: tắt cả đều bắt nguồn từ hoàn cảnh, từ mơi trường bêu ngồi; mọi hành vị của con người và cả sinh vật khác nổi chung, đều do học hỏi hoặc tập nhiễm; bản năng,
nghiệm của cá nhân. Ví dy, một đứa trẻ thực hiện một bành vi ăn cấp vả điều đó
<small>Tại bành vi đó.</small>
Các nhà tâm lí học hoạt động, mặc dù coi trọng các phẩm chất nhân cách. được hình thành, các động cơ bên trong, tuy nhiên, vẻ thực chất, họ cũng gần cho
<small>»</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">hồn cảnh vai trị chính, bởi vì theo họ, mọi thứ bên trong tâm hồn mà một người
có, đều là sự phản ánh của hồn cảnh bên nạc
<small>"Ngày nay, ảnh hưởng của chủ nghĩa hành vĩ cực đoan đã suy giảm nhiều,</small>
hiểm có nhà tâm lí học não chỉ đi theo quan điểm cực đoan. Các nhà tâm lí học có
<small>mang tính tổng hợp. Trong sự tương tác con người — hồn cảnh ~ hành vi, các nhà</small> tâm lí học coi trong cả con người lẫn hoàn cảnh. Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó, theo tác giả bài viết, khi cần thay đổi hành vi của con người thì người ta thường. tìm cách thay đổi hồn cảnh do những lí do chính sau đây:
Thứ nhất, trong da phần trường hợp, thay đổi hồn cảnh thì đỗ dàng và
nhanh hơn là thay đổi con người;
Thứ hai, thay đổi hoàn cảnh sẽ đưa đến thay đỗi hành vi;
<small>Thứ ba, thực nghiệm, ví dụ như thực nghiệm nhà tù Stanford (1971), thực</small> nghiệm điện giật Stanley Milgram (1961) v.v... cho thấy rằng con người có cả mặt
tốt, mặt xấu và chúng ta thé hiện cái gì ra bền ngồi là do hồn cảnh. Khi hồn
cảnh khuyến khích cái xấu khơng cịn thi chúng ta lại trở lại là người bình thường, ‘Trong cơng tác phịng ngừa tội phạm, thực nghiệm 6 cửa sổ vỡ của James
đầu từ những thay d6i hoàn cảnh, từ hững việc làm nhỏ nhất như don sạch một
đồng rác, xóa những vết sơn bin trên tường của một him bộ hành sửa lại một 6 kính cửa số bị vỡ... Mới đây, thanh niên Tp. Hồ Chi Minh đã dùng sơn vẽ những, bức tranh đẹp, nhiều màu sắc lên các nắp cổng trên via hè đường phố, vốn là nơi người dân vứt đủ thứ rác, Điều này làm thay đổi hành vi của người dân thành phố:
<small>họ thấy những hình vẽ đẹp và khơng nỡ vút rác lên 6 nữa [13]. Đây là một ví dụ</small>
sinh động về sự tương tác giữa bộ ba: con người, hoàn cảnh và hành vi.
4. Kếtluận
“Trong bối cảnh có sự đa dang của các lý thuyết tâm lí học giải thích hành vi
<small>phạm tội, lý thuyết tương tác của Albert Bandura là một mơ hình mang tính tổng</small>
hợp, dung hịa, dung nạp được nhiều lí thuyết, nhiều quan điểm về tội phạm và.
<small>phịng ngừa tội phạm. Việc phân tích cho thấy để phịng ngừa tội phạm cần áp</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">dụng nhiều biện tác động riêng rẽ hoặc đồng thởi lên ba mặt: con người, bối cảnh.
<small>và hành ví phạm tội.</small>
<small>TÀI LIỆU THAM KHẢO.</small>
<small>1. Trịnh Anh (25/12/2009), Ta chung thân kẻ dién cuồng dim người yêu 29</small>
<small>2... Roberts Feldman (2004), Tam Ji lạc cain đán, Người dich Minh Đức và Hồ.Kim Chung), NXB. Văn hố ~ Thơng tin, Tp. Hồ Chí Minh, tr.472-595.</small>
<small>3. BIR Hergenhiahn (2003), Nhập môn lịch sử tâm I hoe, Nxb. Thống kế Hà Nội.</small>
<small>4. Philip Van Munching và Bemic Katz (2007), Sao tôi không hạnh phic, Thu</small>
.Huyền dich, NXR, Lao động-Xã hội, 2009, . 93-127,
5. Phạm Hoài Thảo Ngân (2014), Học thuyết gắn bó của Bowly và những lưu trong việc chăm sóc trẻ, Tạp chí KHOA HOC DUSP TPHCM, số 4T, tr.147-155.
số. _ Cánh Toàn (15/03/2017), Tội phạm du dâm ở Mỹ có thé sẽ bị thiền hóa
post728388. html
<small>7. Pi Uy (07/06/2013), Cuốn sách phân tích khả năng phạm tội của con người</small> qua... gương mặt, Báo điện <sup>tử Dân trí.</sup>
<small>8 BamyD. Smith & Harold J. Vetter (bién dịch Nguyễn Kim Dân), Các fipe</small>
‘thas vệ nhấn cách, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội 2005, 385-409.
<small>9. ADRIAN RAINE (2002), The Biological Basis of Crime. Chapter in Crime~Public Policies for Crime Control, J.Q- Wilson and J.Pet-rsilia (Editors) 2002. ICS Press:</small>
<small>Cakland, Califia (pp. 43-74),</small>
<small>10, Walter Mischel and Yuichi Shoda (1995), A Cognitive-Affective System‘Theory of Personality: Reconceptualizing Situations, Dispositions, Dynamics, and Invariancein Personality Structure, Psychological Review, Vol. 102, No. 2, 246-268.</small>
<small>LL. 2anwwM. Lllyp (1967), Hawe npecmynuoe o6mecmso, M.c. 97-103.</small>
12, Hu Nguyên (23/1/2016), TP.HCM sơn 7.200 nắp cống kêu gọi khơng xã
<small>“ác, </small>
<small>_ttpu/vnexpress.nettin-tuelthoi-su/tp-hem-son-7-200-nap-cong-kew-goi-khong-xa-2¢-3347040 bil</small>
<small></small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">TAS. Nguyễn Việt Khánh Hỏa. 1. Lý luận về phòng ngừa tội phạm và phòng ngừa tội phạm theo
'thuyết phân tâm học.
Phong ngừa tội phạm là một trong những mục đích cơ bản của nhiễu <small>ngành khoa học như Luật hình sự, tội phạm học, tâm lý học tội phạm</small>
phịng ngừa tội phạm là khơng để cho tội phạm xảy ra, thủ tiêu các nguyên nhân của tội phạm hay không để cho tội phạm gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, thủ.
<small>giáo dục người phạm tội, đưa họ trở thành những cơng dân có ích cho xã hội và</small> cho cộng đồng. “Phòng ngừa tội phạm là tổng hợp các biện pháp có quan hệ tác
mục đích ngăn chặn tội phạm và hạn chế, loại trừ những nguyên nhân sinh ra tội
dich hạn chế, loại trừ các nguyên nhân tội phạm, như là sự tác động lẫn nhau của các biện pháp kinh tế - xã hội, giáo dục - sư phạm, tổ chứu và pháp luột, như là một
16 hợp các biện pháp khác nhau của phịng ngừa tội phạm”'. Trong khi đó, ở nước.
ta về cơ bản đều thống nhất khi phân chia nội dung của phòng ngừa tội phạm theo hai cấp bậc rộng và hẹp khác nhau, cụ thể: Theo nghĩa rộng, phịng ngừa tội phạm bao ham, một mặt khơng để cho tội phạm xây ra thủ tiêu nguyên nhân va điều kiện phạm tội. Mặt khác, bằng mọi cách để ngăn chặn tội phạm, kịp thời phát hiện tội
<small>phạm, xử lý nghiêm minh các trường hợp phạm tội và cuối cùng là cải tạo, giáo,</small>
<small>duc người phạm tội, đưa họ trở thành những cơng dân có ích cho xã hội; theo nghĩa‘hep, phịng ngừa tội phạm là khơng để cho tội phạm xảy ra, khơng để cho tội phạm.êy hậu quả cho xã hội, không để cho thành viên của xã hội phái chịu hình phat</small>
cca pháp luật, tiết kiệm được những chỉ phí cần thiết cho Nhà nước trong cơng tác
<small>` TS. Trình Tiền Việt, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24 (2008), 195-196</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">điều tra, truy tố, xét xử và cải tạo giáo dục người phạm ti". Có quan điểm cho
rằng: “Phịng ngừa tội phạm lš sử dụng các phương pháp, chiến thuật, biện pháp,
phương tiện nghiệp vụ cần thiết, với sự tham gia của các lực lượng nhằm khắc phục mọi nguyên nhân, điều kiện không để tội phạm phát sinh, phát * Đẳng
<small>“thời chỉ ra trong phòng ngừa tội phạm: </small><sub>có ai nhóm biện pháp là phịng ngừa chung</sub> <small>và phịng ngừa riêng. Theo đó, phịng ngừa chung là sử đụng tổng hợp ede biện</small>
pháp kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, pháp luật... nhằm loại bỏ các yếu tố có thể
<small>trở thành nguyên nhân, điều kiện lam phát sinh, phát triển tội phạm, được toàn xã"hội tham gia thực hiện; phòng ngừa riêng là các biện pháp pháp luật, nghiệp vụ docác cơ quan chuyên môn như cơ quan Công an, Thanh tra, Viện Kiểm sát, Toa án,</small> Kiểm lâm, Cảnh sát biển... tiến hành nhằm vào những đối tượng cụ thé’. Hay: “Phong ngừa tội phạm tức là không để cho tội phạm xảy ra và gây nên những hậu. <small>‘qua nguy hiểm cho xã hội, không để cho các thành viên của xã hội phải gánh chịu</small> các hình phạt khắc nghiệt của pháp luật. Và nếu tội phạm od xảy ra thì phải kịp
thời phát hiện, xử Jy để đảm Đảo cho tội phạm khơng thé tránh khỏi hình phạt, giáo
đục và cải tạo người phạm tội trở thành cơng dân có ích cho xã hoi...” *; “Phong <small>ngừa tội phạm là ngăn ngừa tội phạm và loại trừ các nguyên nhân phát sinh tội</small>
phạm bằng toàn bộ những biện pháp fién quan với nhau do cơ quan Nhà nước và tổ
chức xã hội tiến hành””.“Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của các cơ quan, tổ chức và công dân, thục biện tổng thể các biện pháp tác động trực tiếp vào các nhóm ngun nhân của tội phạm để kiểm sốt, hạn chế tác dụng và loại trừ din "những nhóm nguyễn nhân này...
‘Nhu vậy, dù còn nhiều quan điểm khác nhau nhưng có thể khẳng định rằng, phịng ngừa tội phạm là việc áp dụng hệ thống các biện pháp kinh tế, xã hội, <small>?.G$TS. Đỗ Ngọc Quang, Giáo trình Tội phạm học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội,</small>
<small>pm ở nước ta hiện nay, NXB Chính ị Quốc gi, Hà NO</small>
*,Lê Thể Tiệm, Phạm Tự Phả và tập thé tác giả, Tội phạm ở Việt Nam - Thực trạng, nguyên nhân,
<small>và giải pháp, ĐỀ tai KX 04-14, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, 1994Từ điễn Luật học, NXB Từ dia Bách Khoa Ha Nội, Hà Nội, 1999</small>
<small>5.8, TS, Nguyễn Ngọc Hòa, Phong ngừa tội phạm trong Tội phạm học, Tạp chí Luật bọc, Số 6</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">‘van hóa, tư tưởng, pháp luật... trên mọi lĩnh vực, do các chủ thé phòng ngừa tội
phạm tiến hành nhằm ngăn ngừa, hạn chế tội phạm về cả số lượng, tính chất, mức. <small>đđộ nghiêm trong cũng như thiệt bại do hành vi phạm tội gây ra. Chủ thé của hoạtđộng phòng ngừa tội phạm là mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức hay nói cách Khác,</small> phòng ngừa tội phạm là trách nhiệm của cộng đồng.
Dui góc độ tâm lý học tội phạm, phịng ngừa tội phạm được hiểu là hệ thống các biện pháp, các quy định, các hành vi của cá nhân, tổ chức có những, ec điểm như: 1). Hình thành ở con người những phẩm chất tâm lý tích cực, những, thói quen hành vi phù hợp với chuẩn mực xã hội. 2). Ngăn chặn sự hình thành, loại bỏ, hạn chế những phẩm chất tâm lý tiêu cực, những thói quen hành vi không phù <small>hợp với chuẩn mực xã hội, giải toa khuynh hướng gây hắn, xâm kích. 3). Đảm bảo</small>
<small>hệ giữa tâm lý và hành vi ~ trong đó có hành vi phạm tội. Từ những hiện tượng,</small> tâm lý phổ biến ở con người như tình cảm, ý chí, nhận thức... trong sự tác động qua.
lại đến hành vi ~ những phản ánh, xử sự của con người trong tinh huồng cụ thể,
theo cơ chế tâm lý điều hành hành vi và hành vi tạo ra tâm lý. Bên cạnh đó, phịng,
ngừa tội phạm dưới góc độ tâm lý thực chất là việc áp dụng hệ thống các biện pháp
<small>tác động lên tâm lý người phạm tội, tập trung vào các hiện tượng tâm lý cơ bản</small>
như nhận thức, cảm xúc, ý chí, ý thức... những tác động này có thé đưa đến những. thay đổi lu đài hay tạm thời trong hành vi của con người. Chính vì vậy, phịng
<small>ngừa tội phạm dưới góc độ tâm lý vơ cùng đa dạng với nhiều hình thức khác nhau</small>
như vận động, tuyên truyền, thuyết phục hay bắt buộc, cưỡng chế, có thể thơng qua lý trí hoặc ngắm ngầm... Mặt khác, hoạt động phịng ngừa cũng mang tính phức tap do chính sự phức tạp của đời sống tâm lý, của các yếu tố quy định hành vi cũng
<small>như do đặc điểm riêng biệt chủ thể, sự đa dạng của tình huống phạm tội.</small>
<small>Phân tâm học là một trong những học thuyết ra đời đánh dấu sự phát</small>
triển của tâm lý học với tư cách là một ngành khoa học độc lập với sự khủng hoảng của tâm lý học cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Đây là trường phái đi sâu nghiên.
<small>cứu về hiện tượng vô thức trong đời sống tâm lý con người, là đối tượng nghiêncứu cơ bản của tâm lý học. Thuyết phân tâm học do Sigmund Freud (1856-1939),</small>
bác sĩ người Áo, gốc Do Thái khởi xướng. Ban đầu, Freud chịu ảnh hưởng sâu
<small>bởi lý thuyết của Darwin về nguồn gốc mn lồi cũng như việc sử dụng phương.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">pháp thôi min trong chữa trị căn bệnh loạn thần kinh của Jean Charcot, trong q
<small>trình nghiền cứu ơng đã đưa ra một phương phấp hoàn toàn mới áp dụng chữa</small> bệnh loạn thần kinh được đặt tên là “tự do liên tưởng”. Ông cho rằng, các hiện <small>tượng rồi loạn tâm lý của con người 1a do hiển tượng vô thức chỉ phối. Khẳng định.vô thức là phạm trù chủ yếu trong đời sống tâm lý con người. Ông đưa ra cấu trúc.</small> 3 thành phần về nhân cách là: Bản năng (cái nó — Tự ngã); Ban mgd (cái tôi) và. <small>Siêu ban ngã (cái siêu tồi). Theo đó, bán năng (cái nó — Tự ngã) bao gồm tất cảnhững cái gì con người có được từ khi mới sinh ra: ăn uống, tinh dục, tự vệ, trong</small>
<small>đó bản năng tình dục giữ vai trị quyết định tồn bộ đời sống sâm ty con người và</small>
hoạt động theo nguyên tắc thoá mãn, đại diện cho phần vô thức và ý thức chống.
đối xã hội của cá nhân. Ban nga (cái tôi) là cái trung gian giữa cái nó và cái bên <small>ngồi, Cái tơi — con người thường ngày, con người có ý thức. Cái tơi có nhiệm vụ</small>
kiểm sốt được những vận động theo ý minh, bảo đảm sự tồn tại. Đó là sự thé
<small>cá tinh tâm lý của con người, thể hiện trong những hoạt động có ý thức với hànhđộng có ý chỉ như tr giác, ngơn ngữ hay các thao téc trí tuệ khác Cái ơi hoạt động</small> theo nguyên tắc hiện thực, có thể đè nén xung đột bản năng và kim chế khối lạc vơ thức, Freud đã nhấn mạnh rằng bản ngã (cái tôi) vừa là đầy tớ vừa là chủ nhân cia bản năng (cái nó). Siêu bản ng (cái siêu ơi) 1 lực lượng đối lập với bản ngã
(cái tô), ngăn căn cái tôi trong quá trình phát triển, kìm hãm sự thoả mãn của bản
<small>năng, đó là "cái tơi lý tưởng” khơng bao giờ vươn tới được và hoạt động theo</small>
nguyên tắc chèn ép. Siêu bản ngã được xem như là sự học hỏi của cá
nhân về các giá trị và quy tắc xã hội, được ví như là lương tâm, đạo đức, nó là cái đấu tranh cho các hành vi của con người được hoàn thiện trên cơ sở xác định giá trị của hành vi hay thái độ đúng hay sai đối với hành vi. Theo Freud, toàn bộ cuộc. sống con người là sự mâu thuẫn liên tục giữa ba khối đó, khối này chèn ép khối kia. Nhung nổi bật nhất là cái nó và cái siêu tơi (bản năng chèn ép, muốn khống. chế bản ngã và ngược lại). Freud cho ring sở di dục vọng bị đè nén là do tiêu chuẩn xã hội không cho phép nó được thoả mãn, nên nhiều khi ban năng dục vọng.
‘ban chất của con người là do sự thod mãn tính dục. Do đó, mọi hành vi của con người do bản năng đục vọng chỉ phối, điều hành. Xu hướng oda bản năng tinh dục <small>đã có ở tị con ngay tử lúc mới lọt lịng. Cho nên, con trai thì thích mẹ hơn và ghen.</small>
<small>ø</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">với bố, con gái thì thích cha hơn và ghen với mẹ. Những ham muốn đó có tính chất tự nhiên, di truyền trong tâm lý con người. Thuyết phân tâm học của S.Freud đã chống lại nén tâm lý học duy tâm chủ quan để xây dựng một nền tâm lý khách.
quan. Nhưng do quá nhắn mạnh đến cái bản năng vô thức trong con người, Freud
đã không thấy được một bản chất trong ý thức của con người, không thấy được bản. chất xã hội, lịch sử của các hiện tượng tâm lý người và đồng nhất tâm lý của con người với tâm lý của động vật.
‘ban năng (cái nó) bùng phát quá mạnh, lấn at và bản ngã (cái tơi) khơng thể kiểm sốt nỗi trong khi siêu bản ngã (cái siêu tôi) hoạt động kém hiệu qua. Ơng dé cao. bản năng tình dục trong sự chỉ phối hành vi phạm tội của con người, đồng thời
cũng chỉ ra những nguyên nhân khác dẫn đến hành vĩ phạm tội như sự thăng hoa
không tương xứng (khí trạng thai tỉnh táo bị thay thé bởi một trạng thái khác) hay chứng rối loạn thần kinh chức năng. Trên cơ sở đó, Freud khẳng định để phòng
Một là, tạo ra các rào cản để thúc đây tội lỗi không thể đưa tới hành vi
<small>thực tế. Đó là sự tác động tích cực của các thiết chế như Nhà nước, gia đình, nhà</small>
trường, tôn giáo... thông qua chủ thể, phương thức (các ché tài trong 46 có hình
phạt, sự quan lý, phối hợp giữa các thiết chế, các biện pháp ran đe, giáo dục...) phat
<small>huy tính tích cục của bản ngã (cái ti).</small>
Hai là, cần tư van, định hướng giúp con người lựa chọn hợp lý về
“nghề nghiệp, hoạt động đỗ giải toa phần bản năng.
Ba là, tổ chức các hoạt động để con người có thé giải quyết được.
‘ban năng bị dồn nén hoặc tìm được đối tượng thay thế một cách hợp pháp.
Đặc biệt trong cơ chế thực hiện hành vi phạm tội, phải phân tích và
tìm hiểu ngun nhân của tội phạm nhất là trong các trường hợp người phạm tội
mắc bệnh tâm than, Đó cũng xuất phát trên cơ sở bệnh học, cần có hướng điều trị pha hợp.
II. Thực tiễn ứng dựng thuyết phân tâm học trong hoạt động.
<small>phịng ngừa tội phạm.</small>
Có thé thấy rằng, thuyết phân tâm học ra đời đã đánh dấu một bước
<small>ngoặt lịch sử trong sự phát triển của tâm lý học nói riêng và khoa học nghiên cứu"Gio winh Tâm ý he Đụ cương, Psi họ Luật Hà Nội, NXB Cogan niên ân 2008, 1213</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">về con người nói chưng. Lý thuyết này góp phẩn to lớn trong việc tìm hiều phần
bên trong thuộc về con người, khắc họa nên cầu trúc nhân cách của cá nhân, giúp
<small>nhận thức rõ hơn về những suy nghĩ của cá nhân và các giải pháp để kiềm chếnhững xung đột cá nhân, đưa cá nhân ở lại trạng thái bình thường. Hay néi cách</small>
khác, thuyết phân tâm học ở mức độ nhất định đã đưa ra câu trả lời cho vấn đẻ tại
<small>sao con người phạm tội từ đó đề xuất những biện pháp phịng ngừa tội phạm rõ rệtva có hiệu quả. Thông qua việc di sâu tim hiểu đời sống nội tâm của con người,</small> nhằm hiểu rõ những suy nghĩ của họ. Tuy nhiên, có thé nhận thấy rằng với hệ
thống lý thuyết trừu tượng, bác học và chuyên biệt, việc tiếp cận, thực hảnh và ứng dụng thuyết phân tâm học trong đời sống nói chung và phịng ngừa tội phạm nói riêng khơng phải là vấn đề đơn giản. Để hiện thực hóa lý thuyết này, địi hỏi
<small>một đội ngũ chuyên gia tâm lý tội phạm uyên bác, nghiên cứu và lĩnh hội đây đủ</small> kiến thức cũng như kỹ năng phân tâm học trong việc lý giải nguyên nhân của tội <small>phạm và các biện pháp phòng ngừa tội phạm.</small>
“Các kết quả nghiên cứu của thuyết phân sâm học được Sigmund Freud rút ra trên co sở nghiền cứu thực nghiệm, đúng với ban chất của khoa học tâm lý.
‘Tit quá trình chữa bệnh rối loạn thần kinh (tâm thần) Freud đã khẳng định vai trò
của tâm lý nói chung cũng như đưa ra một lý thuyết hoản tồn mới về hiện tượng,
tâm lý bí Ân ~ gọi tên là vô thức. Cho đến ngày nay, có thé nói, mặc dù có nhiều trường phái khác nhau nhưng chưa có một học gia tâm lý nào vượt qua sự xuất sắc
trong nghiên cứu về vô thức của Freud, Vì vậy, phần tâm học đã có sức ảnh hưởng. vơ củng mạnh mẽ trên tồn thé giới. Nhiều trường đại học y khoa của các quốc gia
phat triểu đều có cơ sở nghiên cứu lý thuyết của phân tâm học. Freud đã tạo ca
phương pháp hoàn toàn mới mà nhiều ngành khoa học có sử dụng khi nghiên cứu
về tội phạm (như điều tra hình sự, tội phạm học...). Vấn đề phòng ngừa tội phạm. theo phân tâm học, cơ bản là khống chế sự phat triển vượt trội của bản năng, giải <small>ta tâm lý con người với phương pháp “tự do liên tướng”. Đây là phương pháp</small> Freud áp dụng để chữa bệnh cho người bị bệnh tâm thần cũng như người phạm tội, nhằm khảm phá vơ thức và giải phóng những điều bị dồn nền. Đối tượng bị bệnh. * sẽ ngồi hoặc nằm trong tư thé thoai mái, toàn thân thư giãn để ý nghĩ của mình.
và những cảm giác về thé chất hoặc hình ảnh tâm tri khi những điều đó hiện về. Ho
được khuyến khích thd lộ mọi ý nghĩ hoặc cảm giác không e ngại động chạm đến
<small>»</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17"><small>những chuyện riêng tư, dù đó là chuyện đau khổ hay có và khơng quan trọng. Liên.tưởng tự do cho phép người đó tự do bảy tỏ những ước muốn vô thức và những ky</small> niệm đau buồn, điều này giúp cho nha nghiên cứu hiểu được những mẫu hình các mối quan hệ của đối tượng trong quá khứ và biết cách chúng đã uốn nắn sự phát triển nhân cách của đối tượng đó như thé nào. Sigmund Freud khẳng định liên <small>Vi vậy, người</small> nghiên cứu phải kiên tri lắng nghe tắt cả những điều đối tượng bộc lộ rồi làm theo.
những liên tưởng này tìm đến cội nguồn của chúng. Người nghiên cứu phải nhạy
cảm xúc hay lời nói, cử chỉ của đối tượng. Họ được khuyến khích biểu lộ những
cảm giác mạnh (thông thường hướng tới những người có quyền lực) bị
sợ bị phạt hoặc sợ bị trả thủ. Bắt cứ một sự bộc lộ hay giải thoát xúc căm nào trong quá trình này hay quá trình khác đều được xem như là sự “xã trừ” (cathass) hay giải tod. Day là phương pháp khích lệ đối tượng dám đương đầu và trò chuyện cởi mở về những cảm xúc bị dồn nén mạnh để thiết lập lại cảm xúc lành mạnh", nhờ 46 có thể khỏi bệnh, tìm ra nguyên nhân của tội phạm cũng như giúp ho nhận ra lỗi
lầm, phịng ngừa tội phạm nói chung cũng như nguy cơ tái phạm, tấi phạm nguy hiểm,
Ở nước ta, hiện nay với trọng tâm là sự phát triển kinh tế, xã hội để khẳng định sự ving chắc của cơ sở hạ ting. Do vậy, chúng ta chưa có điều kiện quan tâm và nghiên cứu chuyên sâu vé khoa học thực nghiệm như tâm lý học nói chung hay phân tâm học nói riêng. Mặc dù đó đều 1a những lý thuyết 06 ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển của khoa học, xã hội nhưng không trực
sản phẩm, thúc day sự phát triển kinh tế... Vì vậy, việc ứng dụng thuyết phân tâm.
<small>học trong phịng ngừa tội phạm cịn sơ sài, ít phd biến. Trong những năm qua, cókhơng ít những vụ án kinh hoàng mà người phạm tội mắc bệnh tâm thần như ở‘Lang Sơn, bệnh nhân tâm thần Hà Văn Pau giết bé gái rồi xẻ ra nhiều mảnh để ăn</small>
thị” hay bệnh nhân tâm thần ở Trung tâm điều dưỡng Thụy An, Ba Vì chém tir
dưỡng viên!” mà trước đó đối tượng đã từng giết chết cha ruột. Bệnh <small>nhân tâm thần có nhiều thể bệnh, đặc biệt là hoang tưởng. Trong thể hoang tưởng.nó có nhiều nguyên nhân, một là áp lực công việc, hai là loạn thần do rượu, và do</small>
<small>ThepsJborniogtiasordreeteor/2013/12177rhayeblaacsekeonngnnixae'ied/“epdIemninhdhdo vulep-lewfKrỗ-äoang-ruec a-tưthznsn thị ngwe,421950an</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">sử dụng ma túy... Khi bị thể hoang tưởng din đến việc nhìn đối phương như con thú và chỉ muốn giết thịt, có người coi đối phương ln là địch đang sát hại mình
nên phải đánh đến chết, hoặc có người nghĩ minh là ơng to bà lớn... do do thanh ảo
giác gầy nên. Có thé bệnh do di truyền, bam sinh, cũng có thể bệnh tái phát do bi sang chấn hay do áp lực cuộc sống, Nguy hiểm nhất là người bị tâm thần phân liệt.
Bệnh nhân ở thể này thường cỏ các biểu biện như rối loạn tư duy, hành vi. Do
hoang tưởng ảo giác chỉ phối, xui khiến, có bệnh nhân cảm tưởng lúc nào mình. cũng đang bị truy bức nên bức xúc thực hiện hành vi phạm pháp luật”, có thể là tội phạm. Vì vậy, việc áp dụng phương pháp phân tâm học trong phòng ngừa tội phạm cũng là một trong những lý thuyết có gif tị. Đối tượng của phân tâm học khơng phải là hành vi của người bình thường, mà là hành vi bét thường, trong đồ có hành
<small>phải chịu trách nhiệm hình sự).</small>
<small>Nhu vậy, phịng ngừa tội phạm có vai trị vơ cùng quan trọng, đố</small>
'không chi là nhiệm vụ của khoa học mà cịn là trách nhiệm chung của tồn xã hội. ‘Dé phát huy tính đa dạng và có hiệu qua của hoạt động phỏng ngừa tội phạm cần
<small>nhà tâm lý học tội phạm trong giai đoạn hiện nay.</small>
<small>16</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19"><small>TS.GVC Bùi Kim Chỉ</small>
1 DATVANDE
‘Tam lý học hành vi ra đời vào năm 1913 ở Mĩ từ một bai báo có tinh chất cương lĩnh do do John Broadus Watson (1878-1958) viết với tiêu đề “Tâm lí học.
đưới con mắt của nhà hành vi". Cùng tham gia sing lập trường phái này là William
MeDougall (1871-1938). Từ những năm 1930 của thế ki XX những người kế tục
theo đuổi trường phái này như Edward Chace Tolman (1886-1859), Clark Leonard
Hull, Burrhus Feredric Skinner (1904-1990). Trong bài viết này chúng tơi phân
tích quan điểm của Tâm lí học hành vi về phịng ngừa tội phạm.
IL PHỊNG NGỪA TOL PHAM THEO QUAN ĐIỂM CUA TLH
HANH VI
“Tâm lí học hành vi tuyên bố không quan tâm đến việc mô tả, giảng giải các
trạng thái tâm lí của ý thức mà chỉ quan tâm đến hành vi của tồn tại người. Hành vi
được xem như là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trước các kích thích cia mơi trường bên ngồi”.Theo quan điểm của Tâm lí học hành vi, quan sát cũng như
lãng giải hành vi đều phải tuân theo cơng thức S > R (Kích thích > Phản ứng)”;
Bing các kết quả nghiên cứu hành vi của động vật... các nhà hành vi đã di đến kết luận rằng việc giải quyết vấn đề đạt được bằng phương pháp “thử va sai” và được
<small>giải thích như việc lựa chọn một cách hú họa, may rủi các vận động cần phải tiến</small>
hành trong các tình huống cụ thé".
Kế tục những kết quả của John Broadus Watson và William MeDougall,
<small>các nhà tâm lí học như Clatk Leonard Hull, Edward Chace Tolman đã cố gắng bổ‘sung thêm vào công thức cỗ điển S> R một biến số trung gian O liên quan đến":</small>
<small>"= Nguyễn Ngọc Phú (2009), Lich st tim lý học, NXB Đại oe Quốc ga HO Nội, rag 171</small>
<small>® $4 rang 173.Sad, trang 178</small>
<small>50a tạng 1S</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">a) _ Điều kiện mơi trường. Khi kích thích S tác động đến cơ thể thì điều. kiện mơi trường diễn ra phư thé nào,
<small>b) Tai thời điểm kích thích S phát huy tác dung, thì trang thái, nhu cầu</small>
co thể diễn ra như thé nào ?..
Trong những người kế tục những quan điểm, tư tưởng của Tâm lý học hành.
<small>vi do John Broadus Watson khởi xướng phải kể đến Bunhus Feredric Skinner.‘Skinner công khai chủ trương tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên Ii của thuyết hành</small> vi cỗ điển đằng thời gia công thêm, phát triển tạo nên chủ nghĩa hành vi bảo thủ. Các luộn điểm hành vi xã hội và tạo tác của Skinner có một vị trí đáng ké. “Tạo.
tác” là một khái niệm trung tâm trong các luận điểm của Skinner. Ông quan niệm đây là cơng cụ chủ yếu nhất để “hành vi hóa” con người và xã hội người. Các.
thao tác của con vật (và mở rộng ra đến con người) là có thể quan sát, ghỉ chép, tính tốn xử lí số liệu bằng các phương pháp của toán học. TẤt cš những cái này. được phản ánh trong “Đường biểu diễn quá trình huấn luyện”. Kết qué nghiên cứu của Skinner đã tạo nên một luận điền xã hội ~ chính trị, được gọi là thuyét hàng vi <small>xã hội của Skinner.</small>
"Nghiên cứu quan điểm cúa các tác giả theo quan điểm của Tâm lí học hành. vi, chúng tơi thấy họ đều quan niệm nguyên nhân của mọi hành vi nằm ở bên ngồi <small>‘con người, trong mơi trường xung quanh, đặc biệt là môi trường xã hội. Hảnh vi</small>
được hiểu là tit cả những phản ứng bên ngoài quan sát được của cơ thể (và của các biệt”,
<small>người khác với các sinh vật khác.</small>
Bất kì hành vi nào của cá nhân cũng chịu tác động của mơi trường bên
<small>——-'Ngyn Vin Lấy Lê Quang Sơn (đẳng chi ie) (009). Ti đi Tấm ý lọc, NB Giá de Vi Nam, trừng</small>
<small>s83 59.</small>
<small>18</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21"><small>cảnh xã hội với những hiện tượng xã hội khác nhau, đặc biệt những hiện tượng tiêu</small> cực trong xã hội đó đến những hồn cảnh cụ thể như một khung cảnh thuận lợi, vắng vẻ, một sự va chạm giao thơng khơng mong muốn, một câu nói khơng muốn. <small>nghe từ người khác....</small>
Chính những tác động từ bên ngồi mơi trường sống lên cá nhân đã làm cho nhu cầu chưa được thỏa mãn ở họ trở thành động cơ thúc day họ hành động. Cũng chính những điều kiện và hịan cảnh bên ngồi sẽ ảnh hưởng đến tồn bộ q. trình hình thành và thực hiện hành vi phạm tội. Do đó việc phân tích các yếu tố xã
hội ảnh hưởng đến sự hình thành những đặc điểm tâm lí tiêu cực có thể dẫn cá nhân đến con đường phạm tội có ý nghĩa rất quan trong.
<small>Hanh vi là phản ứng của cơ thể trả lời kích thích từ mơi trường, kích thích</small> chính là tác nhân khởi phát và duy trì hành vi. Do đó để kiểm sốt hành vi nói chung và phịng ngừa hành vi phạm tội nói riêng, cần kiểm sốt mơi trường, kiểm. <small>sốt kích thích gây ra bành vi phạm tội.</small>
‘Mot là, chú trong đặc biệt dén môi trường xã hội.
‘Theo tâm If học hành vi, bản chất và hành vi phạm tội của con người là do
môi trường, đặc biệt là môi trường xã hôi quyết định. Một đứa trẻ sinh ra vốn
không thiện, cũng không ác; chỉ trong q trình tiếp xúc với mơi trường xã hội mới
hình thành những đặc điểm tâm lí, nhân cách. Môi trường tốt sẽ giúp con người
tiếp thu những cái tốt, tích cực; mơi trường xấu sẽ hình thành ở con người những, đặc tâm lí, nhân cách tiêu cực. Vì vậy vấn đề đặt ra là phải xây dựng được.
mơi trường xã hội tốt từ gia đình, xã phường, nhà trường, cơ quan...
<small>Phong ngừa tội phạm là hoạt động mang tính xã hội, phải huy động tồn xãhội tham gia. Trong phòng ngừa tội phạm, phải làm cho mọi thành viên trong xãhội nhận thức đẩy đủ, sâu sắc và toàn diện về hậu quả nghiêm trọng của tội phạm,tạo sự thống nhất cao với chủ trương của Đảng, Nha nước trong q trình đấuranh, phịng ngừa tội phạm.</small>
én tuyên truyền phòng chống tội phạm với cuộc vận động xây dụng gia <small>đình văn hóa, phong trào tồn dân đoàn kết xây dựng đời sống ở khu dân cư, xâydựng xã phường khơng có các tệ nạn xã hội, phát động tồn dân tham ga phát</small>
đầu tranh và phịng ngừa tội phạm.
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">“Tổng kết việc xây dựng mơ hình “xã phường lành mạnh khơng có các tệ
<small>nạn xã hội” tìm ra hình thức, biện pháp có hiệu quả để nhân rộng, gắn với việcphỏng chỗng các tệ nạn xã hội và tội phạm . Gắn công tác phịng chống tội phạm.với trách nhiệm của gia đình, nhà trường, chính quyển, cơ quan cơng an va tửng.</small>
thành viên, tổ chức xã hội, đoàn thé quần chúng.
Hai là, kiểm sốt tình huống, kiểm sốt những tác nhân dẫn đến hành vi
<small>pham tội.</small>
BF. Skinner fa một trong số những người đầu tiên nhắn mạnh đến việc cần
kiểm soát hành vi, lưu ý là khả năng kiểm sốt chính xác đem lại sự phát triển tích. cực và sự thay đổi tích cực'Š. Con người thường gặp khó khăn trong việc kiếm soát
các cơn giận dữ và phỡng cảm xúc tiêu cực khác. Nỗi tức giận thường nằm trong. số những cảm xúc mà con người cho là “được phép thể hiện”. Một người có thể
tức giận khi đang xếp hàng mà bị người khác chen lin, x6 đẩy. Một người khác sé
nỗi xung, phân ứng lại ngay khử có ai đó ở cơ quan chi ra sai s6t trong công việc của anh ta... Để tránh những xung đột khơng đáng có dẫn đến hành vi phạm tội,
con người cân biết kiểm soát hành vi, tránh xa các tinh huống dễ gây ra cảm xúc <small>tiêu cực,</small>
Ba là, kiểm sốt chặt chẽ các tình huống giáo dục. Tâm lí học hành vì cho. ring, nếu người bình thường nói chung và người phạm tội nói riêng được sống. trong mơi trường xã hội tốt, tích cực thi họ sẽ nhận thức và hình thành những hành. vi phủ hợp với quy phạm đạo đức và quy phạm pháp luật. Vậy vẫn đề đặt ra cho các cơ quan chức năng, các tổ chức xã hội và các cắp trường khác nhau Ja phải đặt +a mục tiêu, xây đựng kế hoạch và những nhiệm vụ cụ thé để giáo dục con người
và hình thảnh ở học những phẩm chất, đặc điểm nhân cách mà nhà giáo dục mong
<small>giám sắt và rút kinh nghiệm thường xuyên cho những quá trình giáo dục sau.</small>
Bén là, tạo thói quen tuân thủ pháp luật. Theo B.E. Skinner, hành vi xã hội
<small>loại hành ví phức tạp khác nhau, từ các phân ứng ngôn ngữ va phi ngôn ngữ tương</small>
<small>Harold 5, Vetsr (2005), Các lọc upd dr co, NB, Văn hóa hồng tang 378,</small>
<small>`" BanyD. Smi</small>
<small>a</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">đối đơn giản được để giao tiếp với một cá nhân khác, đến các mơ hình phức tạp của sự tương tác giữa cá nhân với nhóm ”. Như vậy theo ơng, muốn tạo thói quen tuân thủ pháp luật ở một người cần có sự động viên, khích lệ, khen thưởng, tun.
đương khi họ có hành vi tuân thủ pháp luật như “Chương trình liệu pháp tâm lí
Vige tn theo luật thường xuyên, liên tục sẽ thành thói quen, lâu hơn nữa
giữa cơ quan chức năng làm nhiệm vụ giám sát quản lý, và người dân trong vai trò
<small>chỉ sau 5 năm thực hiện.</small>
"Năm là, Giáo duc Kt năng sống, kĩ năng ứng xử trong những tình huống khác nhau của cuộc sống, đặc biệt những tình huống phức tạp, xưng đội.
Trong xu thế xã hội đang ngày càng phát triển, một bộ phận học sinh, sinh viên đã thể hiện lối sống tôn thờ giá trị vat chất, "sống ngày nay, không biết ngày. mai”. Hệ quả của lối sống này là sao nhãng học tập, thích thể hiện bản thân một <small>cách thái quá; quan hệ yêu đương quá sớm, không lành mạnh; gian lận trong học</small> tập và thí cử; thiếu ý thức tuân thủ pháp luật. Ở một số người thiếu các kỹ năng, sống như thiếu tự tin, khả năng kiềm chế, tự chủ kém, về xúc cảm thường có <small>cường độ mạnh, nhưng dễ thay đổi; tinh hay phô trương, bốc đồng nỗi trội trong</small>
<small>` Strang 365 36,Sad, rạng 370</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">'khi như cầu nhận thức nghèo nàn... Sự thiếu hụt những kĩ năng nêu trên dễ làm cho. ‘ho có hành vi bột phát, khơng kiểm sốt được khi ở vào tình huống căng thẳng. TI KET LUẬN:
‘Qua nghiên cứu thuyết hành vi, cho thấy cäc nhà tâm lí học như John Broadus
<small>Watson, William McDougall, Edward Chace Tolman, Clark Leonard Hull, Burrhus</small> Feredric Skinner đều cho rằng nguyên nhân của tội phạm nằm ở bên ngồi con người, trong mơi trường — đặc biệt là mơi trường xã hội. Để phịng ngừa tội phạm, cần kiểm sốt mơi trường, kiểm sốt các tác nhân gây ra hành vi phạm tội, đồng. <small>í giáo dục, rên luyện cho cá nhân thói quen tuân thủ pháp luật và những kĩ năng</small>
<small>#</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">GV. Nguyễn Thành Long
<small>Hình phạt là một phạm trù pháp lý và xã hội phức tạp, mang tính khách</small>
quan, gắn liên với sự xuất hiện của nhà nước và pháp luật và là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau. Trong khoa học Luật hình sự hiện nay
vẫn cịn nhiều quan điểm khác nhau về hình phạt nhưng nhìn chung có ba quan điểm : 1) coi hình phạt là công cụ để trừng trị, trả thù người phạm tội; 2) hình phạt là cơng cụ phịng ngừa tội phạm; 3) hình phạt là khơng chỉ để trừng trị mà cịn là
cơng cụ để phịng ngừa tội phạm.
“Trong khoa học luật hình sự Việt Nam nhìn chung thống nhất về mục dich
<small>của hình phạt, Theo đó thi hình phạt có hai mục đích là trừng tri và giáo dục, cải</small>
phạm tội. Chính nhờ hai mye đích này mà hình phat được coi là một biện
<small>pháp phòng ngửa tội phạm một cách hiệu quả. Tác dụng phịng ngừa tội phạm của"hình phạt cũng chính là một trong những nội dung quan trọng của của hình phạt</small>
.được nhiều học giả nghiên cứu. Để làm sáng rõ hơn tác dụng phòng ngừa tội phạm
<small>của hình phạt địi hơi khơng chỉ nghiên cứu hình phạt trên phương diện khoa học</small>
<small>luật hình sự mà đồi hỏi phải kết hợp nhiều ngành khoa học khác nhau. Để làm rõhơn các nội dung phòng ngừa tội phạm và nâng cao hiệu quả phịng ngừa tội phạm</small>
của hình phạt, bài viết dưới đây sẽ trình bầy các tác dụng phịng ngừa tội phạm
<small>cưới góc độ luật hình sự và tâm lý học.</small>
'Nếu như trong khoa học luật hình sự, hình phạt là một biện pháp phịng ngừa tội phạm thể hiện ở hai mặt rõ rằng: phòng ngừa riêng (ngăn ngừa người
phạm tội thực hiện tội phạm) và phịng ngừa chung (giáo dục người khác tơn trong <small>pháp luật) thì dưới góc độ tâm lý, hình phạt cũng có tác dung phịng ngừa tội phạmthơng qua việc tác động đến tâm lý của người phạm tội và tâm lý của những người</small>
<small>khác trong xã hội.</small>
<small>* Tác động của hình phạt đối với tâm lý của người phạm tội</small>
<small>Hình phạt có tác động trực tiếp đến tâm lý của người phạm tội, giúp chongười phạm tội nhận thức rõ lỗi im của mình, từ đó tích cực sửa chữa, cải tạo</small>
<small>minh thành cơng dan có ích cho xã hội.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">Hình phạt trước hết nó là một biện pháp để trừng trì người phạm tội, Hình.
phạt với nội dung là sự hạn chế hoặc tước bỏ một số quyền và lợi ích hợp pháp của. người bị áp dụng, là biểu hiện trực tiếp của sự lên án, sự phạt của Nha nước của xã
hội đối với người đã thực biện hành vi phạm tội. Chính sự lên án này tác động trực tiếp đến tâm lý của người phạm tội, giúp họ nhận ra lỗi lầm của mình. Bên cạnh. <small>đó, hình phạt khơng phải là sự lên án, sự phạt đơn thuần mà nó cịn là sự thể hiện</small> của biện pháp đặc biệt để ran de (ran de bằng tác động cưỡng chế Nhà nước) người.
bị kết án.
“Để đạt được tác dung răn đe phịng ngừa tội phạm đồi hỏi hình phạt phãi có
tinh nghiêm khắc nhất định. Tính nghiêm khắc của hình phạt địi hỏi áp dụng hình. het, tịa án phải tun loại và mức hình phạt đủ nghiêm khắc dé ran đe người bị áp. <small>dung và thơng qua đó ran đe những người khác. Để thực hiện được điều này, hình</small> phat đã tuyên phải tương xứng với tinh chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của.
"hành vi phạm tội. Nếu hình phạt đã tun q nhọ sẽ khơng đảm bảo tinh răn đe và.
phòng ngừa tội phạm dẫn đến thái độ coi thường pháp luật của chính người phạm. <small>cũng như những người xung quanh, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Ngược</small> lại nếu tòa án tuyên hành phạt quá nặng sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi ích chính đáng. của người phạm tội, đồng thời tạo ra thái độ ức chế, thù hẳn của người phạm tội đối với nhà nước và xã hội, làm mất đi tác dụng giáo dục cái tạo người phạm tội.
<small>"Bên cạnh mục đích trừng trị người phạm tội, hình phạt cịn có mục đích là</small> giáo dục và cãi tạo người phạm tội. Trừng trị là mục đích nhưng đồng thời cũng là phương tiện để đạt được mục đích cuối cùng và chủ yếu của hình phạt là giáo giục cải tạo người phạm phạm tội. Sự trừng tri đốt với người phạm tội không phải là áp dụng các biện pháp hà khắc để trả thù người phạm tội mã mục đích của nó chính là
sai [am của mình từ đó tích cực cải tạo, sửa chữa bản thân trở thành cơng dân có.
chính sich cãi tạo người phạm tội phải thiết thực, hiệu quả
nhân và điều kiện đã khiến họ phạm tội, củng cỗ những nhân tố tích cực để họ có.
<small>8.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">thể tự điều chỉnh, cải thiện ý thức cho đến hành vi phù hợp hơn với chuẩn mực.
pháp luật hình sự và chuẩn mực xã hội.
<small>"Nhiệm vụ đạt ra đối với cải tạo người phạm tội là phải hướng tới ải tạo tư</small>
truyền qua sách báo, hoạt động văn hóa, văn nghệ và các phương tiện thông tin đại
<small>chúng... Cải thiện các tư tưởng, suy nghĩ, tâm lý, tư duy của người phạm tội từ</small> kém hoàn thiện đến hoàn thiện hon, văn minh hơn góp phần hình thành và phát triển các nhân cách tốt, tích cực phù hợp với các giá trị và chuẩn mực xã hội. Việc cải tạo tư tưởng, ải tạo nhân cách sẽ góp phin định hình các hành vi tích cực tn. <small>thủ luật hình sự trong quá trình chấp bảnh hình phạt, cũng như các hành vi tn thủluật hình sự trong tương lai, từ đó đẩy lùi các khả năng tái phạm của người phạm.</small>
* Tác động của hình phạt đối với tâm lý của những cơng dân khác
<small>trong xã hội</small>
Hình phạt khơng chỉ tác động trực tiếp đến tâm lý người phạm tội mà nó. cịn tác động đến cả tâm lý của những cơng dân khác trong xã hội, qua đó phịng
<small>ngừa họ phạm tội. Thông qua quy định của pháp luật và qué trình áp đụng hình</small>
phạt trên thực tế, hình phạt không chỉ tác động tới cá nhân người bị áp dụng mà nó,
cịn tác dụng mạnh mẽ đến tất cả những người khác trong cộng đồng xã hội. Đối
<small>với những người có tâm lý khơng vững vàng hay dễ bị lơi kéo thì hình phạt chính</small>
là sự ran đe, là sự kiềm chế không cho họ thực biện tội phạm. Trong trường hop này sự rin de, sự kiềm chế không cho người “không vững vàng” thực hiện tội phạm biểu hiện ở chỗ làm cho họ thấy trước sự phạt (hậu quả pháp lý) mà họ phải. ánh chịu nếu họ thực hiện tội phạm. Từ đó giáo dục người này ý thức tuân theo
<small>pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, từ bỏ ý định phạm tội hoặc có cách ứng xửthận trọng trong các quan hệ của mình. Đối với những thành viên khác, hình phạtcó tác động nâng cao ý thức tuân theo pháp luật của họ, tạo điều kiện cho họ tham.</small> gia phòng chống tội phạm.
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28"><small>"Như vậy, hình phạt có tác động mạnh mẽ khơng chỉ đối với tâm lý người</small> phạm tội mã cơn có tác động đến cả những cơng dân khác trong xã hội. Chính bởi các tác động này mà hình phạt khơng chỉ là biện pháp trừng trị mà trên hết nó. chính là biện pháp cải tạo, giáo dục nâng cao ý thức pháp luật, góp phần đầy lời và <small>phịng ngừa tội phạm /.</small>
‘TAI LIỆU THAM KHAO
<small>1. Giáo trình Tâm lý hoe tư pháp, trường Đại học Luật Ha Nội2. Gi</small>
3. PGS.TS. Duong Tuyết Miền, Tội phạm học nhập môn
5. VO Khánh Linh, Chức năng xã hội của hình phạt, Tap chí dân chit vả
<small>trình Tâm lý học đại cương, trường Đại học Luật Hà Nội</small>
<small>"hành trại giam, Tạp chí tâm lý học</small>
<small>8</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29"><small>ThS. GVC. Dương Thị Loan</small>
ur phát triển về kinh tế, xã hội và các lĩnh vực khác của
<small>tượng phụ nữ „ người gid và trẻ em là bị hại ngày càng tăng cao. Đây là một</small> vấn đề rất cần được quan tâm, giải quyết kip thời và triệt để nhằm bảo vệ tính
định của xã hội nói chung. Để có thể đưa ra những biện pháp ngăn chặn phòng, ngừa loại tội phạm này phù hợp, trước tiên cần nắm rõ được tình hình của các tội
2-Nhận thức chung về bạo lực và tinh hình tội phạm bạo lực.
Bao lực được hiểu là “ding sức mạnh để cưỡng bức, trấn áp hoặc lật đỏ”.
Khai niệm này dé làm người ta liên tưởng tới các hoạt động chính tri, nhưng trên thực tế, bạo lực được coi như một phương thức hành xử trong các quan hệ xã hội
nói chung. Các mối quan hệ xã hội vốn rit đa dạng và phức tạp nên hành vi bạo lực. cũng rất phong phú được chia thành nhiễu dạng khác nhau tùy theo từng góc 49 nhìn nhận: bạo lực nhìn thấy và bạo lực khơng nhìn thấy được; bạo lực với phụ nữ, <small>trẻ em...</small>
“Xét về hình thức, có thé chia bạo lực thành các hình thức chủ yếu sau: ~ Bạo lực về thé chit: là hành vi ngược đãi, đánh đập người khác, làm tổn
<small>thương tới sức khỏe, tinh mạng của ho.</small>
~ Bao lực về tinh thần: à những lời nói, thái độ, hành vi làm tổn thương tới cdanh dự, nhân phẩm, tâm lý của người khác
<small>= Bạo lực về kinh tế: là hành vi xâm phạm tới các quyền lợi về kinh tế của</small>
người khác (quyền sở hữu tài sản, quyền tự do lao động...)
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">~ Bạo lực về tình dục: là bất kỳ hành vi nào mang tính chất cưỡng ép trong,
<small>các quan hệ tình dục với người khác</small>
Mỗi hình thức bạo lực có thể được biểu hiện dưới
cấu thành nên các tội phạm bạo lực khác nhau
<small>Cling theo các chuyên gia tâm lý, tội phạm bạo lực có thé chia thành hailoại. Một loại là tội phạm hành động có kịch bản rõ rang, bé trí kế hoạch thực hiện</small> cụ thể và chỉ tiết. Đối tượng phạm tội có đầu óc tỉnh táo, “ra tay” rất lợi hại. Loại
này được mệnh danh là tội phạm bạo lực có tổ chức. Hai là loại tội phạm hành động tùy hứng, nghĩ gì làm đó, khơng cần chuẩ» bị trước. Cac nhà chuyên môn gọi chúng là tội phạm bạo lực <sub>vô tố chức.</sub>
liều hành vi khác nhau,
Thực tế, ngoài hai loại tội phạm bạo lực nói trên, các chun gia tâm lý. hình sự cịn dùng một tên gọi riêng cho đối tượng thứ ba. Đó fa tội phạm hỗn hợp. Điều nay cho thấy, việc phân loại tội phạm chỉ mang tính tương đối.
đầu, người phá án phải suy nghĩ về những sự việc trước khi tội phạm ra tay hành động. Tiếp theo là giai đoạn chính thức phạm tội. Người phá án phải trả lời câu hi
vi sao tội phạm chọn đối tượng và hành vi phạm tội này. Ngồi hành vi sát hại, t phạm có thé lãng nhục, cưỡng đâm hay thực hiện những hanh vi nào khác không.
Ba là giai đoạn tội phạm xử lý thi thé nạn nhân và bón fa giai đoạn hậu kỳ. Lúc nay có tội phạm cao bay xa chạy, có tên vẫn có mặt ở hiện trường, xuất hiện trong tang
lễ hoặc nơi huyệt mộ nạn nhân..
Phạm tội có ý thức tổ chức
Đối tượng này rắc nguy hiểm, thường chọn nạn nhân là người xa lạ, có
nạn nhân đi một mình hoặc cơ gái di cing xe với bạn trai. Địa điểm chúng chọn để. ra tay thường 14 bãi đậu xe và dùng mưu kế để khống chế nạn nhân. Loại tội phạm.
của ching rất tự nhiên, thời gian tiến hành vụ án rất hoàn bảo. Trong quá trình
phạm tội, tội phạm dự liệu sẵn các tình huồng bắt trắc nên khi gặp trở ngại, chúng
<small>28</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">phan ứng rất nhanh. Nang lực thích ứng và linh hoạt là đặc trưng co bản của.
Do đó khi nghiên cứu những vụ án giết người liền tục và có liễn quan nhau,
cảnh sát phải nỗ lực nghiên cứu vụ án đầu tiên. Đó là đầu mối để truy tìm hung thủ nhanh chóng nhất. "Cải tiến" kỹ thuật giết người là một thao tác cần thiết của bọn tội phạm có ý thức. Khi bị bắt, hung thủ John Lucy khai nhận đã thực hiện 6 vu hãm hiếp. Lúc đều, bắn chỉ tin cơng nạn nhân tại các chung ext. Sau đó bản Hnh hơn, hắn khống chế một phụ nữ ở bãi đậu xe, đưa về nhà nạn nhân và thực hiện hành vi cưỡng dâm. Cuối cùng, hắn mở rộng địa bàn hoạt động đến nhiều bang của.
Mỹ để gây án.
Càng về sau những vụ án do hắn gây nên càng để lại dấu vết rắt ít. Một khi tin tưởng vào bản lĩnh thượng thừa của mình, hắn muốn thách thức cảnh sát bằng. cách ra tay với một cô gái ở gần nơi hắn cư trú. Nhờ thế cảnh sát mới tóm được. hắn. Về phương diện bạo lực, trình độ của hắn càng lúc càng siêu. Trong ba vụ án đầu, hắn sát hại nạn nhân sau khi cưỡng dâm. Nhưng hai lần sau hắn giết ngay khi vừa bắt cóc. Làm như vậy, hắn có ý định đánh lừa cảnh sát, gieo cho cơ quan điều tra có ý nghĩ có nhiều hung thủ khác nhau gây án.
<small>'Tâm điện cảm ứng</small>
Người mắc chứng phân liệt tinh thần thường thu nhận thông tin từ nhiễu. nguồn, sau đó tự tổng hợp vào một trung tâm. Từ trung tâm này, các thong tin sẽ
<small>mang ý nghĩa đặc thù với người bệnh và sai khiến hành động. Vì vậy, hành vi gay</small>
án của người phân liệt tỉnh thần được xếp vào loại tội phạm vô tổ chức.
day trong đầu hắn rằng California sẽ bị một cơn địa chấn khủng khiếp và chim xuống Thái Binh Dương trừ phi có thật nhiều máu tươi tế lễ trời đất. Đặc biệt sau cú sốc cha chết, Mulin nghĩ rằng người quá cố đã sử dung tâm điện cảm ứng để ra
<small>lệnh cho hắn cướp đi sinh mạng người khác. Đó là nguyên do giết người hàng loạtcủa tên tội phạm vô tổ chức Mulin.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">Chuyên gia tâm lý tội phạm học K, Ressier nhấn mạnh: “Chúng tôi phát hiện trước khi phạm tội, các phần tử tội phạm bạo lực vơ ý thức thường có những
<small>hành vi chống lại xã hội một cách vơ tự chủ. Đó là mơ thức tội phạm của Muln.</small>
Có thé nói hắn khơng hòa nhập vào quỹ đạo vận hành của xã hội Mỹ. Bắt kỳ trong. Tĩnh vực nào hắn cũng bị từ chối”.
<small>Những nạn nhân của tâm điện cảm ứng điên rễ</small>
"Những vụ gây án đầu tiên của Mulin khiến cảnh sát phải điên đầu vì trong. hàng loạt vụ giết người, họ khơng tìm thấy mỗi liên hệ nào cả. Hung thủ sử dung các loại hung khí gây án, và về phía các nạn nhân, các yếu tố về tuổi tác, giới tính, tình huống bí sát hại cũng khác nhau.
‘Nan nhân đầu tiên của Mulin là người đàn ông 55 tuổi bj sát hại sau khi di nhờ xe của Mulin, vảo tháng 2/1972, Trên đường cao tốc, hắn phát hiện người đàn.
ông này và cố ý lái xe theo cho quá giang. Sau khi dùng gậy hạ sát nạn nhân, hắn <small>chở từ thỉ ném vào bụi cỏ ven đường. Hôm sau, thi thé nạn nhân bị phát</small>
biện. Hành ví này cho thấy Mulin thuộc dang tội phạm hỗn hợp giữa vơ tổ
chức và có tỗ chức.
‘Hai tuần tiếp theo, Mulin lại re tay trên đưởng cao tốc, lần này nạn nhân là
một cơ gái. Cịn hung khí là dao chứ khơng phải là gậy. Do hai cái chết hồn tồn
khác nhau, lúc đầu cảnh sát khơng thấy có mối liên hệ nào về hung thỏ. Sau đó,
Mulin tìm đến một giáo đường để xưng tội va giết chết người này. Tháng 1/1973
ñấn tiếp tục dùng súng giết một phụ nữ, và con dau của bà ta. Cảnh sát cho rằng 3 cái chết này do một hung thủ gây nên. Nhưng hồn tồn khơng tìm thấy mối (iên quan đến cái chết của vị linh mục vả hai nạn nhân khác trên đường cao tốc.
Một tháng sau, Mulin đến một khu rừng ven đường có 4 thanh niên dang cắm trại. Hắn tự xưng là chủ nhân của khư vực này và đuổi họ đi để khỏi “làm 6
nhiễm môi trường”. Không ngờ đám thanh niên phản ứng lại vì cho rằng đây là nơi cắm trai hợp pháp. Malin im lạng và rút lui. Một thời gian sau, hắn xuất hiệm và sát
hại cả 4 người. Các vụ giế người của Mufin chỉ được khám phá khi hắn ra tay ở
<small>Mulin than nhiên bảo: “Tôi phạm tội để cứu hành tỉnh. Tắt cả do mệnh của cha tôi</small> truyền tới bằng tâm điện cảm ứng”.
<small>°</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">Tinh hình tội phạm ở nước ta vẫn còn diễn biến phức tạp. Những năm gin đây, mỗi năm phát hiện trung bình trên 70 ngàn vụ phạm tội các loại, trong đó các. tội phạm bạo lực chiếm tỉ lệ khá lớn. So với các nước trên thế giới và trong khu.
vực thi tỉnh hình tội phạm ở Việt Nam chỉ ở mức trung bình thấp, nhưng tính chất phức tap. Các loại tội phạm hình sự nguy hiém, sử dụng bạo lực, hình thành các. bang, 6 nhóm, hoạt động có tổ chức phức tạp, tính chất, mức độ phạm tội ngày càng nghiêm trọng, có sự móc nối với một số cán bộ công chức nhà nước, hoạt động lưu động, công khai, trắng trợn, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong nhân dân. và thường tập trung vào một số loại tội phạm như: giết người; cướp tai sản; cố ý
gây thương tích, giết người thuê....
‘Toi phạm tập trung chủ yếu ở các thành phố, thị trấn (chiểm 70%). Các tuyến, địa bàn tội phạm xảy ra nhiều: năm thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phong, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ (chiếm 25% - 30% tổng số vụ. phạm tội trên toàn quốc hang năm); các tuyến Hà Nội và các tinh Đơng Bắc (Hai
Duong, Hai Phịng, Quảng Ninh, Bắc Giang...), thành phố. H Chí Minh — các tỉnh miền Đơng Nam Bộ (Đơng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu...), các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (An Giang, Kiên Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Tiền Giang...), các tinh miễn Trung - Nam Trung Bộ va Tây Nguyên (Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hồ, Bình Định...).
Điển hình là vụ sát hại “bạn nghiện” một cách man rợ của Phan Văn Tuần
<small>(SN 1984, trú tại huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên) xây ra vào đêm 20-5- 2017. Do</small>
mâu thuẫn trong làm ăn, Tuấn đã ra tay sát hại anh Nguyễn Văn T (SN 1993, ở cùng qué với Tuan), ngay tại nhà của mình. Thật ghê rợn bởi sau khi giết chết “bạn.
<small>nghiện”, Tuấn đã dùng dao rach bụng và còn cất di bộ phận sinh dục của nạnnhân. Trước đó, lực lượng cơng an đã tìm hiểu, được biết Tuần làm nghề tự do, nổi</small>
tiếng ăn chơi trong khu vực và nghiện ma túy, có nhiều mối quan hệ phức tạp
<small>ngồi xã hội, trong đó có anh T. Theo lời khai của Tuấn, việc rach 6 bụng và cắt bộ</small>
phận sinh dục của nạnnhân rồi ném xác xuống sông nhằm đánh lạc hướng cơ quan.
<small>-định la lịch, nhân thân nạn nhân của lực lượng công an.</small>
<small>Trong một vụ án khác do lực lượng CSHS - Công an Hà Nội khám phá.</small>
<small>cách đây không lâu, hung thủ mới 20 tuổi nhưng đã thực hiện hành vi sát hại người</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34"><small>lái “xe ôm” rất đã man với 12 nhát dao, rồi tẩm xăng đốt xác phi tang. Theo.</small>
<small>Thượng tá Cao Văn Thái, Phó Trưởng Phịng CSHS - CATP Hà Nội, kẻ sát nhân</small>
là Nguyễn Văn Đạt, quê ở huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Hiện trường vụ án
<small>bên bờ sơng Nhuệ, huyện Thường Tia, Ha Nội và nạn nhân là ông Q., một người</small>
hành nghề “xe 6m” vốn hiền lành, chăm chỉ. Khi mới phát hiện và đưa Dat về trụ sở công an dé đầu tranh, ban đầu kẻ thủ ác tỏ ra lợm, ngoan cổ không khat nhận hành vi phạm tội. Công an đã thu thập nhiều chứng cứ, tài liệu chứng minh Đạt là
<small>đứa trẻ hu, thường lên mang intemtet xem những bộ phim bạo lực kích động, sex‘va chơi các trị game khơng mang tính giáo dục cộng đồng, Tir đó, cơ quan điểu trađã phân tích tâm lý tội phạm, tim ra nguyên nhân sâu xa dẫn đến động cơ gây án</small>
của Đạt nhằm cướp tài sản của ơng Q. để có tiền ăn chơi
Trong một vụ án khác „ Vự Nguyễn Việt Long (SN 1988, trú tại huyện ‘Thanh Oai) bị Phòng CSHS - CATP Hà Nội phối hợp với Công an tỉnh Lạng Sơn.
‘Theo hồ sơ vụ án, Long đã sát hại bà Nguyễn Thị 8. (SN 1964, ở xóm Chợ, xã Bình Minh, huyện Thanh Oai) để cướp tài sản. Biết bà S. là người sống độc thân, lại có nhiều tiền bạc, Long đã đột nhập vào nhà nạn nhân dùng hung khí giết chết gia chủ rồi cướp tiền và xe máy, sau đó trốn vào Thanh Hóa. Tiếp theo, Long. đã lên Cửa khẩu Tân Thanh, Lạng Sơn định trốn sang Trung Quốc, nhưng không. thành vì bị lực lượng CSHS Cơng an Hà Nội phối hợp với Công an tỉnh Lạng Sơn phát hiện, bắt giữ. Nắm được tâm lý đối tượng, các điều tra viên đã phản tích cho ‘Long hiểu rõ pháp luật chỉ khoan hồng cho những kẻ phạm tội biết ăn nin. Và như bị điểm trúng huyệt, Long đã khai nhận hành vi phạm tội, nói rõ động cơ sát hại bà <small>S. là do bị nạn nhân nhận ra mình là người quen trong khỉ thực hiện hành vỉ trộm</small>
cắp tài sin, và hàng ngày Long vẫn ché thuê gà ra chợ huyện cho những người bán
<small>gà ở đây.</small>
<small>"Nhìn nhập đưới góc độ nghiên cứu tâm lý tội phạm, các chuyên gia cho</small> ring, tội phạm thường có một diễn biến tâm lý chung, đó là “lỡ” làm cái này thì <small>phải làm cái khác và khơng nghĩ đến hậu quả Những hành động bạo lực, thậm trí</small>
<small>3»</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">mắt nhân tính này một phần được “ni dưỡng” từ trước bởi những thói quen bạo.
lực lặp đi lặp lại trong cuộc sống, dẫn đến góc nhìn lệch lạc...
<small>'Tâm lý “đâm lao thì phải theo lao”</small>
'Nhìn từ góc độ chuyên gia nghiên cứu tâm lý tội phạm , ông Đặng Vũ.
dâm, khi bị nạn nhân chửi bối, đe dọa tố cáo, vì sợ phải chịu trách nhiệm trước
khơng có trong đầu hắn.
đấy, nguy cơ bị phát hiện xử lý, đi tù là rõ rằng... Trong khoảng thời gian cực
ngắn, bác sĩ Nguyễn Mạnh Tường đã nảy sinh ý định ném xác phi tang đễ trốn tội.
Hanh động diễn ra trong tỉnh thé quẫn bách, tâm lý sợ hãi cao độ, rõ rang là mang tính chống chế, đối phó.
Hanh động thật “nhiễm” từ hành động éo
đề này, PGS.TS Trịnh Hịa Bình, Giám đốc Trung tâm Điều tra Dư
chứa nhiều mặt tri kích thích người ta phạm tội. Những đối tượng thanh niền xem quá nhiều phim đồi trụy, phim bạo lực và bị ám ảnh bởi những hình ảnh trong đó. Những vụ việc trên cho thấy đối tượng quá ác thú và man rợn. Ở một khía cạnh. nào đó có thể nhận định đối tượng bị nhiễm từ những trò chơi điện tử bạo lực với những cảnh bắn súng, chém giết máu chảy đầu rơi hoặc xem nhiều phim hành động bạo lực khiến hắn bị ảo tưởng. Tâm lý đó kéo khoảng cách giữa “hành động ảo” và hành động phạm tội gần nhau hơn. Người bình thường thì thấy đó để phịng. <small>ngừa, nhưng kê thủ ác lại bắt chước theo. Chính vì thé đối tượng có thé gây ra</small>
~ những vụ án giết người, chặt xác phi tang ...
<small>3. Phòng ngừa các tội phạm bạo lực.</small>
Phong ngừa bằng cách...
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36"><small>Chuyên gia tâm lý Nguyễn Mạnh Quân (Hội Khoa học Giáo dục Việt Nam)</small>
chia sẻ: Trong nhiều cuộc bàn thảo, các chuyên gia tâm lý, nhà nghiền cứu xã hội
<small>học đã đưa ra các lý giải cho loại tội phạm kiểu này. Một người bình thường, chưa</small> hề có tiễn án tiền sự, vốn được coi là hiền lành, nhẫn nhịn, chẳng va chạm với ai
‘bao giờ bỗng phạm tội ác tay đình, cướp di sinh mạng của người khác.
"Những nguyên nhân Ấy, giờ đã srở nén có hữu, được nhắc đến nhiều, Dưới
góc độ xã hội, có thé thấy “nguyên nhân xã hội” đối với những trường hợp phạm.
tội kiểu này đương nhiên là có. Bởi, con người là thành tố của xã hội, con người chịu chỉ phối trong đó và tác động ngược lại. Như một cơ thể, ung nhọt từ chính cơ. thể Ấy sinh ra, nói cách khác là do chính cơ thể ấy ni đưỡng và rồi nó lại ảnh
hướng, gây đau đớn lại cho cơ thể dy.
'Nhiều người sẽ thắc mắc, vậy thi cái gì đã khiến cho một thanh: nién trong
một lúc nhẫn tâm có thể giết người zồi vứt xác, chặt xác phi tang? Hay một bác sĩ
có đầy đủ nhận thức, được học hành đủ đầy, được mọi người trong cơ quan yêu. én lại đang tâm thủ tiêu xác bệnh nhân vi tai nạn nghề nghiệp?
Chuyên gia tâm lý Nguyễn Mạnh Quân cho ring: Quy về hoạt động sinh
học của bộ náo, những hành vi được coi là bột phát Ấy thực ra là cả một quá trình
‘Theo ông Quân, bằng cách ly giải này, người ta có thé hiểu được tại sao những trường hợp giết người hoàn toàn bột phát, mù quáng như con giết cha, anh ết em, chồng giết it cách man rg rồi sau đó, chính đương sự khi tỉnh lại, lại
do nung nấu mâu thuẫn từ nhỏ thành to. Trừ các trường hợp tội phạm chuyên
Ban về phương pháp giải quyết, theo chuyên gia tâm lý Nguyễn Mạnh Quân, đưa ra biểu đồ diễn tiến tâm lý ức chế của cortisol xốy theo hình trơn ốc.
như thé để thy, việc cần làm là phải ngăn khơng cho vồng xoấy Ấy đi đến điểm
<small>©</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">(cũng cực của nó ở tâm đường xody. Điều này đôi hỏi một sự quan dâm đúng mực từ phía người thân xung quanh đối tượng phạm tội. Quan tâm khơng chỉ đơn giản
là biết việc, mà phải có những phương pháp giải tỏa bức xúc tâm lý hiệu quả và
Rin đe bằng biện pháp mạnh
Giải thích về hiện tượng giết người man rợ trong thời gian qua, GS Truong
Công Am, Trưởng bộ môn Tâm lý tội phạm ~ Học viện An ninh nhân dân cho
<small>nói đến động cơ, mục đích của hung thủ là gì”</small>
Go Vấp, TP HCM, Cơ quan Công an đã bước đầu làm rõ là do hung thủ bị nạn
tính khiến nạn nhân thấy không thể sống với cuộc sống thực tại nên ra tay sát hại
nạn nhân để giải thốt cho mình. Hung thủ là một người trẻ, có học thie, có quan
‘h@ mật thiết với nạn nhân nhưng cách hành xử thì lại rắt chuyên nghiệp, máu lạnh. “Trude những vụ giết người có tính chất
<small>vita qua, việc lên án và có</small> GS Trương Cơng Am cho rằng:
man ro, khiến dư luận hết sức phẫn nộ trong thời
hình phạt nghiêm khắc đối với các đối tượng gây án là cần thiết 48 giáo dục, rin de <small>Và nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân”,</small>
“Tiến sĩ tâm lý Nguyễn Thị Kim Quý (Trung tâm Hỗ trợ tâm lý trẻ em) thé
biện sự bit bình trước những vụ án giết người có tính chất man sợ. Đồng quan điểm với GS Trương Công Am, TS Quý cho rằng: “Cần phải dùng các biện pháp trừng phạt đặc biệt với các hình thức phạm tội dã man: Đối tượng có hành vi thú tính và làm một lúc hai việc tàn nhẫn là giết người và chặt xác phi tang. Đây cũng là một
phần do ảnh hưởng từ mặt trái của sự hội nhập với thé giới, sự đơ thị hóa nhanh <small>của xã hội cùng với một số yếu tố khác đã làm thay đổi tâm sinh lý của con người.Trong những sự việc này, việc làm thú tính, vơ lương tâm của hung thủ gây ra hậu‘qua nghiêm trọng. Khó có thể đánh giá tâm lý của hung thú, bởi việc làm nàykhơng phái bột phát mà có chủ ý. Vì vậy cần trừng trị nghiêm khắc 48 ran de”,</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">DO TÂM LÍ HỌC ~ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIEN.
TS. Lý Văn Quyền
1. Khái niệm về phòng ngừa tội phạm tham nhũng
<small>1.1. Định nghĩa</small>
<small>“Trên cơ sở nghiên cứu tinh bình tội phạm tham những và ngun nhàn của các</small>
tơi phạm này để xây dựng các biện pháp phòng ngừa tội phạm tham những có tính khả
<small>thi đạt hiệu quả cao.</small>
Phong ngừa tội phạm tham những là một bộ phận của hệ thống phòng ngừa tội
<small>phạm trong xã hội. Để phòng ngừa tội phạm Nha nước, xã hội và mọi công dân chủđộng thực hiện đồng hộ các biện pháp tác động tới con người nhằm loại tri hoặc fim</small>
thay đỗi phẩm chất tiêu cực của cá nhân. Mặt khúc phải ác động hạn chế, loi trừ các
"hoàn cảnh, tinh huống cụ thé đã tạo cơ hội thuận lợi cho việc thực hiện tội phar,
"Như vậy, phòng ngừa tội phạm tham những là tơng hợp các biện pháp do cóc
cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân ¿hực hiện nhằm hạn chế hoặc. <small>loại trừ các nguyên nhs của tối phạm tham những, ngăn ngừa tơi phạm tham những</small>
dy ra.
1.2. Mục đích và u cầu của hoạt động phòng ngừz đội phạm tham.
= Về mục đích: hoạt động phịng ngừa tội phạm tham những nhằm mục dich kim chế sự gia ting, hạn chế din mức độ, tinh chất nghiêm trọng của tinh hình đội <small>phạm tham những và ngăn ngừa tội phạm tham những xảy ra</small>
~ Về yêu cầu của hoạt động phòng nga tội pham tham những bao gồm:
+ Phòng ngừa tội phạm tham nhũng phải gắn chặt với abi mới kinh tế - xã hội,
nâng cao đời sống của nhân đân, giữ vững ổn định chính trí, tăng cường đại đồn kết
<small>tồn dân.</small>
<small>+ Phòng ngừa tội phạm tham những phải gắn với chống quan liêu, lãng phí,bn lậu.</small>
<small>36</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39"><small>+ Phòng ngừa tội phạm tham những phải kết hợp giữa phịng ngừa và xử lí</small>
<small>nghiêm mọi hành vi tham nhũng.</small>
<small>+ Phòng ngừa tội phạm tham nhũng phải phối hyp chặt chế các chủ thé phòng,</small>
+ Phòng ngừa tội phạm tham những phải tiến hành liên tục, lâu di và có kế
hoạch cụ thể.
+ Phòng ngừa tội phạm tham những phải sử dụng đồng bộ các biện pháp được.
xây dựng trên cơ sở đánh giá đầy đủ, toàn điện các tội phạm tham những đã xây ra và <small>các nguyên nhân của tội phạm tham những.</small>
6 nước ta tham những đang thực sự là “quốc nan” gây bất bình sâu sắc
<small>những. Như vậy, phòng ngừa tội phạm tham những khơng chỉ có mục đích là làmiam tham nhũng, ngăn ngừa tham những xây ra mà cịn có ý nghĩa quan trọng bảo</small> vệ sự vững mạnh của chế độ XHCN ở Việt Nam.
“Thiệt hai về vật chất do tham những gây ra chi tính riêng số đã phát hiện đã lên tối hàng ngàn tỷ đồng mỗi năm. Tham những làm hao tổn nguồn lực kinh tẾ của quốc gia, căn trở sự phát triển của nền kính tế din đến kinh tế nước ta roi vào tình trang tụt hậu ngày càng xa so với các nước trong khu vực và trên thé giới. Các. doanh nghiệp giảm khả năng cạnh tranh do giá thành bị “đội” lên do mắt thêm chỉ phí cho cơ quan quản lí hoặc mắt cơ hội kinh doanh do thủ tục. Mặt khác tham
<small>những còn làm cho người dan bị thiệt hại về kinh tế do phải đóng thêm những</small>
khoản ngồi chế độ. Người dân nhất là người nghèo mắt một phan khả năng chữa.
<small>'bệnh, học tập, kinh đoanh, khó tiếp cận nguồn vốn và sự hỗ trợ khác. Họ mắt cơ hộ.</small>
<small>xóa đói giảm nghèo. Do vậy, phịng ngừa tham những có ý nghĩa trong việc phát</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">triển kinh tế và góp phần quan trọng trong việc cải thiện, nâng cao đời sống nhân
<small>2.3. Phòng ngừa tội phạm tham nhũng góp pl</small>
đức truyền thống, làm lành mạnh các quan hệ xã hội
Trong những năm gần đây các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam bị biến dạng lệch lạc ở mức độ nghiêm trọng đáng báo động. Một trong các yếu tổ làm cho các giá tị đạo đức bị xâm bại chính fả tệ nạn tham những. Những hành vi tham những nhự: tham 6 tài sản, hối lộ bị cả cộng đồng lên án
<small>duy trì các giá</small>
3.4. Phịng ngừa tội phạm tham nhũng góp phần củng cố niềm tin của
nhân dân vào chế độ và pháp luật
"Tình hình tội phạm tham những ở Việt Nam trong những năm qua diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cắp, nhiều lĩnh vực với phạm vì rộng nhưng tội <small>phạm tham những bị phát hiện và xử lí rất ít và có xu hướng năm sau ít hon nămtrước, làm giảm Jong tia của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Việc phát hiệnkịp thời mọi hành vi tham những và xử lí nhanh chống, cơng minh theo pháp luật</small> sẽ loại bỏ được những cán bộ thối hóa biến chất làm trong sạch đội ngũ cán bộ, <small>công chức trong Đảng, trong bộ máy Nhà nước, Mat khác tài sin tham những phải</small> được thu hồi, tịch thu hoặc phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp. <small>‘rong trường hợp hành vi tham nhũng gây thiệt hại. Chỉ có như vậy mới cũng cổ</small>
<small>3. Các biện pháp phòng ngừa tội phạm tham nhũng,</small>
được phân loại thành 5 nhóm biện pháp như: Biện pháp về văn hóa-giáo dục; biện
<small>38</small>
</div>