Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (322.21 KB, 11 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
2. Địa tô tư bản chủ nghĩa ... 5
<b>II. Liên hệ thực tiễn Việt Nam... 6</b>
1. Một số bất cập về địa tô trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc phục... 6
1.1. Một số điểm bất cập về địa tô trong nền kinh tế nước ta hiện nay...6
1.1.1. Bất cập trong chính sách miễn giảm thuế đối với đất nông nghiệp... 6
1.1.2. Bất cập trong quy định khung giá đất...7
1.1.3. Bất cập trong việc thu địa tô chênh lệch II...8
1.1.4. Một số giải pháp đề xuất...8
<b>III. Kết luận... 10</b>
<b>Tài liệu tham khảo... 11</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">Lợi tức và địa tô là hai khái niệm cơ bản và quan trọng trong lĩnh vực kinh tế chính trị, đóng vai trị khơng thể phủ nhận trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia. Trong bối cảnh thị trường ngày nay, việc hiểu rõ về cả hai khái niệm này không chỉ giúp chúng ta thấu hiểu sâu sắc về cơ chế hoạt động của nền kinh tế mà còn là bước đầu tiên để tạo ra các chiến lược và chính sách phát triển bền vững.
Bài tập lớn này nhằm mục đích tìm hiểu và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lợi tức và địa tô trong một hệ thống kinh tế. Chúng ta sẽ cùng nhau đi sâu vào nghiên cứu về cơ chế hình thành lợi tức và địa tơ, vai trị của chúng trong quá trình phân phối tài nguyên và thu nhập, cũng như các chiến lược quản lý và ứng phó trong điều kiện biến đổi của thị trường và chính sách.
Thơng qua việc khám phá, phân tích và thảo luận, chúng ta mong muốn tạo ra những hiểu biết sâu sắc về cách mà lợi tức và địa tô ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và xã hội, từ đó đưa ra những gợi ý và đề xuất cụ thể để thúc đẩy sự phát triển bền vững và công bằng hơn trong một nền kinh tế tồn cầu hóa.
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4"><b>I. Lý luận chung về lợi tức và địa tô1. Lợi tức</b>
Trong nền kinh tế thị trường, ln xuất hiện hiện tượng có chủ thể thì có lượng tiền nhàn rỗi, trong khi lại có những chủ thể khác lại cần tiền để mở rộng sản xuất kinh doanh. Tình hình đó thúc đẩy hình thành quan hệ cho vay và đi vay. Người cho vay sẽ thu được lợi tức. Người đi vay phải trả lợi tức cho người cho vay.
Người đi vay thu được lợi nhuận bình quân, do phải đi vay tiền của người khác cho nên người đi vay phải khấu trừ một phần của lợi nhuận bình quân thu được để trả cho người cho vay.
Vậy là, lợi tức là một phần của lợi nhuận bình quân mà người đi vay phải trả cho người cho vay vì đã sử dụng lượng tiền nhàn rỗi của người cho vay. Đây là quan hệ kinh tế phản ánh quan hệ lợi ích giữa người đi vay với người cho vay. Song về thực chất, lợi tức đó là một phần của giá trị thặng dư mà người đi vay đã thu được thông qua sử dụng tiền vay đó.
Tư bản cho vay trong chủ nghĩa tư bản có đặc điểm:
Thứ nhất, quyền sử dụng tách khỏi quyền sở hữu. Chủ thể sở hữu tư bản không phải là chủ thể sử dụng, chủ thể sử dụng tư bản chỉ được sử dụng trong một thời hạn nhất định và khơng có quyền sở hữu.
Thứ hai, là hàng hóa đặc biệt. Người bán khơng mất quyền sở hữu, người mua chỉ được quyền sử dụng trong một thời gian. Sau khi sử dụng, tư bản cho vay không mất giá trị sử dụng và giá trị mà được bảo tồn, thậm chí cịn tăng thêm. Giá cả của tư bản cho vay được quyết định bởi giá trị sử dụng của nó là khả năng thu được lợi nhuận bình qn, do đó khơng những khơng được quyết định bởi giá trị, mà còn thấp hơn nhiều so với giá trị
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">Thứ ba, là hình thái tư bản phiến diện nhất song được sùng bái nhất. Tư bản cho vay vận động theo công thức T – T’, tạo ra ảo tưởng là tiền đẻ ra tiền, che dấu quan hệ bóc lột vì khơng phản ánh rõ nguồn gốc của lợi tức cho vay.
Tỷ suất lợi tức là tỷ lệ phần trăm giữa lợi tức và tư bản cho vay. Nếu ký hiệutỷ suất lợi tức là z’, tư bản cho vay là TBCV, thì cơng thức tính tỷ suất lợi tức
như sau:
Z′ ¿ <i>Ζ</i>
Tỷ suất lợi tức chịu ảnh hưởng của các nhân tố chủ yếu là tỷ suất lợi nhuận bình quân và tình hình cung cầu về tư bản cho vay.
<b>2. Địa tơ tư bản chủ nghĩa</b>
Tư bản kinh doanh nông nghiệp là bộ phận tư bản xã hội đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Cũng như các nhà tư bản kinh doanh trên các lĩnh vực khác, nhà tư bản kinh doanh trên lĩnh vực nơng nghiệp cũng thu được lợi nhuận bình qn. Nhưng khác với các chủ thể kinh doanh khác, nhà tư bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp phải trả một lượng tiền cho địa chủ vì đã thuê đất của họ. Vậy là, ngồi số lợi nhuận bình qn, nhà tư bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp thu thêm được một phần giá trị thặng dư dôi ra nữa, tức là lợi nhuận siêu ngạch, lợi nhuận siêu ngạch này phải trả cho địa chủ. Vậy là, C.Mác khái quát, địa tô là phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi phần lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp phải trả cho địa chủ.
Theo C.Mác, có các hình thức địa tơ như:
- Địa tơ chênh lệch. Trong đó, địa tơ chênh lệch I là địa tơ mà địa chủ
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">thu được do chỗ cho thuê ruộng đất tốt và độ màu mỡ cao, điều kiện tự nhiên thuận lợi. Địa tô chênh lệch II là địa tô mà địa chủ thu được do chỗ cho thuê mảnh đất đã được đầu tư, thâm canh và làm tăng độ màu mỡ của đất.
- Địa tô tuyệt đối, là địa tô mà địa chủ thu được trên mảnh đất cho
thuê, không kể độ màu mỡ tự nhiên thuận lợi hay do thâm canh. Đó là phần lợi nhuận siêu ngạch dơi ra ngồi lợi nhuận bình quân được tính bằng số chênh lệch giữa giá trị nông sản và giá cả sản xuất chung của nông sản.
C.Mác ký hiệu địa tô là R.
Trong thực tiền đời sống kinh tế, địa tô là cơ sở để tính tốn giá cả ruộng đất khi thực hiện bán quyền sử dụng đất cho người khác. Giá cả ruộng đất được tính trên cơ sở so sánh với tỷ lệ lãi suất ngân hàng, theo công thức:
Giá cả đất đai ¿ <i>Địatô</i>
<i>Tỷ suất lợitức nhận gửi của ngân hàng</i>
Lý luận địa tô tư bản chủ nghĩa của C.Mác không chỉ vạch rõ bản chất quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp mà còn là cơ sở khoa học dể xây dựng các chính sách kinh tế liên quan đến thuế, đến điều tiết các loại địa tô, đến giải quyết các quan hệ đất đai... Tất cả nhằm kết hợp hài hoà các lợi ích, khuyến khích thâm canh, sử dụng đất đai tiết kiệm, phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá sinh thái bền vững.
<b>II. Liên hệ thực tiễn Việt Nam</b>
<b>1. Một số bất cập về địa tô trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc phục</b>
<b>1.1. Một số điểm bất cập về địa tô trong nền kinh tế nước ta hiện nay1.1.1. Bất cập trong chính sách miễn giảm thuế đối với đất nông nghiệp</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp ban hành từ những năm 90 đến nay sau một thời gian dài đã quá lạc hậu và không phù hợp với Luật Đất đai 2003, 2013. Thêm vào đó Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội về tiếp tục miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp (MGTĐNN) đến hết ngày 31/12/2020. Hiện nay, theo tờ trình của Chính phủ trước Quốc hội dự kiến tiếp tục MGTĐNN đến năm 2030. MGTĐNN là một chính sách thể hiện bản chất xã hội tốt đẹp của Nhà nước Việt Nam trong việc hỗ trợ người nông dân - tầng lớp có thu nhập thấp trong xã hội hiện nay. Tuy nhiên, việc miễm giảm thuế kéo dài nêu trên lại là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng bỏ đất đai hoang phí trong nông nghiệp nông thôn hiện nay Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng ruộng đồng bị bỏ hoang như: Do điều kiện canh tác khó khăn (đất bạc màu, đất vùng trũng, ảnh hưởng của thiên tai, khô hạn, lũ lụt...); Thu nhập của người nông dân làm ruộng thấp (diện tích canh tác manh mún, nhỏ lẻ; lao động trình độ kỹ thuật thấp); Người nơng dân có thể tìm kiếm được thu nhập cao hơn từ các lĩnh vực khác (buôn bán, làm công nhân…). Thực tế cho thấy, chủ trương phát động phong trào dồn ruộng đổi thửa, tích tụ, tập trung ruộng đất để đầu tư canh tác trên quy mô lớn của Đảng và Nhà nước trong thời gian qua không đạt được kết quả như mong muốn. Bên cạnh đó, việc kêu gọi, khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp vẫn gặp nhiều hạn chế, bất cập.
<b>1.1.2. Bất cập trong quy định khung giá đất</b>
Việc quy định thuế và thu tiền SDĐ chưa phù hợp với diễn biến quan hệ đất đai ở Việt Nam và thực tiễn đang vận hành trong bối cảnh của nền KTTT có sự quản lý của Nhà nước. Giá tính thuế thu tiền SDĐ vẫn do Nhà nước quy định, chưa sát với giá trao đổi trên thị trường dẫn đến nhiều hệ lụy mà kết quả là thất thu cho ngân sách nhà nước. Ngày 14/11/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 104/2014 NĐ-CP quy định khung giá các loại đất. Trên thực tế, giá các loại đất trên thị trường khác xa với mức khung quy định của Chính phủ. Hiện nay, giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành hàng năm cũng vậy. Hầu hết ở các địa phương mức giá đất theo quy định không phản ánh đúng với thực tế thị trường. Các nhà phân tích thị trường cho rằng: ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, khung giá đất được quy định thường thấp hơn khoảng 30-40% mức giá trên thị trường, từ đó tạo ra những kẽ hở cho tham nhũng từ đất đai cũng như tăng siêu lợi nhuận cho doanh nghiệp đầu tư vào bất động sản
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">Chính vì việc quy định giá đất ở mỗi địa phương như hiện nay còn nhiều bất cập, khung giá đất không hợp với thực tiễn đã dẫn đến những bất lợi sau đây: Thứ nhất, làm cho tình trạng khiếu kiện kéo dài và cịn phát sinh ngày càng nhiều hơn khi Nhà nước thu hồi đất. Do người bị thu hồi đất được nhận bồi thường về đất theo khung giá đất của Nhà nước luôn thấp hơn so với giá trị đất theo thực tế thị trường. Thứ hai, làm giảm nguồn lực tài chính huy động từ nơng nghiệp cho phát triển nông nghiệp, nông thôn do không xác định, khơng có cơ chế hạch tốn minh bạch mức chênh lệch giá đất nông nghiệp trước và sau khi chuyển đổi mục đích SDĐ. Thứ ba, làm phát sinh cũng như tạo tiền đề cho hành vi tham nhũng đất đai. Thứ tư, làm suy giảm nguồn lực tài chính từ đất đai cho đầu tư phát triển. Thứ năm, làm nảy sinh tình trạng đấu thầu, đấu giá quân xanh, quân đỏ trục lợi.
<b>1.1.3. Bất cập trong việc thu địa tô chênh lệch II</b>
Sự điều tiết phần giá trị tăng thêm của đất đai do Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng; chuyển đổi mục đích SDĐ dẫn đến thất thu NSNN. Thực tế cho thấy, khi một con đường được xây dựng ở đô thị dẫn đến sự gia tăng rất lớn giá trị của những diện tích đất, thửa đất từ trong ngõ hẻm sau khi làm đường trở thành diện tích đất mặt phố. Ví dụ như ở Phú Quốc, trước khi xây dựng sân bay, giá đất là 12 triệu đồng/m2, sau khi có sân bay, giá đất đã lên đến 120 triệu đồng/m2. Hay Cam Ranh giá đất từ 8 triệu đồng/m2 tăng lên đến 45 triệu đồng/m2. Hoặc tại Vân Đồn, giá đất tăng từ mức giá 15 triệu đồng/m2 lên đến 80 triệu đồng/m2. Hiện tại, giá đất xung quanh dự án sân bay Long Thành cao nhất đã đạt 120 triệu/m2, mặt bằng chung là 30 triệu đồng/m2. Trong khi vào năm 2018 giá đất chỉ khoảng 7 - 15 triệu đồng/m2 là mức giá cao nhất”. Rõ ràng việc đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư các dự án đơ thị, cơng trình… làm gia tăng giá trị, tăng công năng của những diện tích đất đai cận kề có liên đới, đem lại những lợi ích to lớn cho một hoặc một số người trong xã hội mặc nhiên được hưởng. Phần địa tô chênh lệch II này để những chủ thể không tham đầu tư được hưởng lợi không là điều rất bất hợp lý.
<b>1.1.4. Một số giải pháp đề xuất</b>
- Cải thiện quản lý và phân phối đất đai: Tăng cường giám sát và kiểm soát việc sử dụng đất đai để đảm bảo tính cơng bằng và minh bạch trong quá trình phân phối. Thúc
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">đẩy việc phát triển các cơ chế pháp lý và chính sách để ngăn chặn việc lạm dụng quyền lực và tham nhũng trong việc quản lý đất đai.
- Khuyến khích phát triển nơng nghiệp và công nghiệp ở vùng nông thôn: Tăng cường đầu tư vào nông nghiệp và công nghiệp ở vùng nông thôn nhằm tạo ra cơ hội việc làm và tăng thu nhập cho cộng đồng nơng dân. Điều này có thể giúp giảm bớt sự chênh lệch giữa vùng thành thị và vùng nông thôn.
- Tăng cường quyền lợi của người lao động: Đảm bảo người lao động được trả cơng cơng bằng và có điều kiện làm việc an tồn và hợp lý. Khuyến khích việc hình thành và phát triển các cơng đồn để bảo vệ quyền lợi và lợi ích của người lao động.
- Phát triển hạ tầng và dịch vụ công cộng: Đầu tư vào hạ tầng và dịch vụ công cộng như giao thông, giáo dục, y tế, và cấp nước để cải thiện chất lượng cuộc sống và tiếp cận dịch vụ của cộng đồng, đặc biệt là ở các vùng nơng thơn và khu vực dân cư có thu nhập thấp.
- Tăng cường giáo dục và đào tạo: Tăng cường giáo dục về quản lý tài nguyên và phân phối công bằng trong xã hội, đồng thời đào tạo nhân lực có kỹ năng để thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội một cách bền vững.
- Tạo ra cơ hội và sự công bằng trong tiếp cận với các nguồn lực: Phát triển các chính sách và chương trình để tạo ra cơ hội và sự công bằng trong việc tiếp cận và sử dụng các nguồn lực như đất đai, nước, và tài nguyên tự nhiên khác.
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10"><b>III. Kết luận</b>
Từ việc phân tích các bất cập liên quan đến lợi tức và địa tô trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam, có thể thấy rằng hai khái niệm này đóng vai trị quan trọng trong q trình phát triển kinh tế và xã hội của đất nước. Tuy nhiên, cũng có nhiều vấn đề cần được giải quyết để tạo ra một môi trường kinh doanh công bằng, bền vững và phát triển.
Đối với lợi tức, việc áp dụng các chính sách thuế và quản lý tài chính phù hợp là cần thiết để ngăn chặn tình trạng thâm canh và bóc lột nguồn lực của xã hội. Ngoài ra, cần tăng cường quản lý và giám sát để ngăn chặn các hành vi tham nhũng và lạm dụng quyền lực trong việc quản lý vốn và tài sản.
Về địa tô, việc cải thiện quản lý và phân phối đất đai là rất quan trọng để đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong quá trình phân phối nguồn lợi từ đất đai. Đồng thời, việc đầu tư vào hạ tầng và dịch vụ công cộng cũng cần được ưu tiên để tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của các khu vực nông thôn và cộng đồng có thu nhập thấp. Tóm lại, việc hiểu và áp dụng lợi tức và địa tô một cách hợp lý và công bằng là rất quan trọng để thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam trong thời kỳ tồn cầu hóa. Chính sách và biện pháp cụ thể cần được áp dụng để giải quyết các vấn đề cụ thể và đảm bảo một môi trường kinh doanh lành mạnh và công bằng.
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11"><b>Tài liệu tham khảo</b>
4. Quốc hội (2010), Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội về tiếp tục miễn giảm thuế sử dụng đất nơng nghiệp.
5. Chính phủ (2014), Nghị định số 104/2014/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2014 quy định về khung giá đất.
</div>