Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (63.24 MB, 233 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
MA SO: LH - 2016 - 46/DHL - HN
Chủ nhiệm dé tai: TS. Nguyễn Phương Lan Thu ký đề tài: Ths. Bế Hoài Anh
HÀ NỘI - 2017
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">TS. Nguyễn Phương Lan <small>Trường Đại học</small> - Chủ nhiệm đê tài; Luật Hà Nội - Tác giả chuyên đề 1;
- Tác giả chuyên đề 4; - Báo cáo tổng thuật đề tài; Ths. Bê Hoài Anh Trường Đại học | Thư ky đê tài
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">QTHL Quốc Triều Hình luật
<small>HVLL Hoàng Việt Luật lệBLDS Bộ luật dân sự</small>
TTDS Tố tụng Dân sự
<small>HN&GD Hơn nhân và gia đình</small>
<small>HDTTTP Hiệp định tương trợ tư pháp va pháp lý</small> CRC Công ước Quốc tế về quyền trẻ em <small>TAND Tòa án nhân dân</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4"><small>MỤC LỤC</small>
<small>Trang</small> MO DAU
Phan thứ nhất: Tổng quan về đề tai nghiên cứu |
Phan thứ hai: Báo cáo tong hợp đề tài 9 Phần thứ ba: Các chuyên đề nghiên cứu 86
DANH MUC CHUYEN DE
Chuyên đề 1: Một số van dé lý luận chung về pháp luật nuôi con 87 <small>nuôi</small>
TS. Nguyễn Phương Lan — Đại học Luật Hà Nội
Chuyên đề 2: Điều kiện nuôi con nuôi, thực tiễn thi hành và những 110 vướng mắc cần khắc phục
PGS.TS. Nguyễn Thị Lan — Dai học Luật Hà Nội
Chuyên đề 3: Thủ tục giải quyết việc nuôi con ni có yếu tố nước 128
ngồi — Thực tiễn thực hiện, những vướng mắc, bất cập và hướng
<small>hoàn thiện</small>
<small>Ths. Phạm Kim Anh — Cục Con nuôi — Bộ Tu pháp</small>
Chuyên đề 4: Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi — những 151 vướng mắc, bất cập và hướng hoàn thiện
TS. Nguyễn Phương Lan — Đại học Luật Hà Nội
Chuyên đề 5: Chấm dứt việc nuôi con nuôi và thực tiễn thực hiện 178
TS. Bùi Minh Hong — Dai học Luật Hà Nội
Chuyên đề 6: Tình hình thực hiện Luật Nuôi con nuôi và một số 194 kiến nghị hồn thiện
<small>Ths. Đào Thi Hà — Cục Con ni — Bộ Tu pháp</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật Nuôi con nuôi được Quốc hội khóa XII thơng qua ngày 17/6/2010 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2011. Luật Ni con ni có hiệu lực thi hành đã được gần 7 năm. Luật Nuôi con nuôi được xây dựng là tiền đề pháp lý để Việt Nam gia nhập Công ước La Hay số 33 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế (viết tắt là Cơng ước La Hay). Cơng ước La Hay có hiệu lực thi hành ở nước ta từ
<small>ngày 1/2/2012.</small>
Luật Nuôi con nuôi lần đầu tiên được ban hành đã điều chỉnh việc ni con ni một cách tồn diện, tao cơ sở pháp lý giải quyết các van đề phát sinh trong lĩnh vực nuôi con nuôi. Luật Nuôi con nuôi điều chỉnh việc nuôi con nuôi trong nước và nuôi con ni có yếu tổ nước ngồi trong sự liên kết với nhau một cách thống nhất và chặt chẽ. Luật Nuôi con nuôi quy định khá rõ ràng về thủ tục giải quyết việc ni con ni; trình tự tìm gia đình thay thế cho trẻ em ở trong nước trước khi giải quyết cho trẻ em làm con ni ở nước ngồi; ngun tắc giải quyết việc ni con ni; lệ phí và chi phí giải quyết việc nuôi con nuôi; hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi; chấm dứt nuôi con nuôi; giải quyết van đề nuôi con nuôi thực tế...
Tuy nhiên qua gan 7 năm thực hiện, Luật Nuôi con nuôi cũng bộc lộ những vấn dé vướng mắc, bat cập, chưa phù hợp với thực tiễn, hoặc có những quy định chưa đầy đủ, chưa rõ ràng cần có sự sửa đổi, bố sung. Vi dụ: các quy định về thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi phức tạp hơn, hồ sơ nuôi con nuôi cần nhiều loại giấy tờ hơn; quy định về hệ quả pháp lý của việc nuôi con ni chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng, chưa có sự
<small>tương thích với quy định của các ngành luật khác có liên quan, đặc biệt là hệ quả pháp</small>
lý của việc ni con ni có yếu tố nước ngồi cịn chưa được quy định; quy định về nuôi con nuôi thực tế có yếu tơ nước ngồi chưa được điều chỉnh nên khơng có cơ sở giải quyết các trường hợp phát sinh trong thực tiễn; các điều kiện của việc con nuôi chưa chặt chẽ, dẫn đến việc nhận thức và áp dụng trong thực tế thiếu thống nhất v.v...
Về thực tiễn thực hiện cũng phát sinh nhiều vướng mắc khó khăn cần có sự tháo
gỡ dé đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự, đặc biệt là của trẻ em được <small>nhận ni. Việc tìm gia đình ni dưỡng trẻ em ở trong nước chưa được quan tâm và</small>
thực hiện đầy đủ; xác định điều kiện của con ni, của người nhận ni cịn khó khăn, lúng túng; việc xác định và lay y kiến của cha mẹ đẻ, người giám hộ của trẻ cho làm con ni cịn khó khăn; hồ sơ của trẻ dé giới thiệu làm con nuôi chưa day du, thiéu các thong tin về tình trang sức khỏe của trẻ; việc phối hop giữa các cơ quan trong việc giới thiệu trẻ em còn chậm; cơ chế giám sát thực hiện việc nuôi con nuôi chưa được quan tâm, thực hiện day đủ; thực hiện việc thu chi, phân bố nguồn thu từ phí, lệ phí trong việc giải quyết ni con ni cịn nhiều vướng mắc, tắc nghẽn, gây ảnh hưởng đến việc chăm sóc, ni dưỡng trẻ em ở các cơ sở bảo trợ xã hội... Vấn đề nuôi con
<small>2</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">ni thực tế cịn tồn đọng SỐ lượng khá lớn chưa được đăng ký dù có đủ điều kiện (3264 trường hợp)! trong khi thời gian đăng ký việc nuôi con nuôi đã hết. Xuất hiện
<small>việc ni con ni nhà chùa...</small>
Việc ni con ni có yếu tổ nước ngồi đã có những thay đổi căn bản về nguyên tắc, thủ tục giải quyết, sự phối hợp giữa các nước có liên quan theo quy định
của Luật Nuôi con nuôi và Công ước La Hay. Tuy nhiên trong thực tiễn thực hiện vẫn
gap nhiều vướng mắc, khó khăn về thủ tục, về áp dụng pháp luật giải quyết hệ quả pháp lý. Luật Nuôi con nuôi không hề có quy định nào dẫn chiếu tới việc áp dụng
<small>pháp luật của các nước có liên quan trong việc xác định hệ quả pháp lý của việc nuôi</small>
con nuôi có yếu tố nước ngồi. Đây là một lỗ hồng pháp lý lớn cần sớm được khắc phục nhằm tạo cơ sở pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của trẻ em Việt Nam
<small>làm con ni nước ngồi.</small>
Trước những van đề cịn tơn tại đó, với nhu cầu về ni con ni trong nước và có yếu tố nước ngồi hiện nay, việc nghiên cứu tình hình thực thi Luật Nuôi con nuôi, làm rõ những vướng mắc, bat cập, trên cơ sở đó chỉ ra những điểm cần sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi và đề xuất các biện pháp nhằm đảm
bảo thực hiện có hiệu quả các hoạt động trong q trình giải quyết, thực hiện việc
ni con ni, nhằm đảm bảo lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận nuôi là một yeu cau cap thiét, cd ý nghĩa lý luận, khoa học và thực tiễn.
Vì vậy việc nghiên cứu đề tài: “Luật Nuôi con nuôi — thực tiễn thi hành va giải pháp hoàn thiện” trong bối cảnh hiện nay có ý nghĩa thiết thực về mặt lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề nuôi con nuôi đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Từ khi Luật Ni con ni có hiệu lực đến nay cũng đã có một số cơng trình, bài viết, khóa luận tốt nghiệp đại học, luận văn thạc sĩ bàn về một số khía cạnh, nội dung riêng lẻ của Luật Ni con ni nhưng chưa có cơng trình nghiên cứu khoa học nào đề cập
<small>một cách toàn diện các quy định của Luật Ni con ni từ góc độ lý luận cũng như</small>
thực tiễn thi hành.
* Các luận văn thạc sĩ liên quan đến vẫn đề nuôi con nuôi theo Luật Ni con ni có thể ké đến là:
<small>- “Ni con nuôi theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Bùi Thị Hương, luận văn</small>
thạc sĩ luật học tại khoa Luật — Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011. Luận văn phân tích q trình phát triển của pháp luật nuôi con nuôi, những kết quả đã đạt được,
<small>! Cục Con nuôi, “Công tác đăng ký nuôi con nuôi thực tế” - Chuyên dé 2 — Hội nghị Sơ kết 3 năm thực hiện Luật Nuôi con nuôi và 2 năm thi</small>
<small>hành Công ước La Hay về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế - Hội nghị do Bộ Tư pháp — Unicef Việt Nam tổ chức,Hà Nội tháng 4/2014, tr.48.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">những hạn chế và sự cần thiết của Luật Nuôi con nuôi. Tuy nhiên, những nội dung của
<small>Luật Ni con ni khơng được phân tích kỹ trong luận văn này</small>
- “Hậu quả pháp lý của việc nuôi con nuôi — một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Thị Hiến, luận văn thạc sĩ tại Đại học Luật Hà Nội, năm 2013. Luận văn chỉ phân tích về hệ quả pháp lý của việc ni con nuôi theo pháp luật Việt Nam và Luật Nuôi con ni, qua đó nêu những điểm cịn bắt cập.
- “Pháp luật về ni con ni có yếu tố nước ngồi của Việt Nam trong mỗi
<small>tương quan với Cơng ước La Hay” của Vũ Kim Dung, luận văn thạc sĩ luật học tại</small>
Khoa Luật — Dai học Quốc gia Hà Nội, năm 2013. Luận văn đã khái quát các quy định của pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngồi, đánh giá những điểm tích cực và hạn chế, những điểm tương đồng và khác biệt giữa Luật Nuôi con
<small>nuôi với Công ước La Hay.</small>
- “Nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi theo Luật Nuôi con nuôi” của
Nguyễn Thị Phương Thu, luận văn thạc sĩ luật học năm 2014, Trường Đại học Luật
Hà Nội. Tác giả đã phân tích các nguyên tắc của việc nuôi con nuôi theo quy định của Luật Nuôi con nuôi và đánh giá thực tiễn áp dụng các nguyên tắc này.
- Tác giả Nguyễn Thúy Hang có luận văn thạc sĩ luật học với dé tài: “Điều kiện nuôi con nuôi — một số vẫn đề lý luận và thực tiễn”, năm 2014, Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận văn chỉ phân tích về điều kiện ni con nuôi theo Luật Nuôi con nuôi và một vài nét về thực tiễn thực hiện các điều kiện nuôi con nuôi.
- Tác giả Kiều Thị Huyền Trang viết luận văn thạc sĩ luật học tại khoa Luật — Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014, với đề tài: “Quan hệ cha mẹ nuôi — con nuôi theo pháp luật Việt Nam”. Luận văn đã phân tích một số nội dung về hệ quả pháp lý
của việc nuôi con nuôi qua mối quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, giữa con nuôi <small>với các thành viên khác của gia đình cha mẹ ni, giữa con đã làm con ni với cha</small>
mẹ đẻ và qua đó chỉ ra một số điểm còn hạn chế trong các quy định của pháp luật về
<small>nudi con nuôi.</small>
<small>- Luật văn thạc sĩ luật học của tác giả Vũ Thanh Vân tại Trường Đại học Luật Hà</small>
Nội, năm 2016, với đề tài: “Một số van đề lý luận và thực tiễn về nuôi con nuôi thực tế trong pháp luật hôn nhân và gia đình”. Luận văn đã bàn đến một số khía cạnh lý luận của việc nuôi con nuôi thực tế, pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi thực tế,
thực tiễn giải quyết van đề nuôi con nuôi thực tế theo Luật Nuôi con nuôi, chỉ ra
những vướng mắc và đề xuất hướng giải quyết van dé này. * Bài viết trên tạp chí chun ngành
Từ khi Luật Ni con ni có hiệu lực, một số cơng trình khoa học có ý nghĩa về
<small>mặt lý luận và thực tiên liên quan đên Luật Nuôi con nuôi đã được công bô như sau:</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">- Tạp chi Dân chủ và Pháp luật — Bộ Tư pháp có số chuyên đề “Pháp luật về nuôi con nuôi” năm 2011 sau khi Luật Ni con ni có hiệu lực. Số chun đề bao gồm các bài viết về một số nội dung của Luật Ni con ni như mục đích, ngun tắc giải quyết việc ni con ni, các nội dung có liên quan về điều kiện nuôi con nuôi, hé sơ, thủ tục, thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi, đăng ký việc nuôi con nuôi thực tế, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi... Tuy nhiên các bài viết trong Số tạp chí chuyên đề này chủ yếu mang tính chất thơng tin về Luật Ni con ni sau khi được
<small>ban hành và mới có hiệu lực.</small>
- Tác giả Nguyễn Phương Lan với bài viết: “Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi theo Luật nuôi con ni”, số tháng 10/2011 Tạp chí Luật học; “Hệ quả pháp lý của việc ni con ni có yếu tổ nước ngồi theo Luật Ni con ni”, số tháng 5/2012 Tạp chí Luật học. Trong các cơng trình này, tác giả đã bàn đến quy định của Luật Nuôi con nuôi về hệ quả pháp lý của việc nuôi con ni trong nước và ni con ni có yếu t6 nước ngoài, nêu những điểm vướng mắc, bat cấp và kiến nghị sửa đổi bồ sung một số quy định của pháp luật về van đề này.
<small>* Hội thao khoa hoc</small>
- Sau khi Luật Ni con ni có hiệu lực, tháng 11/2011, Khoa pháp luật Quốc tẾ - Trường Đại học Luật Hà Nội đã chủ trì tơ chức Hội thảo khoa học cấp trường với dé tài “Nuôi con ni có yếu tố nước ngồi theo Luật Ni con nuôi năm 2010”. Hội thảo đã bàn đến các vấn đề có liên quan về ni con ni có yếu tổ nước ngồi theo quy định của Luật Ni con nuôi trong bối cảnh nước ta gia nhập Công ước La Hay, từ đó đề xuất, chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong quy định của pháp luật cũng như những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết việc cho - nhận con ni có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, dé tài Hội thảo mới chi tập trung bàn thảo về van dé nuôi con ni có yếu tố nước ngồi, cịn van dé nuôi con nuôi trong nước chưa được đề cập tới.
- Tháng 4/2014 Bộ Tư pháp đã phối hợp với Unicef Việt Nam tô chức Hội nghị Sơ kết 3 năm thực hiện Luật Nuôi con nuôi và 2 năm thi hành Công ước La Hay về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế. Hội nghị đã tiễn hành tổng kết công tác thi hành Luật Nuôi con nuôi và Công ước La Hay trong thời gian vừa qua, chỉ ra những khó khăn vướng mắc từ thực tiễn thi hành Luật Nuôi con nuôi qua các báo cáo chuyên đề của một số Sở Tư pháp địa phương, Cục Con nuôi, cơ quan khác có liên quan. Trên cơ sở đó, Hội nghị đã có những kiến nghị về sửa đồi, bố sung hồn thiện pháp luật về ni con ni và các biện pháp thực hiện. Với ý nghĩa là Hội nghị tông kết công tác thi hành pháp luật, các van dé thực tiễn thi hành luật Nuôi
<small>con nuôi được đê cập kha đa dạng, song những vân dé lý luận chưa được nghiên cứu,</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">phân tích sâu, có những vấn đề hầu như chưa được bàn đến như hệ quả pháp lý của
việc nuôi con nuôi và thực tiễn thi hành...
- Tháng 7/2016, Cục Con nuôi — Bộ Tư pháp và Sứ quán Pháp tô chức Hội nghị tập huấn về “Đánh giá nhu cầu và điều kiện trẻ em được cho làm con nuôi nước ngoài”. Hội nghị đã đánh giá một số nét về tình hình giải quyết việc ni con ni nước ngồi tại Việt Nam, những vướng mắc khó khăn trong việc giải quyết ni con ni nước ngồi tại cơ sở nuôi dưỡng. Kết quả của Hội nghị được thé hiện tập trung qua việc phân tích làm rõ việc lựa chọn biện pháp chăm sóc thay thế và đánh giá nhu cầu của trẻ em cần tìm gia đình thay thế, và giới thiệu dự thảo Bộ công cụ phân loại trẻ em cần tìm gia đình thay thế, phương pháp đánh giá nhu cầu của trẻ em. Những van dé về pháp luật thực định không được bàn tới nhiều trong hội nghị này.
- Tháng 11/2016, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Unicef Việt Nam tổ chức Hội nghị đánh giá tình hình thực hiện Cơng ước La Hay số 33 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế và Hội nghị đánh giá tình hình thực hiện Luật Ni con nuôi và Nghị định số 19/2011/NĐ-CP giai đoạn 2011-2016. Hội nghị tổng kết tình hình thực hiện Luật Ni con ni, nêu lên những khó khăn vướng mắc trong q
<small>trình thực thi Luật Nuôi con nuôi và Công ước La Hay từ các địa phương trong cả</small>
nước. Một số vẫn đề hạn chế của luật thực định cũng được đề cập nhưng khơng sâu và chưa có định hướng về sửa đôi Luật Nuôi con nuôi.
Qua các nghiên cứu được công bố cho thấy ké từ khi Luật Nuôi con ni có hiệu lực chưa có một cơng trình nào nghiên cứu đầy đủ, toàn diện, hệ thống các vấn đề về lý luận cũng như thực tế liên quan đến các quy định của Luật Nuôi con nuôi. Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá các quy định của Luật Ni con ni một cách tổng thể, tồn diện từ phương diện lý luận đến thực tiễn thực hiện là thiết thực, cần thiết, có ý nghĩa khoa học sâu sắc và là một đề tài nghiên cứu hoàn tồn mới, khơng có sự trùng lặp với các cơng trình đã được cơng bơ.
<small>3. Mục đích nghiên cứu</small>
Nghiên cứu các quy định của Luật Nuôi con nuôi và thực tiễn thi hành, từ đó
phát hiện, chỉ ra những điểm vướng mắc, bất cập trong các quy định của Luật Nuôi con nuôi và đề xuất những kiến nghị sửa đơi, bơ sung hồn thiện Luật ni con ni và pháp luật về ni con ni nói chung, đồng thời đề xuất các biện pháp nhằm đảm bảo hiệu qua thi hành Luật Nuôi con nuôi trên thực tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu một số van dé lý luận về pháp luật nuôi con nuôi, cơ sở lý luận của sự điều chỉnh pháp luật về nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi, điều kiện nuôi con nuôi, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi... trong sự so sánh với pháp luật quốc tế và pháp luật các nước
<small>6</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">có liên quan, dé thấy được sự hài hịa, tương thích cũng như sự khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế và pháp luật một số nước khác điều chỉnh việc
<small>nuôi con nuôi.</small>
Đề tài cũng nghiên cứu thực tiễn thực hiện, áp dụng Luật ni con ni từ khi
<small>Luật Ni con ni có hiệu lực.</small>
* Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các quy định về nuôi con nuôi theo
<small>Luật Nuôi con nuôi, Công ước La Hay và các văn bản pháp luật khác có liên quan, có</small>
sự so sánh với các quy định trước đây về nuôi con nuôi và pháp luật của một số nước về nuôi con nuôi.
Đề tài tập trung nghiên cứu những quy định của Luật Nuôi con ni điều chỉnh các nội dung có liên quan đến việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ nuôi con nuôi đối với việc nuôi con nuôi trong nước và ni con ni có yếu tố nước ngồi. Các nội dung về phí, lệ phí giải quyết việc ni con ni, tổ chức con ni nước ngồi khơng đặt ra nghiên cứu trong phạm vi đề tài này.
Đề tài nghiên cứu việc thực hiện, áp dụng các quy định của Luật Nuôi con nuôi trên thực tiễn trong thời gian qua ké từ khi Luật Ni con ni có hiệu lực.
<small>5. Phương pháp nghiên cứu</small>
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, về chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ em. Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở gắn liền lý luận với thực tiễn, sử dụng các kết quả từ thực tiễn dé soi xét lại lý luận, nhằm làm cho lý luận có cơ sở khoa học sâu sắc hơn, có tính thực tiễn hơn, đồng thời áp dụng lý
luận một cách chính xác hơn trong thực tiễn.
Các phương pháp nghiên cứu cu thé là: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử, thống kê.
- Phương pháp phân tích, tong hợp được sử dụng dé phân tích đánh giá các nội dung có liên quan của van dé nghiên cứu, đặc biệt là phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về nuôi con ni, trên cơ sở đó có sự tổng hợp, xác định các van dé còn tồn tại, vướng mắc. Phương pháp phân tích, tổng hợp làm cho đề tài được nghiên cứu có chiều sâu, bản chất và tồn diện.
- Phương pháp so sánh được sử dụng nhằm làm sáng tỏ sự khác biệt hay tương đồng giữa pháp luật quốc tế và pháp luật của một số nước với pháp luật Việt Nam điều chỉnh các nội dung cơ bản về nuôi con nuôi, cũng như các quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu, dé từ đó thay duoc su can thiét trong viéc tiếp thu có chọn lọc về nội dung và kỹ thuật lập pháp khi sửa đổi, bổ sung hồn thiện Luật Ni con nuôi
<small>trong thời gian tới.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">- Phương pháp lich sử: giúp xem xét các van dé có liên quan trong mối quan hệ biện chứng, gắn liền với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nhằm đảm bảo sự kế thừa, phát triển những quy định hợp lý về nuôi con nuôi trong các văn bản pháp luật trước đây, đồng thời loại bỏ, sửa đổi các quy định khơng hop lý, thiếu tính khả thi, thiếu thống nhất hoặc bổ sung các quy định cần thiết trong pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi.
- Phương pháp thống kê giúp hệ thống hóa các số liệu, phản ánh tình hình giải quyết việc ni con ni, qua đó thấy được diễn biến, thay đổi của việc ni con nuôi trước và sau khi Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực, từ đó có cơ sở để rút ra những kết
<small>luận, nhận định chính xác và khoa học.</small>
6. Nội dung nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung cơ bản của Luật Nuôi con ni, việc áp dụng các quy định đó trong thực tiễn thi hành, phát hiện những vướng mắc, bất cập, những quy định còn mâu thuẫn, thiếu thống nhất, hoặc những nội dung chưa được quy định, để đề xuất các kiến nghị hồn thiện Luật Ni con ni, đáp ứng nhu cầu của thực tiễn và bảo đảm tốt hơn lợi ích của trẻ em được nhận ni. Đề tài nghiên cứu những nội dung cụ thê sau:
- Những van dé lý luận luận chung về pháp luật nuôi con nuôi trong mối tương quan với pháp luật quốc tế và pháp luật của một số nước trong xu hướng hội nhập hiện nay. Nội dung và ý nghĩa của các nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi trong bối cảnh hiện nay.
- Các quy định về điều kiện ni con ni, trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi trong nước và nuôi con ni có yếu tố nước ngoai và những vướng mắc, bat cập;
- Những van dé về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi theo quy định của Luật
<small>Nuôi con nuôi trong sự so sánh, liên hệ với các luật khác có liên quan, với Cơng ước</small>
La Hay và pháp luật của một số nước;
- Van dé cham dứt việc nuôi con nuôi và những tồn tại của pháp luật về van dé này; - Thực trạng thực hiện Luật nuôi con nuôi trong hơn 6 năm qua và những vấn đề còn tồn tại cần khắc phục;
- Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn thực hiện Luật Nuôi con nuôi, đề tài đã chỉ ra những điểm vướng mắc, bat cập, những khiếm khuyết của Luật Nuôi con ni và dé xuất hướng hồn thiện pháp luật và các biện pháp bảo đảm thi hành có hiệu quả Luật
<small>Nuôi con nuôi trong thực tê.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">MỤC LUC BAO CAO TONG HỢP
1. KHAI QUAT VE PHAP LUAT NUOI CON NUOI
1.1. Khái niệm pháp luật nuôi con nuôi và đặc điểm của pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi
<small>1.1.1. Khái niệm pháp luật nuôi con nuôi</small>
1.1.2. Đặc điểm pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi
1.1.3. Sự cần thiết phải điều chỉnh băng pháp luật việc nuôi con
1.2. Sự phát triển của pháp luật nuôi con ni Việt Nam và vai trị của Luật Ni con nuôi trong điều kiện kinh tế xã hội hiện <small>nay</small>
1.2.1. Khái qt q trình phát triển của pháp luật ni con ni
<small>ở Việt Nam</small>
1.2.2. Vai trị của Luật Ni con nuôi trong bối cảnh kinh tế - xã
<small>hội hiện nay</small>
1.3. Các văn bản pháp luật quốc tế và mối liên hệ với pháp
<small>luật nuôi con nuôi Việt Nam</small>
1.3.1. Tuyên bố 1986
1.3.2. Công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC)
<small>1.3.3. Công ước La Hay</small>
1.4. Các nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi và ý nghĩa 1.4.1. Các nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi
1.4.2. Ý nghĩa của các nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi 2. THỰC TIEN THI HANH LUAT NUOI CON NUÔI VA NHUNG VAN DE VUONG MAC, BAT CAP
<small>2.1. Tinh hình nhận ni con ni khi Luật ni con ni cóhiệu lực</small>
<small>2.1.1. Việc ni con ni trong nước</small>
2.1.2. Việc ni con ni có u tổ nước ngoài
2.2. Thực tiễn thực hiện các điều kiện nuôi con nuôi 2.2.1. Về điều kiện của người được nhận làm con nuôi
2.2.2. Vướng mắc khi áp dụng điều kiện đối với người nhận nuôi
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">trong nước và ni con ni có yếu tố nước ngồi
2.3.1. Những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện các thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi trong nước
2.3.2. Những vướng mắc khi thực hiện các thủ tục giải quyết việc ni con ni có yếu tố nước ngồi
2.3.3. Vấn đề đăng ký việc nuôi con nuôi thực tế 2.3.4. Van dé con nuôi nhà chùa
2.4. Thực trạng pháp luật về hệ quả pháp lý của việc nuôi con
2.4.1. Cơ sở lý luận của sự điều chỉnh pháp luật về hệ quả pháp
<small>lý của việc nuôi con nuôi</small>
2.4.2. Những vấn đề còn tồn tại về hệ quả pháp lý của việc ni
<small>con ni trong nước</small>
2.4.3. Những van dé cịn ton tại về hệ quả pháp lý của việc nuôi con ni có u tổ nước ngồi
2.5. Thực tiễn giải quyết cham dứt việc nuôi con nuôi
3. YÊU CẦU SỬA ĐỎI, BỎ SUNG LUẬT NUÔI CON NUÔI
VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HỒN THIỆN PHÁP LUẬT
VE NUOI CON NI
3.1. Sự cần thiết phải sửa đối, bé sung luật Nuôi con nuôi 3.2. Các yêu cầu đối với việc sửa đổi, b6 sung Luật nuôi con nuôi trong điều kiện hiện nay
3.3. Giải pháp hồn thiện pháp luật về ni con ni và một số biện pháp nhằm đảm bảo hiệu quả thực hiện pháp luật ni
<small>con ni</small>
3.3.1. Một số giải pháp hồn thiện pháp luật về nuôi con nuôi 3.3.2. Một số biện pháp nhằm đảm bảo hiệu quả việc thực hiện
<small>pháp luật về nuôi con nuôi</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">1. KHÁI QUAT CHUNG VE PHÁP LUAT NUÔI CON NUÔI
1.1. Khái niệm pháp luật nuôi con nuôi và đặc điểm của pháp luật điều
<small>chỉnh việc nuôi con nuôi</small>
<small>1.1.1. Khai niệm pháp luật nuôi con nuôi</small>
<small>Nuôi con nuôi là một hiện tượng xã hội phát sinh một cách tự nhiên trong đời</small>
sống xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh cảm của con người, đồng thời hướng tới việc
<small>chăm sóc, ni dưỡng trẻ em khơng nơi nương tựa, khơng có gia đình chăm sóc, ni</small>
dưỡng, giáo dục. Việc ni con ni hiểu một cách don giản và cụ thể nhất là việc một người (hoặc hai người là vợ chồng) nhận một đứa trẻ khơng do mình sinh ra để chăm sóc, ni dưỡng, yêu thương, coi nó như con đẻ, nhằm xác lập quan hệ cha me và con với đứa trẻ, giúp cho trẻ được sống trong mơi trường gia đình.
Trong mỗi giai đoạn lịch sử, việc ni con ni nói chung đều hướng tới việc chăm sóc, ni dưỡng, thể hiện tình thương yêu đối với trẻ em được nhận nuôi, nhưng đồng thời chịu ảnh hưởng của đạo đức, văn hóa, phong tục tập qn, tín ngưỡng, tơn giáo của mỗi quốc gia trong từng hoàn cảnh lịch sử.
Việc cho trẻ làm con nuôi nhằm thiết lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận
<small>nuôi và trẻ được nhận ni, hình thành một gia đình cho trẻ, đảm bảo cho trẻ được</small>
chăm sóc, ni dưỡng trong mơi trường gia đình. Quan hệ ni con ni ln tơn tại ba bên chủ thé có quan hệ mật thiết với nhau, đó là cha mẹ đẻ (hoặc người giám hộ
<small>của trẻ em được cho làm con nuôi), bản thân trẻ em được nhận nuôi và người nhận</small>
nuôi. Các quan hệ này tồn tại một cách tự nhiên trong việc thiết lập quan hệ cho — nhận con nuôi, nhằm hướng tới mục đích xác lập một quan hệ cha mẹ và con mới thay thế cho quan hệ cha mẹ và con về mặt sinh học. Đề điều chỉnh việc ni con ni nhăm những mục đích nhất định phù hợp với lợi ích chung của nhà nước, của xã hội và gia đình, giai cấp thống trị đã sử dụng pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi, thiết lập một khuôn khổ pháp lý nhất định trong việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi cũng như việc thực hiện các quyên, nghĩa vụ của các bên phát sinh từ quan hệ đó.
<small>Việc ni con ni dù với động cơ, mục đích gì cũng hướng tới việc hình thành một</small>
gia đình, nên pháp luật ln quan tâm điều chỉnh, nhăm định hướng cho sự phát triển các môi quan hệ gia đình ơn định, bền vững, đảm bao sự gắn kết giữa các thành viên
<small>gia đình.</small>
Khi xã hội phát triển, các giá trị tiến bộ của nhân loại ngày càng được cộng đồng quốc tế thừa nhận thì pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi cũng phát triển theo xu hướng tiễn bộ hơn, quan tâm tới lợi ích của trẻ em làm con ni chứ khơng chỉ hướng tới lợi ích của người nhận ni. Những giá trị tiễn bộ của nhân loại về nuôi con ni được cộng đồng quốc tế cơng nhận địi hỏi pháp luật của các quốc gia cũng phải có sự điều chỉnh tương ứng. Sự điều chỉnh của pháp luật về nuôi con nuôi ngày càng đầy
<small>12</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">đủ, hoàn thiện, toàn diện phù hợp hơn với thực tế khách quan của quan hệ nuôi con nuôi, đồng thời phan ánh được xu hướng tiến bộ chung của nhân loại trong việc nhìn
<small>nhận, đánh giá việc ni con ni.</small>
Trong xu hướng hội nhập và tồn cầu hóa, việc nuôi con nuôi ngày nay không chỉ giới hạn trong mỗi quốc gia mà còn vượt ra khỏi biên giới quốc gia, địi hỏi pháp luật ni con ni của mỗi nước phải có sự điều chỉnh phù hợp, tương thích với pháp luật quốc tế và pháp luật của các nước có liên quan. Trong trường hợp trẻ em một nước này được nhận làm con nuôi ở nước khác càng địi hỏi pháp luật điều chỉnh việc ni con nuôi phải chặt chẽ, thiết lập sự hợp tác giữa các nước nhằm ngăn chặn mọi hành vi dẫn tới việc bắt cóc, bn bán trẻ em dưới danh nghĩa nuôi con nuôi.
Như vậy, pháp luật về nuôi con nuôi là tổng thể các quy phạm pháp luật thể hiện dưới hình thức các văn bản quy phạm pháp luật, quy định mục đích, nguyên tắc giải quyết việc ni con ni, điều kiện, trình tự, thủ tục xác lập quan hệ cha mẹ và con
<small>giữa người nhận nuôi con nuôi với người được nhận làm con nuôi, hệ quả pháp lý của</small>
việc nuôi con nuôi, chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi, cơ chế hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thâm quyên trong giải quyết việc nuôi con nuôi, bảo vệ trẻ em
<small>được làm con nuôi cũng như xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực nuôi</small>
con nuôi và các nội dung khác có liên quan trong việc ni con nuôi tại một quốc gia hoặc và giữa các quốc gia với nhau.
1.1.2. Đặc điểm pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi
Pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi phải xuất phát từ thực tế khách quan của các môi quan hệ trong việc cho — nhận con nuôi và phù hợp với bản chat của việc nuôi
<small>con ni. Ni con ni làm hình thành quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi</small>
và người được nhận nuôi như quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con đẻ, nhưng có thể khơng làm chấm dứt quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con. Trong quan hệ nuôi con ni ln tồn tại ba phía chủ thé là cha mẹ nuôi, con nuôi, cha mẹ đẻ. Các chủ thé này có mối tác động, ảnh hưởng lẫn nhau với những mức độ nhất định trong các giai đoạn khác nhau của việc nuôi con nuôi: từ lúc bắt đầu xác lập quan hệ nuôi con nuôi đến thực hiện việc ni con ni và (có thể) chấm dứt việc ni con ni. Do đó, điều chỉnh việc ni con ni chỉ đầy đủ và tồn diện khi pháp luật quy định đầy đủ các mối quan hệ trên qua các giai đoạn tiến trién khác nhau của việc nuôi con nuôi.
<small>Mặt khác, quan hệ nuôi con nuôi là một loại quan hệ pháp luật hơn nhân gia</small>
đình, xuất phát từ sự tự nguyện và do yếu tố tình cảm của chủ thê quyết định việc xác lập, thực hiện hay chấm dứt. Do đó, pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi bị chỉ phối bởi đặc điểm của các quan hệ nuôi con nuôi và mang những đặc điểm của cách thức điều chỉnh của pháp luật hơn nhân và gia đình. Cách thức điều chỉnh của pháp
<small>13</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">luật nuôi con nuôi được thể hiện qua các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc ni, có các đặc điểm sau:
- Quyền và nghĩa vụ của các chủ thé trong quan hệ nuôi con nuôi có mối liên hệ chặt chẽ, chi phối lẫn nhau trong mọi giai đoạn của việc nuôi con nuôi, đồng thời chịu sự chi phối, điều chỉnh của pháp luật theo ý chí của nhà nước. Pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi phải phản ánh được mối liên hệ này trong mọi giai đoạn diễn biến
của việc nuôi con nuôi. Vi dụ: trong việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi, sự chi phối
của cha mẹ đẻ thể hiện ở chỗ cha mẹ đẻ có đồng ý hay không về việc cho con làm con nuôi, sự đồng ý đó phải đáp ứng những u cầu gì... Điều đó ràng buộc, chi phối cách
<small>xử lý, thái độ của người nhận nuôi trong việc nhận trẻ em làm con nuôi... Mặc dù</small>
xuất phát trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với tình cảm thực sự của các chủ thể, nhưng các chủ thé không thé thực hiện một cách tùy tiện mà phải tuân thủ quy định của pháp luật nhằm đảm bảo việc cho — nhận con nuôi thực sự vì lợi ích của trẻ em, đồng thời ngăn chặn mọi hành vi, sử xu tiêu cực nhằm trục lợi, hoặc xúc phạm đến nhân phẩm của trẻ em, như lợi dụng việc nuôi con nuôi dé mua bán trẻ em, bóc lột sức lao động
<small>của trẻ em...</small>
- Do xuất phát từ sự tự nguyện và yếu tố tình cảm chi phối nên các quyền và
<small>nghĩa vụ trong việc nuôi con nuôi được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, tự giác của</small>
các chủ thê.
- Pháp luật tôn trọng sự tự nguyện, tự định đoạt, sự thỏa thuận của các chủ thể trong việc nuôi con nuôi trong chừng mực nhất định khi không làm ảnh hưởng và biến dạng bản chất của việc ni con ni. Ngồi những điều mà pháp luật cho phép các đương sự được tự nguyện thỏa thuận, các bên chủ thé không được tự ý thỏa thuận thay đổi các quyên và nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định.
- Hành vi sử xự của các chủ thể cũng như mọi hành động của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực nuôi con nuôi phải đảm bảo các quyền cơ bản của trẻ em được nhận ni và vì lợi ích tốt nhất của trẻ em làm con ni. Lợi ích tốt nhất cho trẻ em được nhận nuôi luôn được ưu tiên áp dụng khi xử lý những vấn đề phát sinh trong việc nuôi con nuôi. Đây là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi.
- Nuôi con nuôi liên quan mật thiết đến số phận của trẻ em, do đó mọi hành vi xâm phạm đến các quyền cơ bản và lợi ích tốt nhất của trẻ em phải được xử lý nghiêm khắc, triệt để.
1.1.3. Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật việc nuôi con nuôi
Bat cứ ở đâu và lúc nào, khi đã xuất hiện Nha nước thì Nhà nước luôn sử dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phat sinh trong cuộc sống sao cho phù hợp
<small>14</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">với lợi ích của giai cấp cầm quyền, với lợi ích chung của xã hội nhăm đảm bảo trật tự xã hội, củng cô quyền lực của giai cấp thống trị.
Việc nuôi con nuôi là cơ sở để xác lập các mối quan hệ trong gia đình, góp phần hình thành, mở rộng và củng cố gia đình, thiết lập một thiết chế xã hội cơ bản trong mọi chế độ xã hội, do đó pháp luật các nước ln có sự điều chỉnh các mối quan hệ nảy sinh từ việc nuôi con ni. Đó là u cầu tất yếu, khách quan của sự điều chỉnh pháp luật về nuôi con nuôi bởi những lý so sau:
- Pháp luật điều chỉnh việc nuôi con ni trước hết nhằm đảm bảo qun, lợi ích tốt nhất cho trẻ em được làm con ni, vì đối tượng của việc nuôi con nuôi là trẻ em -những người chưa có kha năng dé tự bảo vệ mình do cịn non nét về thé chat và trí tuệ. Lĩnh vực ni con ni là lĩnh vực rất nhạy cảm vì liên quan đến số phận của trẻ em, đến sự di chuyên các em từ gia đình này sang gia đình khác, từ nước nảy sang
<small>nước khác... nên đòi hỏi pháp luật phải quy định một cách chặt chẽ, minh bạch, rõ</small>
ràng các thủ tục, trình tự giải quyết, cũng như thâm quyền, trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan, tơ chức có chức năng nhằm bảo vệ trẻ em trước nguy cơ bị xâm hại có thể xảy ra.
- Việc ni con ni thiết lập quan hệ cha mẹ và con với trẻ em được nhận nuôi là quan hệ cha mẹ và con không phát sinh một cách tự nhiên gắn với huyết thống sinh học và sự kiện sinh đẻ, nên sự ràng buộc giữa các chủ thé cũng không mang tinh tự nhiên, mà tùy thuộc vào ý chí, tình cảm của các chủ thể. Do đó, sự điều chỉnh của pháp luật là cần thiết, giúp các bên hiểu, nhận thức rõ ràng về các quyên, nghĩa vụ pháp ly, lường trước những vấn đề có thé phát sinh và xác định ý thức trách nhiệm đầy đủ, cách thức xử lý, giải quyết đúng đúng đắn, hợp lý các vấn đề phát sinh trong việc cho - nhận con ni nhằm đảm bảo được lợi ích tốt nhất của trẻ em.
- Việc nhận nuôi con nuôi đem đến cho trẻ một gia đình, góp phan thiết lập, củng cố gia đình trong những mối liên hệ mới mà khơng gắn với huyết thống sinh học. Do đó sự điều chỉnh của pháp luật nhằm đảm bảo xác lập môi trường gia đình an tồn, lành mạnh cho sự phát triển về thê chất, nhân cách của trẻ được nhận nuôi, tạo sự gan kết chặt chẽ các mối liên hệ giữa con nuôi với các thành viên khác của gia đình cha mẹ ni, tạo dựng mơi trường gia đình bền vững cho trẻ cũng như đảm bảo trật tự xã hội, phù hợp với mơ hình gia đình mà nhà nước mong muốn xác lập.
<small>- Vì quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi</small>
không phát sinh một cách tự nhiên trên cơ sở huyết thống sinh học nên pháp luật cần quy định các điều kiện cần thiết đối với các bên chủ thể là người nhận nuôi, người được nhận ni nhằm đảm bảo mơi trường an tồn và tốt nhất cho lợi ích của trẻ được
<small>nhận ni. Quy định các điêu kiện đôi với các bên chủ thê là cơ sở đê nhà nước kiêm</small>
<small>15</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">soát việc cho — nhận con nuôi, nhằm đảm bảo việc nuôi con nuôi được thực hiện trong một khuôn khổ pháp lý nhất định phù hợp với lợi ích và các quyền cơ bản của trẻ em.
- Việc nuôi con nuôi luôn diễn ra giữa các bên chủ thể là cha mẹ đẻ của trẻ được
<small>nhận nuôi, trẻ em được nhận ni và cha mẹ ni có liên quan chặt chẽ với nhau. Việc</small>
điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể này trong suốt quá trình cho — nhận, thực hiện việc nuôi con nuôi là yêu cầu tất yếu, cần thiết. Bên cạnh đó, pháp luật cũng cần quy định rõ mối quan hệ giữa trẻ em được nhận nuôi với các thành viên khác trong gia đình cha mẹ ni cũng như với gia đình gốc huyết thống làm cơ sở cho các hành vi sử xu của mọi người có liên quan. Đây là van dé có ý nghĩa quan trong, thiết thực trong việc điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi, nhằm đảm bảo thiết lập một gia đình tự nhiên, đầy đủ, trọn vẹn cho trẻ em được nhận nuôi trong gia đình cha mẹ ni giống như gia đình gốc của trẻ. Vì thế, sự điều chỉnh của pháp luật về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi là hết sức quan trọng, cần thiết.
- Trong xu thế hội nhập hiện nay, vấn đề nuôi con nuôi không chỉ diễn ra trong phạm vi mỗi quốc gia riêng biệt mà cịn có thể vượt ra khỏi biên giới quốc gia, trở thành vấn đề nuôi con nuôi quốc tế. Điều đó là cần thiết và phù hợp với thực tế việc chăm sóc, bảo vệ và bảo đảm những điều kiện sống tốt nhất cho trẻ em khi không thể tìm được gia đình thay thế ni dưỡng trẻ em trong nước. Đây cũng là điều đã được thừa nhận trong các điều ước quốc tế đa phương về trẻ em. Do đó, việc điều chỉnh pháp luật về ni con ni trong mỗi quốc gia phải có sự hài hịa và tương thích với pháp luật quốc tế về nuôi con nuôi, nhằm thiết lập cơ chế hợp tác, bảo vệ trẻ em và các quyền của trẻ em trong việc nuôi con nuôi giữa các nước một cách hiệu quả nhất.
- Các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi là cơ sở pháp lý để các co quan có thâm quyền giải quyết các tranh chấp, các van dé phát sinh trong các giai đoạn khác nhau của việc nuôi con nuôi một cách khách quan, chính xác, nhằm đảm
bảo được quyền, lợi ích của trẻ được nhận nuôi cũng như của các chủ thể khác có liên
quan. Đó là cơ sở pháp lý để xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực ni con ni,
nhằm đảm bảo quyền, lợi ích của trẻ em được nhận nuôi cũng như trật tự, kỷ cương,
mục đích tốt đẹp của việc ni con ni.
1.2. Sự phát triển của pháp luật nuôi con nuôi Việt Nam và vai trị của Luật Ni con ni trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay
1.2.1. Khái quát quá trình phát triển của pháp luật ni con ni ở Việt Nam * Pháp luật nuôi con nuôi thời kỳ phong kiến
<small>Việc nuôi con nuôi đã được quy định từ lâu trong lịch sử lập pháp ở nước ta.</small>
Những quy định về nuôi con nuôi đã được thể hiện trong các văn bản pháp luật thời kỳ phong kiến mà tiêu biểu nhất là trong Quốc triều hình luật (hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức) và bộ luật Gia long (cịn gọi là Hồng Việt luật lệ). Mặc dù những quy
<small>l6</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">định về nuôi con ni được quy định có phan sơ khai, tan man ở một số điều luật trong hai bộ luật này nhưng đã thé hiện được ít nhiều tư tưởng của giai cấp cầm quyền về một hiện tượng tồn tại khách quan trong đời song xã hội lúc bấy giờ, đó là việc cho
<small>- nhận con ni.</small>
Trong pháp luật phong kiến, các quy định về ni con ni cịn rất sơ khai, tản mạn, thiếu tính hệ thống nhưng đã phản anh được mục dich, điều kiện, thủ tục, hệ quả
<small>pháp lý của việc ni con ni thời kỳ đó.</small>
Pháp luật phong kiến phân biệt khá rõ việc nuôi con nuôi lập tự với việc nuôi
<small>con nuôi thông thường (nghĩa dưỡng). Việc ni con ni thơng thường hay với mục</small>
đích lập tự sẽ quyết định đến các điều kiện, thủ tục và hệ quả pháp lý của việc ni
<small>con TI.</small>
Việc ni con ni thơng thường có thể xuất phát từ nhiều mục đích khác nhau, rất đa dạng như: muốn dé phúc lộc lâu dài cho con cháu; vì sự từ tâm thương người; vì muốn khuếch trương quyền thế của gia đình hoặc vi lợi lộc, mê tín di đoan... Việc ni con ni thơng thường khơng địi hỏi các điều kiện chặt chẽ. Con ni có thê là con trai hoặc con gái, có thể cùng họ hay khác họ với người đứng nuôi, nhưng phải là con thứ chứ không cho nuôi con trưởng, là trẻ từ ba tuổi trở lên, bảy tuổi trở xuống
<small>hoặc là trẻ bi bỏ roi’.</small>
Việc ni con ni lập tự nhằm tìm kiếm một người dé thừa kế tài sản hương hỏa, có người thờ cúng tổ tiên khi gia đình người nhận ni khơng có con. Vì vậy, việc ni con nuôi lập tự phải tuân theo các điều kiện chặt chẽ của pháp luật: chỉ được nuôi người trong họ mà không được nuôi người khác họ. Điều 256 Hồng Đức Thiện Chính thư quy định: “Ai khơng có con mà muốn lập người kế tự có thé ni người con trong họ, chứ không được nuôi con trong họ khác”. Điều 76 Bộ luật Gia Long quy định về việc lập đích tử vi pháp: “Xin con khác họ làm con nuôi (đã cải họ) để nối dõi, ay là làm loạn tông tộc, phat 60 trượng. Nếu lay con hay người khác ho làm con nối dõi cũng là làm loạn tông tộc, nên tội cũng như trên, đứa nhỏ phải trở về bồn tộc <small>của nó””.</small>
Thủ tục nhận nuôi con nuôi được thé hiện dưới dạng một văn tự. Văn tự đó được
xác lập giữa cha mẹ đứng nuôi (dưỡng phụ, dưỡng mẫu) với cha mẹ bản sinh ra đứa
trẻ. Văn tự đó phải có thị thực của người có chức sắc tại làng xã người đứng nuôi. Tên của người con nuôi được ghi trong số hộ tịch theo làng hay giáp của người cha nuôi.
<small>Trong văn tự phải ghi rõ mục đích của việc ni con ni là có ni con ni lập tựhay khơng.</small>
<small>? Hồng Đức Thiện Chính thư (1959), Đại — học — viện Sai Gòn, Trường Luật -Khoa Đại -Học, Nxb Nam Hà An quan, Sai Gon, tr.51</small>
<small>3 Nguyễn Van Thành — Vũ Trinh — Trân Huu, Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long, Tập I), Nxb Văn hóa — Thơng tin, tr.279.* Xem Doan 270 Hồng Đức Thiện Chính thư, s.đ.d.</small>
<small>17</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22"><small>Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi là làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con</small>
giữa người đứng nuôi và người được nhận nuôi. Giữa cha mẹ ni và con ni có tất cả các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con. Đó là các quyên, nghĩa vụ cơ bản như: cha
<small>mẹ nuôi có nghĩa vụ ni dưỡng, giáo dục con ni như con đẻ; con ni có nghĩa vụ</small>
phụng dưỡng cha mẹ ni như con đẻ, phải giữ trịn đạo hiếu, dé tang cha mẹ nudi...° Con nuôi và cha mẹ nuôi được thừa kế tài sản của nhau. Điều 380 Bộ luật Hồng Đức quy định: Nếu cha mẹ ni có con đẻ làm đích tử thì phần tài sản của con nuôi được hưởng bang một nửa của con đẻ; nếu cha mẹ ni khơng có con đẻ ma con ni ở
<small>cùng với cha mẹ ni từ thuở bé thì người con ni được hưởng tồn bộ tài sản của</small>
cha mẹ ni; nếu thuở bé khơng ở cùng thì con nuôi được hai phần, người thừa tự được một phần”.
Trong Bộ luật Gia Long không quy định rõ ràng về cách chia di sản thừa kế. Theo quy định tại các lệ của Điều 76 Luật Gia Long, người con ni có qun thừa kế như sau: Nếu là con nuôi lập tự, mà cha mẹ nuôi trước và sau khi nhận ni khơng
<small>sinh được con nào khác, thì người con lập tự được hưởng toàn bộ tài sản. Sau khi lập</small>
con nối đõi mà sinh được con thì gia sản vẫn để cho con đã lập tự kia và chia đều. Nếu làm con nuôi thông thường (nghĩa dưỡng), được ni từ dưới 3 tuổi có thể được chia một phan tai sản với điều kiện không được trở về bồn tông. Nếu con nuôi khác họ muốn trở về nhà mình thì khơng được đem theo của cải đã thu nhận được”.
Quan hệ giữa con nuôi với cha me đẻ: Ca hai bộ luật Hồng Đức và Gia Long đều quy định: việc nuôi con nuôi không làm chấm dứt hoàn toàn mối quan hệ giữa đứa trẻ được cho làm con ni với gia đình cha mẹ đẻ của mình. Theo Điều 381 Bộ luật Hồng Đức, nếu gia đình cha mẹ đẻ tuyệt tự (khơng có con nỗi d6i), thì người con đã cho làm con nuôi được hưởng phan gia sản băng một nửa của người thừa tự. Nếu người con nuôi không được cha mẹ ni chia điền sản cho thì khơng áp dụng điều luật này. Điều 110 Hồng Đức Thiện chính thư cũng cho phép người con nuôi được trở về gia đình nhà mình khi “con trai trưởng, con trai thứ nhà người con ni déu chết mat cả, khơng có ai noi dõi cho hai thân sinh ra mình, thì người con ni ấy được trình bày tình đó với cha mẹ nuôi, chọn người khác lam con trưởng roi bản thân người con nuồi mới được về chịu tang báo hiếu cho cha mẹ sinh ra mình. Trường hợp này thì người con ni nói trên vẫn lui xuống lam con thứ của cha mẹ nuôi, dé báo đền cái cơng ni nắng từ trước. Nếu khơng có mạng lịnh của cha mẹ nuôi, mà tự tiện bỏ nhà ấy về nhà mình, thì sẽ bị khép vào tội bat hiếu”. Tương tự, Điều 76 Bộ luật Gia Long quy <small>định: “cha mẹ ni kia có con, mà cha đẻ khơng có con nữa, nay mn trở về cho phép”Š.</small>
<small>> Xem các đoạn 43, 146, 158, 257 Hồng Đức Thiện Chính thư</small>
<small>° Quốc Triều Hình luật (Luật Hình Triều Lê), Viện Sử học Việt Nam — Nxb Pháp ly; Hà Nội 1991, tr.1417 Hoàng việt luật lệ, s.đ.d, Tập I, Quyền 6: Hộ luật, tr.280-281</small>
<small>8 Hoàng việt luật lệ, s.đ.d, Tập I, Quyền 6: Hộ luật, tr.278</small>
<small>18</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">Như vậy, tuy cịn ít và tản mạn nhưng pháp luật phong kiến Việt Nam đã có những quy định điều chỉnh một số nội dung cơ bản về nuôi con nuôi, tạo tiền đề thực hiện việc nuôi con ni trong thực tế và góp phần nhất định bảo vệ quyên lợi của
người con nuôi, đặc biệt là xác lập mối quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi <small>và đứa trẻ được nhận nuôi.</small>
<small>* Pháp luật nuôi con nuôi thời kỳ Pháp thuộc</small>
Thời kỳ Pháp thuộc, pháp luật nuôi con nuôi được điều chỉnh trong ba bộ luật: Bộ Dân luật Giản yếu áp dụng ở Nam kỳ, Bộ luật Dân sự Bắc kỳ áp dụng ở Bắc kỳ và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật áp dụng ở các tỉnh miền Trung. Tuy nhiên, ảnh hưởng của Bộ Dân luật Giản yếu rất hạn chế vì khơng phù hợp với phong tục tập qn Việt Nam, không phản ánh đúng thực trạng xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Bộ luật Dân sự Bắc kỳ và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật về cơ bản khơng có gì khác nhau. Về chế định
<small>ni con nuôi, các bộ luật này quy định những nội dung sau:</small>
- Điều kiện nhận nuôi con nuôi bao gồm điều kiện đối với người nhận nuôi và người được nhận nuôi. Cả ba bộ luật đều quy định về việc nuôi con nuôi thông thường hay con nuôi lập tự. Con nuôi phải là vị thành niên. Con nuôi thông thường có thê là
<small>con trai hoặc con gái, nhưng con nuôi lập tự phải là con trai và cùng họ với người</small>
đứng nuôi. Các bộ luật này đều quy định tuổi của người nhận nuôi. Bộ Dân luật Giản yếu không cho phép người độc thân được nuôi con nuôi lập tự.
- Thủ tục nhận nuôi con nuôi: cả ba bộ luật đều quy định việc nuôi con nuôi phải
<small>được lập thành văn tự trước mặt hộ lại với sự ưng thuận của những người có liên</small>
quan. Dân luật Giản yếu địi hỏi văn tự đó phải được Tịa án phê chuẩn mới có hiệu lực. Điều 203 Hồng Việt Trung kỳ hộ luật quy định khế ước về việc nuôi con nuôi bị vô hiệu khi chứa đựng những yếu tố giả dối, như làm khế ước nuôi con ni nhằm đem bán con. Những khế ước có việc bán con, cầm cố con hoặc gán nợ con đều vô hiệu (Điều 208 Dân luật Bắc kỳ).
<small>Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi: Việc nuôi con nuôi có hiệu lực làm phátsinh quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi như giữa cha mẹ đẻ và con đẻ. “Người</small>
đứng nuôi phải trông nom cấp dưỡng cho con ni. Con ni đã thuộc về nhà mình thì phải đối đãi như con đẻ” (Điều 193 Dân luật Bắc kỳ, Điều 192 Dân luật Trung kỳ). Con nuôi có nghĩa vụ và phận sự đối với cha mẹ nuôi như con đẻ, nhưng không bắt buộc phải phụng tự cha mẹ nuôi cùng tô tiên cha mẹ nuôi, trừ con lập tự (Điều 192 Dân luật Bắc kỳ, Điều 191 Dân luật Trung kỳ). Con nuôi không được lập tự thì khơng có quyền lợi gì về tai sản thừa kế của cha mẹ nuôi. Cha mẹ nuôi có thé làm chúc thư cho con ni một phần tài sản của mình. Nếu khơng có chúc thư, thì khi phân chia di sản, hội đồng gia tộc có thể chia cho con nuôi một phần gia sản nhưng khơng q một nửa của con chính (Điều 196 Dân luật Bắc kỳ, Điều 195 Dân luật Trung kỳ). Người
<small>19</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24"><small>con nuôi được lập làm thừa tự mà sau đó cha mẹ ni sinh được con trai thì người con</small>
ni đó khơng đứng thừa tự nữa nhưng vẫn được chia một phần gia sản của cha mẹ nuôi như con đẻ (Điều 199 Dân luật Bắc kỳ, 198 Dân luật Trung kỳ). Đối với cha mẹ đẻ, người con ni vẫn có nghĩa vụ như khơng đi làm con nuôi, nhưng trước hết phải phục tùng cha mẹ nuôi (Điều 197 Dân luật Bắc kỳ, Điều 198 Dân luật Trung kỳ). Con nuôi van được giữ nguyên quyền thừa kế gia sản của cha mẹ đẻ (Điều 198 Dân luật Bắc kỳ, Điều 197 Dân luật Trung kỳ). Hai bộ luật này cũng quy định về việc chấm dứt
nuôi con nuôi do lỗi của con nuôi hoặc lỗi của cha mẹ nuôi!9,
Những quy định của các bộ luật này về ni con ni có tính hệ thống, rõ ràng hơn và cũng day đủ hơn, đồng thời cũng có sự phù hợp nhất định với đời sống xã hội lúc bay giờ.
* Pháp luật nuôi con nuôi từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay
<small>Từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Nhà nước đã ban hànhnhững văn bản pháp luật quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho nhà nước dân chủ. Những</small>
van đề về nuôi con nuôi được điều chỉnh trong các văn bản Luật HN&GD, thủ tục, trình tự, thâm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi được điều chỉnh theo pháp luật về hộ tịch. Các văn bản này đã điều chỉnh về điều kiện nuôi con nuôi, thủ tục, thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi, hệ quả pháp ly và cham dứt việc nuôi con nuôi. Các quy định về nuôi con nuôi luôn mang tính kế thừa, ngày càng được hồn thiện, day đủ và toàn điện hơn trong các Luật HN&GD và hướng đến bảo vệ quyên, lợi ích
<small>của trẻ em được nhận nuôi.</small>
Nếu như tại Luật HN&GD năm 1959, van đề nuôi con nuôi chỉ được quy định duy nhất tại Điều 24 thì đến Luật HN&GD năm 1986 việc ni con nuôi đã được quy định thành một chương riêng với tư cách là một chế định độc lập gồm 6 điều, quy định về mục đích, điều kiện ni con nuôi, thủ tục đăng ký, hệ quả pháp lý và cham dứt việc nuôi con nuôi. Tuy chưa đầy đủ, cụ thể nhưng những quy định này đã thé hiện những nội dung cần điều chỉnh về việc nuôi con ni. Van dé ni con ni có yếu tố nước ngoài được điều chỉnh bằng các văn bản riêng biệt! 1.
Luật HN&GD năm 2000 đã quy định khá day đủ và cu thé hơn về việc nuôi con nuôi (Điều 68), các điều kiện nuôi con nuôi tại các Điều 68, 69,70, 71 (bao gồm điều kiện đối với người được nhận nuôi, điều kiện đối với người nhận nuôi, ý chỉ của các bên chủ thể), đăng ký việc nuôi con nuôi (Điều 72, 73). Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi, cham dứt việc nuôi con nuôi cũng được quy định cụ thé hơn (từ Điều 74 đến
<small>Điêu 78). Tuy nhiên, các quy định về ni con ni trong nước chưa có sự liên két với</small>
<small>° Xem Điều 195 Dân luật Bắc kỳ. Điều 194 Dân luật Trung kỳ'© Xem Điều 201 Dân luật Bắc kỳ, Điều 200 Dân luật Trung kỳ</small>
<small>"| Trong giai đoạn này, việc ni con ni có u tố nước ngồi được điều chỉnh bang Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa cơng dân Việt Namvới người nước ngồi ngày 2/12/1993, Nghị định 184/CP ngày 30/11/1994 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh hơn nhân và gia đình giữa cơng dân</small>
<small>Việt Nam với người nước ngoài 1993</small>
<small>20</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">việc ni con ni có yếu tố nước ngồi. Việc ni con ni có yếu tố nước ngồi được quy định với một điều luật riêng (Điều 105) trong chương quan hệ hơn nhân và gia đình có yếu tổ nước ngoài. Điều 105 Luật HN&GD năm 2000 đã quy định hai nội dung cơ bản: i) điều kiện của người nước ngồi nhận ni con ni là trẻ em Việt
<small>Nam hoặc trẻ em nước ngoài thường trú tại Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt</small>
Nam và pháp luật của nước mà người đó là cơng dan về điều kiện ni con ni. Đây là quy định chưa có sự tương thích với Cơng ước La Hay và các Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi; ii) quy định về hệ quả pháp ly và pháp luật được áp dụng dé giải quyết quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi trong việc nuôi con nuôi có yếu tơ
<small>nước ngồi. Theo đó, trong trường hợp việc ni con ni được thực hiện tại Việt</small>
Nam thì pháp luật để giải quyết được áp dụng theo Luật HN&GD năm 2000. Trong
<small>trường hợp việc nuôi con nuôi được thực hiện tại nước ngồi thì áp dụng pháp luật</small>
nước nơi thường trú của con nuôi. Đây là quy định rất hợp lý, phù hợp với thực tế thực hiện việc ni con ni, tương thích với pháp luật các nước và các điều ước quốc tế đa phương về nuôi con nuôi, đồng thời xác định rõ ràng quy phạm xung đột thống nhất dé giải quyết các van đề phát sinh. Chính vi vậy, đây là điều cần được kế thừa và quy định rõ trong pháp luật điều chỉnh việc ni con ni có u tổ nước ngồi
<small>hiện hành.</small>
Thâm qun, thủ tục, trình tự giải quyết việc ni con ni có yếu tổ nước ngồi được điều chỉnh cụ thể trong Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 Quy định chỉ tiết thi hành một số điều của Luật Hơn nhân và gia đình về quan hệ hơn nhân và gia đình có yếu tổ nước ngồi (viết tắt là Nghị định số 68/2002/NĐ-CP) và được sửa đổi bổ sung băng Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 sửa đôi bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP (viết tắt là Nghị định số 69/2006/NĐ-CP). Trên cơ sở hai Nghị định trên, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 08/2006/TT-BTP ngày 8/12/2006 hướng dẫn thực hiện một SỐ quy định về ni con ni có yếu tố nước ngồi (viết tắt làThơng tư số 08/2006/TT-BTP). Việc ni con ni có yếu tố nước ngồi cịn được điều chỉnh qua các Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý (HDTTTP) và Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa nước ta với các nước.
Các văn bản pháp luật trên thé hiện sự điều chỉnh khá tồn diện, đầy đủ về quan hệ ni con ni có yếu tổ nước ngồi. Tuy nhiên, van dé con ni có yếu tố nước ngồi được điều chỉnh tách rời việc ni con ni trong nước. Nói cách khác, pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi thé hiện sự tách rời giữa việc nuôi con nuôi trong nước với việc ni con ni có yếu tố nước ngồi từ điều kiện nuôi con nuôi, thủ tục giải quyết, hệ quả pháp lý... Với các quy định đó đã tạo ra sự thiên lệch trong nhận thức và giải quyết việc ni con ni có yếu tố nước ngồi so với nuôi con nuôi trong nước. Cách thức điều chỉnh như vậy chưa tương thích và phù hợp với yêu cầu của
<small>21</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">Công ước La Hay là ưu tiên việc trẻ em được sông trong gia đình gốc của mình và chỉ giải quyết cho trẻ em làm con ni ở nước ngồi khi khơng thể tìm được một gia đình
<small>nhận ni trẻ em ở trong nước.</small>
Trong bối cảnh việc ni con ni có yếu tổ nước ngoài ngày càng diễn ra với số lượng lớn!2, có diễn biến phức tạp, việc ni con ni trong nước chưa được chú trọng đúng mức, dẫn đến không đảm bảo được các quyền cơ bản và lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận nuôi. Các quy định về ni con ni cịn tản mạn, thiếu các quy phạm thực chất, quy phạm thủ tục, quy phạm xung đột điều chỉnh việc nuôi con nuôi trong nước cũng như ni con ni có u tố nước ngồi. Vì vậy, việc xây dựng, ban hành Luật Ni con nuôi là cần thiết, nhằm tạo cơ sở pháp lý giải quyết các quyền cơ bản của trẻ em, đảm bảo tốt nhất lợi ích của trẻ được nhận ni cũng như tạo tiền đề cho việc gia nhập Công ước La Hay — công ước quốc tế đa phương về ni con ni.
1.2.2. Vai trị của Luật Ni con nuôi trong bối cảnh kinh tẾ - xã hội hiện nay
<small>Luật Ni con ni được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 có vai trị</small>
quan trọng khi nước ta chuẩn bị các điều kiện cần thiết để gia nhập Công ước La Hay và thiết lập một khuôn khổ pháp luật thống nhất, toàn diện điều chỉnh các vẫn đề về ni con ni. Trong hồn cảnh đất nước cịn nhiều khó khăn, hàng ngàn trẻ em m6
cơi không nơi nương tựa, bị khuyết tật, hoặc mắc các bệnh hiểm nghèo, bị nhiễm chất
độc da cam mà nhà nước chưa có đủ điều kiện, năng lực tài chính, nhân lực dé chăm
sóc, ni dưỡng, chữa bệnh cho trẻ em, thì việc giải quyết cho các em làm con ni là
hình thức chăm sóc có hiệu quả và tốt nhất đối với trẻ. Việc giải quyết cho trẻ em trong những hồn cảnh đặc biệt được làm con ni, kê cả làm con ni ở nước ngồi, nhằm đảm bảo các quyền cơ bản và lợi ích tốt nhất cho trẻ em. Luật Nuôi con nuôi là cơ sở pháp lý đảm bảo giải quyết việc cho — nhận con ni có hiệu quả, đảm bảo được lợi ích của trẻ đồng thời ngăn chặn những hành vi xâm phạm đến trẻ như bắt cóc, mua bán, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục trẻ em hoặc nhằm mục đích trục lợi
<small>khác trong việc ni con ni</small>
Trong bối cảnh đó, Luật Ni con ni đã thể hiện vai trị qua những khía
<small>cạnh sau:</small>
- Thiết lập khung pháp lý thông nhất điều chỉnh việc nuôi con nuôi, từ ni con ni trong nước đến ni con ni có yêu t6 nước ngoài, tạo thành một chỉnh thé pháp luật đồng bộ điều chỉnh việc nuôi con nuôi.
- Xác lập những nguyên tắc cơ bản giải quyết việc nuôi con nuôi phù hợp với
<small>yêu câu của Công ước La Hay, trên cơ sở đó thiệt lập cơ chê giải quyết việc nuôi con</small>
<small>'2 Theo báo cáo của các Sở Tư pháp , từ năm 2003 đến tháng 6/2008, số lượng trẻ em Việt Nam được cho làm con nuôi ở nước ngồi là 5.876 em(trong đó chưa bao gồm những trẻ em được xin làm con nuôi theo diện ngoại lệ đối với những nước chưa ký Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôivới Việt Nam, kế cả trẻ em có quan hệ họ hàng thân thích với người nhận nuôi), Tài liệu cho phiên họp thứ nhất ban soạn thảo dy án Luật Nuôicon nuôi (ngày 14/01/2009) do Bộ Tư Pháp — Cục Con nuôi tổ chức, tr.53-54</small>
<small>22</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">nuôi trong sự liên kết chặt chẽ giữa nuôi con nuôi trong nước và nuôi con ni có yếu tố nước ngồi, nhằm đảm bảo các quyền co bản và lợi ích tốt nhất của trẻ em
<small>làm con nuôi.</small>
- Xác lập khung pháp lý quan trọng trong hợp tác quốc tế về nuôi con nuôi giữa các nước, nhăm tạo ra cơ chế bảo vệ tốt nhất, hiệu quả nhất đối với trẻ em được cho làm con nuôi ở nước ngoai trong xu thế hội nhập hiện nay.
- Pháp điển hóa pháp luật về ni con ni, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, hệ thống, dễ tiếp cận, thuận lợi trong việc áp dụng và tăng hiệu quả của pháp luật điều
<small>chỉnh việc nuôi con ni.</small>
- Thiết lập cơ sở pháp lý nhằm hồn thiện bộ máy quản lý nhà nước về nuôi con ni, có sự phân cấp, phân qun rõ ràng giữa các cơ quan trong quản ly nhà nước về nuôi con ni. Trên cơ sở đó thực hiện thống nhất công tác quản lý nhà nước về nuôi con nuôi, cả nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngồi, với sự tập trung vào một đầu mối là cơ quan Trung ương về nuôi con ni theo tinh than của
<small>Cơng ước La Hay, đó là Cục Con nuôi — Bộ Tư pháp.</small>
- Thé hiện sự tôn trọng, thực hiện các cam kết quốc tế của Nhà nước ta khi gia nhập Công ước quyền trẻ em và phù hợp với tinh thần của Công ước La Hay về việc bảo đảm thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em và lợi ích tốt nhất của trẻ em.
1.3. Các văn bản pháp luật quốc tế và mối liên hệ với pháp luật nuôi con
<small>nuôi Việt Nam</small>
Việc nuôi con nuôi không chỉ giới hạn trong phạm vi mỗi quốc gia. Đặc biệt đối với những nước chịu ảnh hưởng của chiến tranh, của nội chiến, thiên tai... làm cho nhiều trẻ em bị mất cha mẹ, mat nhà cửa, khơng cịn người thân thích chăm sóc, ni dưỡng thì việc tìm cho trẻ em một mái âm gia đình là cách thức thiết thực và hiệu quả nhất đảm bảo quyền sống còn và được chăm sóc trong gia đình của trẻ em. Trong những trường hợp trẻ em khơng thể tìm được gia đình thay thế ở trong nước thì việc thu xếp cho trẻ em làm con ni ở nước ngồi là biện pháp được xem xét và ưu tiên giải quyết hơn là dé trẻ em sống tập trung ở các cơ sở ni dưỡng trong nước. Vì vậy, van dé ni con ni có yếu tố nước ngồi ngày càng trở nên có ý nghĩa thiết thực, địi hỏi phải có sự điều chỉnh chung thể hiện sự thống nhất về nguyên tắc giải quyết VIỆC nuôi con nuôi giữa các nước, nhằm đảm bảo lợi ích của trẻ em, ngăn chặn hành vi lợi dụng việc nuôi con nuôi dé bn bán trẻ em hoặc trục lợi tài chính từ việc ni
<small>con nudi.</small>
Các van ban pháp luật quốc tế có ý nghĩa quan trọng và là co sở pháp ly dé các nước thiết lập quan hệ hợp tác và bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế. Việt Nam đã trở thành thành viên của hai văn bản pháp lý quốc tế quan trọng nhất liên quan đến việc ni con ni, đó là Cơng ước quốc tế về quyền trẻ em và Công ước La
<small>23</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">Hay. Những tư tưởng chỉ đạo việc nuôi con nuôi giữa các nước được thê hiện trong Tuyên bố của Liên hợp quốc về các nguyên tắc xã hội và pháp lý liên quan đến bảo vệ và phúc lợi trẻ em, đặc biệt là việc thu xếp ni con ni ở trong và ngồi nước, được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 3/12/1986 (gọi tắt là Tuyên bố 1986). Mặc dù Tuyên bố 1986 khơng có tính bắt buộc nhưng nó đã thể hiện những quan điểm có tính thống nhất cao về việc cho nhận con nuôi giữa các nước và đã được tiếp
<small>thu trong Cơng ước La Hay. Vì vậy, chúng tơi phân tích ba văn bản quan trọng này và</small>
mỗi liên hệ với pháp luật nuôi con nuôi của Việt Nam. 1.3.1. Tuyên bố 1986
Tuyên bố 1986 đã xác định rõ lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là sự quan tâm trước tiên trong mọi trường hợp liên quan đến cho và nhận con nuôi, đặc biệt là tình thương u, quyền được an tồn và tiếp tục được chăm sóc đối với trẻ (Điều 5). Mục đích cua việc nhận ni con ni là đem lại cho đứa trẻ, khơng thé được bố mẹ chăm sóc, có được một gia đình thường xun (Điều 13). Quy định này đã xóa bỏ tư tưởng ni con ni là tìm một đứa trẻ cho gia đình, vì lợi ích của gia đình. Cần có chính
sách và luật lệ cần thiết để nghiêm cấm việc bắt cóc trẻ em hay bất kỳ một một hành
vi bất hợp pháp nào khác vì mục đích cho con ni (Điều 19). Tun bố 1986 đã nêu lên những đảm bảo pháp lý cần thực hiện trong việc nuôi con nuôi ở một nước khác, VỚI SỰ chấp thuận của nhà chức trách có thâm quyền về việc trẻ em sẽ được xuất cảnh, được bố mẹ nuôi nhận và được mang quốc tịch của bố mẹ nuôi (Điều 22)!3.
1.3.2. Công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRO)
Công ước quốc tế về quyền trẻ em là công ước xác lập, điều chỉnh một cách “cơ bản và toàn diện nhất” về quyền trẻ em. Trong Công ước, quyên trẻ em được tiếp cận trên cơ sở trẻ em là “chủ thé của các quyền và của q trình phát triển chứ khơng phải là đối tượng được hưởng sự quan tâm, thương hại hay long từ thiện thuần tay". Đồng thời trẻ em là nhóm xã hội dé bị tổn thương, có nhu cầu đặc biệt, có quyền được
<small>hưởng sự chăm sóc, bảo vệ đặc biệt.</small>
Trong trường hợp trẻ em tam thời hoặc vĩnh viễn bị tước mat mơi trường gia đình thì phải đảm bảo cho trẻ em được hưởng sự chăm sóc thay thế, trong đó có việc nhận ni con nuôi. Điều 21 CRC đã xác định chế độ ni con ni phải đảm bảo vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, tuân thủ đúng pháp luật và được nhà chức trách có thâm quyền cho phép. Cơng ước thừa nhận rằng việc nhận trẻ em ở nước khác làm con nuôi là một biện pháp thay thé dé chăm sóc trẻ em, nếu trẻ em khơng thé được một gia đình
<small>nhận làm con ni hoặc được chăm sóc thích hợp tại nước gơc. Cơng ước địi hỏi việc</small>
<small>!3 Việt Nam và các văn kiện quốc tế về quyền trẻ em, Nxb Chính trị Quốc gia, Ủy ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam, Hà Nội -1997,</small>
<small>Ị4 Nguyễn Đăng Dung — Vũ Công Giao — La Khánh Tùng (Đồng chủ biên) — Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật, Giáo trình lý luận và pháp</small>
<small>luật vê qun con người, Nxb Chính trị qc gia, tr. 331.</small>
<small>24</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">trẻ em làm con nuôi ở nước khác cũng được hưởng sự bảo vệ va điều kiện tương đương với những quy định hiện hành đối với chế độ nuôi con nuôi trong nước. Việc nuôi con nuôi không dẫn đến sự trục lợi không chính đáng về tài chính của những người có liên quan (Điều 21).
Như vậy, Công ước đã xác định những yêu cầu cơ bản, là cơ sở pháp lý mà các quốc gia thành viên phải tuân thủ trong lĩnh vực nuôi con nuôi. Khi Việt Nam là thành
<small>viên của CRC, những quy định này phải được “nội luật hóa” trong pháp luật Việt</small>
Nam về nuôi con nuôi.
<small>1.3.3. Công ước La Hay</small>
<small>Công ước La Hay được đại diện của 64 nước, trong đó có Việt Nam, tham gia</small>
khóa họp thứ 17 Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế thơng qua ngày 29/5/1993. Cơng ước “đã pháp điển hóa một bước thực tiễn quốc tế, thống nhất cao những khác biệt trong pháp luật của các nước về nuôi con ni, dung hịa tối đa lợi ích của các nước trong việc cho và nhận con nuôi quốc tế”!5. Tính đến tháng 3/2017, Cơng ước
<small>La Hay đã có 98 nước thành viên'9.</small>
Công ước La Hay là một trong những điều ước quốc tế đa phương quan trọng trong lĩnh vực tư pháp quốc tế. Công ước La Hay đã thiết lập hệ thống các quy định khung mang tính chất nên tảng trong việc cho — nhận con nuôi quốc tế. Công ước La Hay gồm 7 chương với 48 điều, quy định về những nội dung cơ bản là: phạm vi áp dụng, những nguyên tắc cơ bản; Yêu cầu đối với việc nuôi con nuôi quốc tế; cơ quan trung ương và các tô chức được chỉ định; những yêu cầu về thủ tục đối với việc nuôi con nuôi quốc tế; công nhận và hệ quả của việc nuôi con nuôi. Công ước La Hay nhằm mục đích thiết lập những bảo đảm dé việc ni con ni quốc tế được thực hiện vì lợi ích tốt nhất của trẻ em và tôn trọng các quyền cơ bản của trẻ em; thiết lập một hệ thống hợp tác giữa các nước ký kết nhằm ngăn chặn việc bắt cóc, bán hoặc bn bán trẻ em (Điều 1 Công ước La Hay). Công ước La Hay chỉ áp dụng đối với việc nuôi con nuôi tạo ra mỗi quan hệ cha mẹ và con lâu dài, trong đó cha mẹ ni và con ni thường trú ở hai nước ký kết khác nhau. Công ước La Hay quy định nguyên tắc cơ bản: “ưu tiên tiến hành các biện pháp thích hợp để trẻ em có thể được chăm sóc trong gia đình gốc của mình”, tuy nhiên việc ni con ni nước ngồi “có thé có lợi thé là đem lại một gia đình lâu dài cho trẻ em khơng tìm được một gia đình thích hợp tại nước gốc của mình”, Việc gia nhập Cơng ước La Hay tao ra những cơ hội cho trẻ em Việt Nam làm con ni ở nước ngồi khi khơng thể tìm được gia đình nhận ni trong nước, tạo ra cơ chế pháp lý bảo vệ trẻ em trong suốt quá trình giải quyết cho —
<small>'S Bộ Tư pháp — Cục Con ni quốc tế, Tìm hiểu Cơng ước La Hay về nuôi con nuôi (Số tay nghiệp vụ) — Nxb Tư pháp, Hà Nội — 2007, tr. 7I6 (truy cập ngày 24/8/2017)</small>
<small>1 Lời nói đầu Cơng ước La Hay</small>
<small>25</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">nhận con nuôi cũng như đảm bảo quyền, lợi ích tốt nhất cho trẻ em Việt Nam khi sống
<small>ở nước ngoài cùng cha mẹ nuôi.</small>
<small>Luật Nuôi con nuôi được xây dựng trên cơ sở tương thích, tiệm cận với Cơng</small>
ước La Hay nên đã đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn nuôi con nuôi trong thời kỳ hội nhập, đồng thời chuẩn bị những tiền đề pháp lý cho việc ký kết, phê chuẩn Cơng
<small>ước La Hay.</small>
<small>Cơng ước La Hay có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 01/02/2012, và “được áp</small>
dụng trực tiếp nhằm điều chỉnh việc cho nhận con nuôi quốc tế tại Việt Nam, không qua giai đoạn chuyền tiếp”18,
Việc ký kết, phê chuẩn Công ước La Hay đã làm thay đổi căn bản pháp luật về nuôi con nuôi của Việt Nam, tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất, đồng bộ, có sự liên kết chặt chẽ điều chỉnh các van dé về nuôi con nuôi trong nước va ni con ni có yếu tố nước ngồi, nhăm bảo vệ lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận ni.
<small>Cơng ước La Hay có hiệu lực thi hành tại Việt Nam địi hỏi phải hồn thiện hệ</small>
thống chính sách, pháp luật về ni con ni. Nhiều quy định có tính ngun tắc của Cơng ước La Hay; u cầu đảm bảo sự liên thông, gắn kết chặt chẽ giữa việc nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngồi; địi hỏi sự tách bạch giữa hỗ trợ nhân đạo với việc cho nhận con nuôi giữa các nước; sự hợp tác, trao đôi thông tin giữa các nước trong quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi... đã được thể hiện với mức độ nhất định trong Luật Nuôi con nuôi và các văn bản có liên quan. Bên cạnh đó, cịn nhiều vấn đề Luật Nuôi con nuôi chưa quy định đầy đủ, thiếu cụ thể, thiếu các quy phạm thực chất cũng như các quy phạm xung đột cho phép lựa chọn pháp luật điều chỉnh các nội dung quan trọng về ni con ni... địi hỏi phải sửa đồi, bổ sung, hồn thiện Luật Ni con ni cũng như các văn bản pháp luật có liên quan, nhằm thực thi tốt hơn Công ước La Hay.
1.4. Các nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi và ý nghĩa 1.4.1. Các nguyên tắc giải quyết VIỆC HHÔI con HHÔI
Lần đầu tiên, Luật Nuôi con nuôi đã quy định rõ ràng về nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi tại Điều 4. Các nguyên tắc này là sự cụ thể hóa các u cầu cơ bản của Cơng ước La Hay, có giá trị bắt buộc, ràng buộc chung đối với tất cả các quốc gia
<small>thành viên.</small>
hién y chi, quan điểm của nha nước trong việc điều chỉnh, chỉ đạo mọi hoạt động của
<small>các cá nhân, cơ quan, tô chức trong lĩnh vực nuôi con nuôi, chi phôi các quy phạm</small>
<small>' Bộ Tư pháp, Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện Cơng ước La Hay số 33 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế ở</small>
<small>Việt Nam giai đoạn 2012 -2016, Tài lệu Hội nghị đánh giá tình hình thực hiện Cơng ước La Hay sơ 33 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vựcnuôi con nuôi quôc tê, do Bộ Tư pháp va Unicef Việt Nam tô chức, Hà Nội, tháng 11/2016, tr.1</small>
<small>26</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi nhằm đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản và lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi.
Các nguyên tắc nuôi con nuôi chi phối đến tồn bộ q trình giải quyết việc ni con ni, từ việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi đến việc thực hiện và chấm dứt việc nuôi con nuôi (nếu có), từ việc ni con ni trong nước đến việc ni con ni có yếu tổ nước ngồi. Các nguyên tắc nuôi con nuôi là cơ sở dé thống nhất, quán triệt toàn bộ các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi.
Trên cơ sở quy định tại Điều 21 Công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC) và Điều 1, 2, 4, 5 Công ước La Hay, Điều 4 Luật Nuôi con nuôi đã quy định các nguyên tac giải quyết việc nuôi con nuôi, bao gồm các nguyên tắc sau:
1.4.1.1. Tôn trọng quyên của trẻ em được sống trong mơi trường gia đình gốc khi giải quyết việc nuôi con nuôi
Trẻ em sinh ra và lớn lên trong gia đình. Gia đình là mơi trường tự nhiên đồng thời là môi trường xã hội đầu tiên của đứa trẻ. Công ước La Hay đã khăng định rõ: “Công nhận rằng để phát triển hài hịa và tồn diện nhân cách của mình, trẻ em can phải được lớn lên trong mơi trường gia đình, trong bau khơng khí hạnh phúc, u thương và thơng cảm” và do đó, “mỗi nước can phải ưu tiên tiễn hành các biện pháp thích hợp để trẻ em có thé được chăm sóc trong gia đình gốc của minh”. Trẻ em trước hết phải được sống trong gia đình, được cha mẹ đẻ chăm sóc. Chỉ khi trẻ em
khơng thể được cha mẹ đẻ chăm sóc, ni dưỡng do cha mẹ đã chết, khơng có năng
lực hành vi dân sự, bị phạt tù, bị ốm đau, khơng có tài sản, khơng có khả năng lao động... thì trẻ em cần được chăm sóc trong gia đình thay thế. Gia đình thay thế chăm sóc trẻ trước hết phải là gia đình của những người thân thích ruột thịt của trẻ. Chỉ khi những người trong gia đình huyết thông của trẻ không thé hoặc không nhận nuôi trẻ thì lúc đó trẻ em mới được xem xét giải quyết cho làm con ni ngồi gia đình huyết thống. Việc đảm bảo cho trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc hạn chế tối đa những thay đôi bất lợi đối với trẻ em khi không thé được cha mẹ đẻ chăm sóc, ni dưỡng. Điều đó cịn góp phan củng cố, gắn kết những mối liên hệ huyết thống, ruột thịt đối với trẻ, dé trẻ không cảm thấy cô đơn, xa lạ trong môi trường sống mới va do đó tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhân cách của trẻ. Mặt khác, việc tạo điều kiện cho trẻ em được chăm sóc trong gia đình gốc thê hiện sự “t6n trong quyên của trẻ em được giữ gìn bản sắc của mình, ké cả quốc tịch, họ tên và các quan hệ gia đình...”20. Với quy định trên, khái niệm ban sắc của trẻ em được hiểu thông qua quốc tịch, họ tên, quan hệ gia đình... rộng hon với những gi thuộc về phong tục tập quan
<small>của một dân tộc. Chúng tơi hồn tồn tán thành ý kiên cho rang, “bản sac của trẻ em</small>
<small>'? Xem Lời nói đầu Cơng ước La Hay ;</small>
<small>2° Xem Điều 8 Công ước của Liên Hợp quốc về quyên trẻ em</small>
<small>27</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">là tông hợp của những yếu tố thuộc về bản sắc dân tộc và những đặc thù của gia đình
(truyền thống, vị thé, hoàn cảnh.. .) cũng như của cá nhân (thê hình, tính cách, họ tên,
năng lực...) của trẻ em2!. Vì vậy, khi giải quyết cho trẻ em làm con nuôi cần phải chú ý đến những yếu tố này của trẻ em.
Đề thực hiện nguyên tắc này, Luật Nuôi con nuôi đã quy định thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đinh thay thế khi trẻ em cần được chăm sóc thay thế. Theo đó, trẻ em trước tiên được ưu tiên cho cha dượng, mẹ kế nhận làm con ni hoặc cơ, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu ruột làm con nuôi (khoản 1 điểm a Điều 5 Luật Nuôi con nuôi). Chi khi những người này khơng nhận trẻ em làm con ni hoặc khơng có điều kiện chăm sóc, ni đưỡng trẻ thì mới giải quyết cho trẻ em làm con ni người khác ngồi gia đình huyết thống.
Có thé nói đây là ngun tắc cơ bản, nền tảng chi phối đến các nguyên tắc khác trong giải quyết việc nuôi con nuôi.
1.4.1.2. Nguyên tắc thứ hai: Việc nuôi con nuôi phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp
<small>pháp của người được nhận làm con ni và người nhận con ni, tự nguyện, bình</small>
đăng, khơng phân biệt nam nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội
Việc nuôi con nuôi phải đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan
<small>hệ nuôi con nuôi, nhưng trước tiên là của người được nhận làm con nuôi. Việc nuôi</small>
con nuôi xác lập trên cơ sở sự tự nguyện, bình đăng của các bên chủ thê. Điều đó có nghĩa là việc thể hiện ý chí cho trẻ làm con nuôi của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ xuất phát từ ý chí của chính bản thân họ, mà khơng bị tác động, dụ dỗ, hứa hẹn
bởi bất cứ lợi ích vật chất nào, không bị lừa dối, cưỡng ép. Việc cho nhận con nuôi
không gan lién va kém theo bat ctr muc dich vu loi nao.
Dé dam bảo bình dang giới, Luật quy định việc nuôi con nuôi “không phân biệt nam nữ” trong việc cho — nhận con ni. Điều đó thé hiện ở cả hai khía cạnh: việc nhận ni trẻ em không xuất phát từ tư tưởng trọng nam khinh nữ, hoặc lựa chọn giới tính của trẻ em; việc cho trẻ làm con ni khơng nhằm mục đích để sinh con trai có người nối dõi.
<small>Trong thời gian qua, phát sinh những trường hợp cha mẹ đẻ cho con làm con</small>
ni của thương binh, người có cơng với cách mạng... dé được hưởng các chế độ chính sách ưu tiên của nhà nước đối với các đối tượng này, nhưng con nuôi vẫn sống cùng cha mẹ đẻ, quan hệ cha mẹ và con không được thiết lập giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi trên thực tế mà chỉ tồn tại về mặt pháp lý. Các bên cũng không thực hiện bat cứ quyên và nghĩa vụ nào của cha mẹ và con đối với nhau. Đây là những trường hợp lợi dụng chính sách của nhà nước để trục lợi mà không nhằm mục đích
<small>21 Giáo trình lý luận và pháp luật về quyển con người, s.d.d, tr.346</small>
<small>28</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33"><small>xác lập quan hệ cha mẹ va con giữa hai bên. Vi vậy, những hành vi này đã được quy</small>
định rõ tại Điều 13 Luật Nuôi con nuôi là hành vi bị cắm. Khi vi phạm những hành vi bị cắm, việc nuôi con ni sẽ khơng có giá trị pháp lý, giữa hai bên không tôn tại các quyên và nghĩa vụ của cha mẹ và con.
Bên cạnh đó, cũng có những trường hợp do toan tính về lợi ích hoặc mục đích trục lợi khác, các bên đã lợi dụng việc nhận nuôi con nuôi dé biến những quan hệ huyết thống gần gũi thành quan hệ nuôi con nuôi như ông bà nội, ông bà ngoại nhận
<small>cháu ruột trực hệ hoặc anh, chị đã thành niên nhận em ruột làm con nuôi. Việc nhậnnuôi con nuôi này đã làm đảo lộn thứ bậc trong gia đình, trái với đạo đức, với trật tự</small>
gia đình, thuần phong mỹ tục nên khơng được chấp nhận. Điều này được ghi nhận thành nguyên tắc và những hành vi bị cắm trong Luật Nuôi con nuôi là cơ sở pháp lý để xử lý các hành vi tương tự xảy ra trong thực tế, đồng thời thể hiện sự tiếp tục kế <small>thừa những quy định hợp lý trước đây trong pháp luật nuôi con nuôi.”</small>
1.4.1.3. Nguyên tắc thứ ba: Chi cho trẻ em làm con ni người ở nước ngồi khi khơng thé tìm được gia đình thay thé ở trong nước.
Nguyên tắc này được xác lập trên cơ sở quy định của Công ước La Hay. Công ước La Hay công nhận rang: “Van dé con ni quốc tế có thể có lợi thé là đem lại một gia đình lâu dài cho trẻ em khơng tìm được một gia đình thích hợp tại Nước gốc của <small>mình”. Việc cho trẻ em làm con ni ở nước ngồi sẽ mang lại một gia đình cho trẻ</small> khi trẻ khơng có người nhận ni trong nước. Điều đó giúp cho trẻ em được chăm
<small>sóc, u thương, ni dưỡng một cách riêng biệt, đặc thù trong gia đình, phù hợp với</small>
những đặc điểm về thể chất, tâm lý của trẻ, trẻ không phải sống tập trung trong các cơ sở bảo trợ xã hội. Mơi trường gia đình có điều kiện chăm sóc trẻ một cách cá thé, riêng biệt, khác với việc sông có tính chất tập trung trong các cơ sở bảo trợ xã hội. Trong mơi trường gia đình, trẻ được chữa bệnh, phục hồi chức năng kịp thời, đồng
thời được thé hiện, phát huy năng khiếu, năng lực, tư chất của bản thân... Vì vậy việc
tìm cho trẻ em một gia đình ở nước ngồi là giải pháp tốt nhất đối với trẻ, khi trẻ khơng thể có được gia đình nhận ni trong nước. Tuy nhiên, Cơng ước La Hay cũng quy định rõ: trẻ chỉ được giải quyết làm con ni ở nước ngồi khi Nước gốc đã “xác nhận việc ni con ni quốc tế là vì lợi ích tốt nhất của trẻ em sau khi đã xem xét kỹ lưỡng các khả năng chăm sóc các em tại Nước gốc”?1.
Nguyên tắc này lần đầu tiên được quy định một cách rõ ràng đã làm thay đôi han quan niệm, cách thức giải quyết việc nuôi con nuôi so với trước khi Luật Nuôi con
<small>nuôi được ban hành. Trước khi Luật Ni con ni có hiệu lực, việc giải quyét cho trẻ</small>
<small>2 Tinh thần của nguyên tắc này đã được ghi nhận trong Thông tư số 08/ 2006/TT-BTP của Bộ Tư pháp ngày 8 tháng 12 năm 2006 hướng dẫn</small>
<small>thực hiện một số quy định về nuôi con nơi có yếu tố nước ngồi (sau đây gọi tắt là Thông tư số 08/2006/TT-BTP), đã quy định rõ: Trường hợpngười có quan hệ họ hang là ơng , bà xin nhận cháu hoặc anh, chị em xin nhận nhau làm con ni thì khơng giải quyết.</small>
<small>2 Xem Lời nói đầu Cơng ước La Hay2 Xem Điều 4 Cơng ước La Hay</small>
<small>29</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">em Việt Nam làm con ni người ở nước ngồi khơng phải qua bat cứ thủ tục nào tìm gia đình thay thế trong nước, mà trẻ em có thể được giải quyết ngay cho làm con nuôi ở nước ngoai nếu đủ điều kiện. Theo pháp luật hiện hành, đây là một thủ tục bắt buộc,
<small>trừ trường hợp trẻ được xin đích danh. Luật nuôi con nuôi đã quy định một cách chặt</small>
chẽ thủ tục tìm gia đình thay thế trong nước cho trẻ em (Điều 15), quy định thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế, trong đó việc cho trẻ em làm con ni người nước ngồi thường trú ở nước ngoài là biện pháp được lựa chọn cudi cùng, khi các lựa chon trên không thực hiện được (Điều 5). Chỉ khi thực hiện tất cả các biện pháp mà khơng thể tìm được gia đình thay thế trong nước cho trẻ trong thời hạn luật định thì trẻ mới được giới thiệu làm con nuôi ở nước ngoài. Một điều cần lưu ý là trước và trong q trình giới thiệu trẻ em làm con ni nước ngồi, nếu có người trong nước nhận trẻ em làm con ni thì vẫn được xem xét giải quyết. Nếu việc nhận con ni đã hồn thành thì cham dứt việc giới thiệu trẻ em làm con ni nước ngồi”. Đây là quy định nhằm đảm bảo tối đa quyền của trẻ em được nuôi dưỡng ở trong nước, và việc giải quyết cho trẻ làm con nuôi ở nước ngoài chỉ là biện pháp, lựa chọn cuối cùng.
Các nguyên tắc giải quyết việc ni con ni có mối liên hệ chặt chẽ, tác động, ràng buộc lẫn nhau, tạo thành những tư tưởng cốt lõi, cơ bản chỉ đạo tồn bộ q trình giải quyết, thực hiện việc ni con ni trong nước cũng như ni con ni có yếu tố nước ngoài, đồng thời là nền tảng pháp lý để xây dựng, sửa đổi, bố sung pháp luật
<small>nuÔi con nuôi.</small>
1.4.2. Ý nghĩa của các nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi
Các nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi đã xác lập một khung pháp lý cơ bản, tạo nên khuôn khô pháp lý vững chắc, minh bạch trong giải quyết việc nuôi con nuôi, đảm bảo tốt nhất quyên, lợi ích của trẻ em, đồng thời tương thích với pháp luật của cộng đồng quốc tế về nuôi con nuôi trong xu thé hội nhập hiện nay.
- Các nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi đã làm thay đổi quan niệm, cách thức giải quyết việc nuôi con nuôi so với trước khi Luật Nuôi con nuôi được ban hành. Việc nuôi con nuôi trong nước được quan tâm, chú trọng giải quyết, nham đảm bảo quyền được sống trong mơi trường gia đình gốc của trẻ em, trẻ được sống trên quê hương đất nước ruột thịt của mình - nơi gắn bó, quen thuộc với trẻ về ngơn ngữ, văn hóa, phù hợp với đặc điểm, thói quen, tâm lý của trẻ, do đó giúp trẻ giữ được bản sắc của mình va dé dàng thích nghi hơn trong gia đình cha mẹ nuôi. Với cách thức giải quyết này, số lượng trẻ em được nhận nuôi con nuôi trong nước tăng lên khá nhiều, khác hắn so với trước khi Luật Nuôi con nuôi được ban hành. Trong thời gian thực hiện Luật nuôi con nuôi, từ năm 2011 đến hết năm 2015, theo báo cáo của các
<small>địa phương, trong cả nước có 12.768 trẻ em được nhận làm con ni trong nước</small>
<small>25 Xem đoạn 2 khoản 1 Điều 36 Luật Nuôi con nuôi</small>
<small>30</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">(chiếm gần 88%), và 1771 trẻ em được nhận làm con ni ở nước ngồi (chiếm hon 12 %)*°. Việc nuôi con nuôi trong nước được nhìn nhận một cách đầy đủ, đúng đắn theo chiều hướng tích cực, góp phan hạn chế, xóa bỏ những biểu hiện tiêu cực trong việc không cho trẻ em làm con nuôi trong nước nhằm giữ trẻ lại cho làm con ni người nước ngồi thuộc các tổ chức con ni nước ngồi có dự án hỗ trợ nhân đạo <small>cho các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em như trước đây.”</small>
- Luật Nuôi con nuôi cũng đã xác định rõ ràng việc giải quyết cho trẻ em làm con ni ở nước ngồi. Việc ni con ni có yếu tố nước ngoải được xem xét một cách chặt chẽ, phù hợp với các quy định chung của pháp luật quốc tế. Việc giải quyết cho trẻ em làm con ni nước ngồi được tiếp cận trên cơ sở Công ước La Hay 1993: đảm bảo cho trẻ em cơ hội được sống trong gia đình gốc nhưng khơng loại bỏ khả năng trẻ được nuôi dưỡng trong một gia đình ở nước ngồi khi trẻ khơng thể được ni dưỡng trong một gia đình ở nước gốc. Cách giải quyết đó nhăm đem lại một mơi trường gia đình tốt nhất cho trẻ em.
- Các nguyên tắc này thiết lâp cơ chế giải quyết việc nuôi con nuôi một cách thống nhất, có sự liên kết chặt chẽ giữa việc nuôi con nuôi trong nước với nuôi con ni có u tố nước ngồi, trên cơ sở đảm bảo quyền của trẻ em được sống trong gia đình gốc và chỉ giải quyết cho trẻ làm con nuôi ở nước ngồi khi khơng thể tìm được một gia đình ni dưỡng trẻ trong nước. Cơ chế giải quyết này tương thích và phù hợp với tiêu chuẩn của Công ước La Hay và tương ứng với pháp luật của các nước
<small>thành viên Công ước La Hay.</small>
- Các nguyên tắc này đòi hởi phải thiết lập cơ chế hợp tác chặt chẽ, hiệu quả giữa các cơ quan, tổ chức có chức năng, thâm qun giải quyết việc ni con nuôi trong nước, cũng như sự hợp tác giữa cơ quan có thâm quyên của Việt Nam với cơ quan có thâm quyền của các nước liên quan trong giải quyết việc ni con ni có yếu tố nước ngồi, nhăm đảm bảo qun, lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận nuôi, ngăn chặn, phát hiện, xử lý kip thời những hành vi trục lợi hoặc mua ban, chiếm đoạt, bóc lột trẻ
<small>em... dưới danh nghĩa ni con nuôi.</small>
- Với các nguyên tắc chỉ đạo này, pháp luật nuôi con nuôi được xây dựng một
cách hệ thống, có tính tồn diện, đồng bộ, tổng thể, có tính pháp điển cao, tránh được
sự tản mạn, manh mún trước đây. Do đó, đảm bảo việc tiếp cận, thực hiện, áp dụng
pháp luật ni con ni dễ dàng hơn, chính xác và hiệu quả hơn
<small>? Bộ Tư pháp - Báo cáo Đánh giá tình hình thi hành Luật ni con nuôi và Nghị định số 19/20110NĐ-CP quy định chỉ tiết thi hành một sé điều</small>
<small>của Luật nuôi con nuôi giai đoạn 2011-2015</small>
<small>21 Cơ chế giải quyết cho trẻ em Việt Nam làm con ni ở nước ngồi được thực hiện theo Nghị định số 68/2002/NĐ-CP và Nghị định số</small>
<small>69/2006/NĐ-CP. Theo quy định tại khoản 3 Điều 58 Nghị định 68/ND-CP, một trong những điều kiện để Tổ chức con nuôi nước ngồi được lậpVăn phịng con ni nước ngồi tại Việt Nam là “có chương trình, kế hoạch hoặc dự án hoạt động nhân đạo, từ thiện nhằm hỗ trợ việc xin nhậntrẻ em Việt Nam làm con nuôi”. Với quy định này, nhiều cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đã giữ lại trẻ em dé giao cho người nước ngồi của các TỔchức con ni nước ngồi có chương trình, dự án hoạt động nhân đạo, từ thiện làm con ni, mặc dù có người trong nước xin nhận trẻ em làm</small>
<small>con nuôi.</small>
<small>31</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">2. THỰC TIEN THI HANH LUẬT NUÔI CON NUÔI VÀ NHỮNG VAN ĐÈ VƯỚNG MÁC, BAT CAP
<small>2.1. Tình hình nhận ni con ni khi Luật ni con ni có hiệu lực2.1.1. Việc ni con nudi trong nước</small>
* SỐ liệu nuôi con nuôi trong nước
Theo thống kê chưa đầy đủ, trong giai đoạn từ 2011 — 2016, trong phạm vi toàn quốc đã giải quyết được 15.473 trẻ em được nhận làm con nuôi trong nước”. Số liệu phân bố cụ thé qua các năm được thể hiện qua biểu đồ sau:
Qua bang s6 liéu trén cho thay, số trẻ em được nhận lam con nuôi trong nước sau <small>khi Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực đã tăng hơn so với những năm trước đó. Việc giải</small>
đúng nguyên tắc đảm bảo quyền được sống trong môi trường gia đình gốc của trẻ em, và ưu tiên giải quyết việc nuôi con nuôi trong nước.
- Vé nguồn gốc của trẻ em được nhận nuôi: khoảng 79% trẻ em được nhận làm con nuôi trong nước sống trong gia đình, khoảng 4% trẻ sống ở cơ sở trợ giúp xã hội, khoảng 17% trẻ em từ các nơi khác (trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em ở các cơ sở y tế.)
Trẻ em được nhận nuôi trong nước phan lớn sống từ gia đình vì đa số các trường
<small>hợp con ni trong nước đêu được cơ, cậu, dì, chú, bác ruột hoặc người thân thích</small>
<small>? Số liệu do Sở Tư pháp các tỉnh/thành phó trực thuộc Trung ương báo cáo, Vụ Kế hoạch tài chính, Bộ Tư pháp tổng hợp thành số liệu tổng,</small>
<small>Cục Con nuôi, Bộ Tư pháp tơng hợp và tính tỷ lệ % các chỉ tiêu vê nơi cư trú, giới tính, độ ti, tinh trạng sức khỏe</small>
<small>32</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">hoặc người nhận con ni liên hệ trực tiếp với g1a đình dé nhận trẻ em làm con nuôi. Diện trẻ em từ cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi trong nước tất ít. Điều này
<small>do tâm lý của người nhận ni có sự lựa chọn trẻ em được nhận ni; mặt khác, cơ sở</small>
nuôi dưỡng cũng chưa thật sự chú ý việc tìm gia đình thay thế trong nước cho trẻ em song ở các cơ sở nuôi đưỡng làm con nuôi trong nước.
- Về độ tuổi của trẻ em được nhận làm con nuôi, khoảng 44% trẻ em dưới 01 tuổi được nhận làm con nuôi, 32% trẻ em từ 01 đến dưới 5 tuổi; 24 % trẻ em từ 5 tuổi trở lên. Như vậy, việc nhận con nuôi trong nước chủ yếu tập trung ở nhóm trẻ em có độ tuổi từ 0 — 5 tuổi. Điều này xuất phát từ tâm lý của người nhận nuôi, muốn nhận trẻ cịn nhỏ để giữ bí mật về việc ni con ni, đồng thời tạo ra sự gan bó giữa cha mẹ ni, gia đình cha mẹ ni với đứa trẻ một cách dé dàng,
<small>thuận lợi hơn.</small>
- Vê giới tính của trẻ em được nhận làm con ni, có sự chênh lệch nhẹ về
<small>giới tính của trẻ em được nhận làm con nuôi, khoảng 52% trẻ em giới tinh nam và48% trẻ em giới tính nữ.</small>
- Về sức khỏe của trẻ em được nhận làm con nuôi trong nước: 99% trẻ có sức khỏe bình thường, chỉ có 1% trẻ có nhu cầu chăm sóc đặc biệt.
* Tình hình đăng ký việc nuôi con nuôi thực tế
Theo quy định tại Điều 50 Luật Nuôi con nuôi, việc nuôi con nuôi giữa công dân
<small>Việt Nam với nhau trước ngày Luật Ni con ni có hiệu lực mà chưa đăng ký tại cơ</small>
quan có thâm quyền thì được đăng ký trong thời hạn 5 năm, kế từ ngày Luật Nuôi con ni có hiệu lực, nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau: 1) các bên có đủ điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tai thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi; ii) Đến thời điểm Luật này có hiệu lực, quan hệ cha, mẹ và con vẫn đang ton tại và cả hai
bên cịn song; 111) GIữa cha me ni va con ni có quan hệ chăm sóc, ni dưỡng,
giáo dục nhau như cha mẹ và con. Đây là quy định nhằm đảm bảo quyên, lợi ích
<small>chính đáng của các bên trong quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi đã được xác lập trên</small> thực tế nhưng chưa được công nhận bởi cơ quan nhà nước có thầm quyên.
Thực hiện Điều 50 Luật Nuôi con nuôi, việc đăng ký các trường hợp nuôi con nuôi thực tế được tiễn hành từ ngày 01/01/2011 đến ngày 31/12/2015. Các cơ quan có thâm quyền tại các địa phương đã rà soát, vận động, khuyến khích người dân đi đăng ký việc ni con nuôi thực tế. Số liệu đăng ký việc nuôi con ni thực tế trong phạm vi tồn quốc như sau: Tổng số các trường hợp nuôi con nuôi thực tế được rà sốt: 8954. Trong đó, đã đăng ký việc nuôi con nuôi thực tế: 3567 trường hợp; Không đủ điều kiện đăng ký theo Điều 50 Luật Nuôi con ni: 2001 trường hợp; khơng có đủ
<small>33</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38"><small>các giây tờ cân thiệt: 1025 trường hợp; cha mẹ ni con ni khơng mn dang ký vi</small>
<small>mn giữ bí mật việc nuôi con nuôi: 2361 trường hợp”?.</small>
<small>Biêu đô sô 2</small>
<small>So liệu đăng ký việc ni con ni thực tê</small>
<small>Bì Đã đăng ký</small>
<small>Bi Không đủ điều kiện</small>
<small>đăng ký</small>
<small>El thiếu giấy tờ</small>
<small>El không muốn đăng ký</small>
Việc đăng ký nuôi con nuôi thực tế khơng đạt được tỷ lệ mong muốn vì một số
<small>lý do như sau:</small>
- Một bên cha, mẹ nuôi hoặc con nuôi đã chết, quan hệ nuôi con nuôi khơng cịn ton tai;
- Khơng đủ điều kiện về độ tuổi: hai bên không cách nhau đủ 20 tuôi;
- Thiếu các giấy tờ cần thiết như giấy đăng ký khai sinh của con ni, khơng có các giấy tờ chứng minh nguồn gốc nhân thân của con ni (khơng có biên bản trẻ bị bỏ rơi, hoặc việc xin con nuôi trực tiếp từ bệnh viện hoặc địa phương khác mà khơng có giấy tờ chứng minh nhân thân của con nuôi...) nên không tiến hành đăng ký việc nuôi con nuôi thực tế được.
<small>- Nhận thức xã hội và ý chí chủ quan của người dân: trong quan niệm của người</small>
dân vẫn muốn giữ bí mật, khơng muốn để con nuôi biết về việc nuôi con nuôi, nhằm tạo sự yên ổn, tránh mặc cảm cho người con nuôi, cùng với nhận thức pháp luật của người dân còn hạn chế. Do đó, người dan khơng muốn di đăng ký việc nuôi con nuôi. Đây là một rào can rất lớn ảnh hưởng đến tiến độ, số lượng đăng ký việc ni con ni thực tế. Chính vì tâm lý này, mà một SỐ lượng lớn trường hợp có đủ điều kiện đăng ký nuôi con nuôi thực tế nhưng khơng đi đăng ký. Bên cạnh đó, việc khơng đăng ký ni con ni thực tế cịn do sự chi phối của phong tục tập quán, điều kiện địa lý đi <small>? Bộ Tư pháp, Báo cáo đánh giá tình hình thi hành Luật Ni con ni và Nghị định số 19/201 1/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều</small>
<small>của Luật Nuôi con nuôi, giai đoạn 2011 — 2016, và Phu luc 3: Sô liệu đăng ký nuôi con nuôi thực tê, Tai liệu Hội nghị đánh giá tình hình thựchiện Luật Ni con ni và Nghị định sô 19/2011/NĐ-CP giai đoạn 2011 — 2016, do Bộ Tư pháp và Unicef Việt Nam tô chức, Hà Nội, thang11/2016, tr.14</small>
<small>34</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39"><small>lại khó khăn gây trở ngại cho việc đăng ký, như tại các địa phương Lai Châu, Điện</small>
Biên, Sơn La, Lao Cai, Lâm Đồng, Cà Mau...3”.
- Đăng ký nuôi con nuôi thực tế chỉ được thưc hiện đến hết ngày 31/12/2015. Như vậy, đến nay sẽ không thực hiện được việc đăng ký các trường hợp nuôi con nuôi thực tế nữa, nêu các bên đương sự có yêu cầu. Trong trường hợp, người con nuôi vẫn năm trong khoảng tuổi được nhận làm con ni thì việc đăng ký ni con ni có thể thực hiện như các trường hợp thông thường, nhưng nếu con ni đã q tuổi luật định thì việc đăng ký sẽ khó khăn, về ngun tắc khơng thực hiện được.
2.1.2. Việc ni con ni có u t6 nước ngồi
* Việc giải quyết cho trẻ em Việt Nam làm con ni ở nước ngồi
Trong giai đoạn từ 2011 — 2016, theo số liệu của Cục Con nuôi — Bộ Tư pháp. trong phạm vi tồn quốc có 2.322 trẻ em được giải quyết làm con ni nước ngồi°!.
Trẻ em Việt Nam được cho làm con nuôi chủ yếu tại các nước có quan hệ hợp tác về ni con ni với Việt Nam như Pháp, Tây Ban Nha, Italia, Canada, Đan Mạch, Thuy Sy, Ailen, Thuy Điển, Na Uy, Duc, Vuong quốc Bỉ nói tiếng Hà Lan và tiếng Pháp, Hoa Kỳ. Ngồi ra, cơng dân của một số nước khác như Trung Quốc (Đài Loan), Hàn Quốc cũng nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, chủ yếu thuộc diện con riêng, cháu ruột làm con ni nhằm đồn tụ gia đình và một SỐ Ít cơng dân các nước Anh, Úc sinh sống và làm việc ở Việt Nam từ trên 12 tháng trở lên nhận trẻ em Việt
<small>Nam làm con nuôi.</small>
<small>30 Bộ Tư pháp, Báo cáo đánh giá tình hình thi hành Luật Ni con ni và Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định chỉ tiết thi hành một số điều</small>
<small>của Luật Nuôi con nuôi, giai đoạn 2011 — 2016, Tài liệu đã dan, tr. 50</small>
<small>3! Số liệu này được Cục Con nuôi thống kê theo báo cáo của Sở Tư pháp các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương về việc đánh giá 05 thi hànhLuật nuôi con ni và Nghị định số 19/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật nuôi con nuôi.</small>
<small>35</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">- Về nơi cu trú của trẻ em: khoảng 75% trẻ em được giải quyết làm con ni nước ngồi sống ở các cơ sở ni đưỡng được chỉ định, chỉ có 25% trẻ sống ở gia đình được nhận làm con ni, chủ yếu thuộc diện con riêng, cháu ruột được nhận làm
<small>con TI.</small>
- Về tình trạng sức khỏe của trẻ làm con ni nước ngồi: trong số trẻ em ở cơ sở ni dưỡng được làm con ni nước ngồi có khoảng 62% trẻ em bị bệnh hiểm
nghèo, khuyết tật được làm con nuôi thuộc Danh sách 2, là trẻ bị các bệnh như viêm
gan B, C, liệt nửa người, não ủng thủy, nhiễm HIV/AIDS, bị bệnh tim và các bệnh
hiểm nghèo khác; 13% trẻ em có sức khỏe bình thường (thuộc Danh sách 1). Các em
<small>thuộc diện con riêng, cháu ruột được nhận làm con ni có sức khỏe bình thường.</small>
- Về giới tính của trẻ em làm con ni nước ngoài: được thé hiện qua bảng số
</div>