Tải bản đầy đủ (.docx) (72 trang)

Tiểu luận - địa lý du lịch - đề tài - Tiểu Vùng Trung Tâm Bắc Bộ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (7.01 MB, 72 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

Trong các sắc thái phong phú và đa dạng của văn hóa Việt Nam; đồng bằng Bắc Bộ nói chung , tiểu vùng du lịch trung tâm nói riêng là một vùng văn hóa độc đáo và đặc sắc.”. Nằm trong vùng văn hóa lưu vực sơng Hồng; sơng Thái Bình; sơng Mã – một vùng văn hoá lúa nước nổi tiếng của Việt Nam, châu thổ được bù đắp phù sa màu mỡ của hệ thống sông Hồng và sơng Thái Bình đã tạo nên vựa lúa nổi tiếng ở Việt Nam. Bên cạnh đó , cịn là cái nơi hình thành nên dân tộc và nền văn hóa Việt .

Thiên nhiên ở vùng này thật phong phú, đa dạng và có nhiều nét độc đáo mang sắc thái của cảnh quan nhiệt đới gió mùa ẩm, Có những cánh rừng bạt ngàn với những khu rừng nhiệt đới nguyên sinh nổi tiếng, đặc biệt phong phú về số lượng loài thực, động vật.

Đây là vùng có tiềm năng rất phong phú và đa dạng và có sức hấp dẫn rất đối với khách du lịch trong và ngồi nước. Có khả năng đáp ứng các yêu cầu của nhiều loại hình du lịch với các loại đối tượng khác nhau và có khả năng tiếp nhận số lượng lớn khách du lịch. Trong số các di tích Việt Nam thì vùng này chiếm hơn 90% về số lượng. Số lượng các danh hiệu thế giới do UNESCO xếp hạng cũng đứng đầu với quần thể danh thắng Tràng An, Hoàng thành Thăng Long, Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long, ca trù, dân ca quan họ , khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng …

<b>I.Khái quát về tiểu vùng du lịch : </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

Vùng du lịch Bắc Bộ bao gồm 28 tỉnh thuộc vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Đồng Bằng sơng Hồng và 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Gồm 5 tiểu vùng du lịch.

Tiểu vùng trung tâm nằm trong tâm điểm của con đường giao lưu quốc tế theo hai trục chính: Tây – Đơng và Bắc – Nam. Vị trí này khiến cho nơi đây trở thành vị trí tiền đề để tiến tới các vùng khác trong nước và trong khu vực Đông Nam Á; là mục tiêu xâm lược đầu tiên của tất cả bọn xâm lược muốn bành trướng thế lực vào lãnh thổ Đơng Nam Á. Nhưng cũng chính vị trí địa lí này tạo điều kiện cho cư dân có thuận lợi về giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

<b>1. Các tỉnh thành tiểu vùng du lịch trung tâm :</b>

-Tiểu vùng trung tâm (13 tỉnh ) gồm Hà Nội và các tỉnh phụ cận : Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Bắc Giang, Hưng n, Thái Bình, Hịa Bình, Phú Thọ, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa.

Vị trí địa lý:

 Phía Bắc và tây bắc là Trung du và miền núi Bắc Bộ. (Việt Nam ) .  Phía Tây và tây nam là tiểu vùng Tây Bắc và Lào.

 Phía Nam là Bắc Trung Bộ .

 Phía Đơng và Đơng Nam là Vịnh Bắc Bộ và Biển Đông.

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>2. Điều kiện tự nhiên : 2.1. Địa hình</b>

 Đây là tiểu vùng du lịch chủ yếu nằm trải dài trên đồng bằng sơng Hồng . Về địa hình, Tiểu vùng Trung Tâm là địa hình núi xem kẽ đồng bằng hoặc thung lũng; thấp và bằng phẳng; dốc thoải từ Tây Bắc xuống Đông Nam; từ độ cao 10 – 15m giảm dần đến độ cao mặt biển. Toàn vùng cũng như trong mỗi vùng; địa hình cao thấp khơng đều; tại vùng có địa hình cao vẫn có nơi thấp úng như Gia Lương (Bắc Ninh); có núi Thiên Thai nhưng vẫn là vùng trũng như Hà Nam; Nam Định; là vùng thấp nhưng vẫn có núi như Chương Sơn; núi Đọi…

<small></small> Trong đồng bằng sơng Hồng có nhiều ơ trũng tự nhiên, điển hình là ơ trũng Hà Nam Ninh, ô trũng Hải Hưng và ô trũng Nho Quan,….có những ảnh hưởng nhất định đến sự phân bố làng và nền nơng nghiệp kèm theo . Ngồi ra cịn có rất nhiều đầm lầy. Trầm tích và phù sa do các sơng vận chuyển ra khỏi lịng sơng mỗi mùa lũ đã không lấp được các ô trũng và đầm lầy này do chúng quá xa sông hoặc do bị đê điều nhân tạo ngăn cản. Việc các sơng đổi dịng cũng tạo ra nhưng đầm lầy và ao hồ.

<small></small> Tiểu vùng trung tâm cịn có dạng địa hình karst ( núi đá vơi ) có ý nghĩa lớn , là món q vơ cùng kỳ diệu mà tạo hóa đã ban tặng cho Vịnh Bắc Bộ với vùng núi đá vơi từ Hịa Bình – Thanh Hóa, nằm xen kẽ các vùng đồng bằng bao

<b>gồm các núi đá vơi cịn sót lại rải rác và xen kẽ các cánh đồng như phía Tây</b>

của Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình. Có những hang động bí hiểm lạ mắt: Hương Sơn (Hà Nội), động Vân Trình, Tam Cốc - Bích Động (Ninh Bình).

<b>2.2 Nguồn Nước : </b>

<b>Tiểu vùng trung tâm có một hệ thống sơng ngịi khá dày; khoảng 0;5 – 1;0km/km2</b>

gồm các dịng sơng lớn như sơng Hồng; sơng Thái Bình; sơng Mã cùng các mương máng tưới tiêu dày đặc,có tiềm năng rất lớn về cung cấp nước làm thủy lợi, là đường giao thông và nguồn thủy sản, đồng thời cũng có thể khai thác để sử dụng vào mục đích du lịch.

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

Do ảnh hưởng của khí hậu gió mùa với hai mùa khơ và mưa thủy chế của các dịng sơng; nhất là sơng Hồng cũng có hai mùa rõ rệt: Mùa cạn dịng chảy nhỏ; nước trong và mùa lũ dòng chảy lớn; nước đục.

Ngoài khơi; thủy triều cũng theo chế độ nhật triều; mỗi ngày có một lần nước lên và một lần nước xuống. Chính yếu tố nước tạo ra sắc thái riêng biệt trong tập quán canh tác; cư trú; tâm lí ứng xử cũng như sinh hoạt cộng đồng của cư dân trong khu vực; tạo nên nền văn minh lúa nước; vừa có cái chung của văn minh khu vực; vừa có cái riêng độc đáo của mình.

- Nguồn nước được khai thác phục vụ nhu cầu du lịch như :

- Các dịng sơng, mặt nước cịn được sử dụng trong các kỳ lễ hội và tổ chức các môn thể thao nước ( bơi, đua thuyền,…) hoặc còn sử dụng để hát quan họ, múa rối,…

- Ngồi ra cịn có nước ngầm, nước nóng, nước khống khoáng theo các mạch suối tự nhiên nhằm giải khát và chữa bệnh: Kênh Gà (Ninh Bình), Kim Bơi (Hịa Bình),.,..

- ở vùng này cịn có nhiều hồ chứa nước tự nhiên và nhân tạo có giá trị khai thác và thu hút khách cao như : Hồ Tây (Hà Nội ),Núi Cốc(Thái Nguyên ).

<b>2.3 Khí hậu</b>

- Khí hậu vùng Bắc Bộ nói chung , tiểu Vùng trung tâm nói riêng thật độc đáo; khác hẳn với các vùng khác. tiểu vùng trung tâm mang nét đặc trưng nhất nhất của khí hậu miền Bắc Việt Nam : đó chính là khí hậu nhiệu đới ẩm gió mùa,

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

Mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều nhưng mùa đông phi nhiệt đới lạnh và khô, làm cho cơ cấu cây trồng đa dạng.

- Đây là vùng duy nhất ở Việt Nam có một mùa đơng thực sự với ba tháng có nhiệt độ trung bình dưới 18oC; do đó mà có dạng khí hậu bốn mùa với mỗi mùa tương đối rõ nét khiến cho vùng này cấy được vụ lúa ít hơn các vùng khác:

+Mùa xuân ( tháng1-3) có mưa phùn , thời tiết khá đẹp thuận lợi cho việc phát triển du lịch và tổ chức các lễ hội thu hút khách du lịch.

+Mùa hạ ( tháng 4-7) mưa lớn thời tiết nóng phát triển các hoạt động du lịch như tắm biển, du lịch trên núi…

+Mùa thu ( tháng 8-10) thời tiết mát mẻ, dễ chịu nhất trong năm cho việc du lịch .

+Mùa đông (tháng 10- 12) , khí hậu khắc nghiệt , nhiệt độ thấp khô hanh phát triển du lịch trên núi.

- Khí hậu vùng trung tâm cũng thường phải hứng chịu nhiều tác động xấu của thời tiết, trung bình hàng năm có từ 6 đến 10 cơn bão và áp thấp nhiệt đới gây ra lũ lụt, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống và ngành nông nghiệp của toàn địa phương trong vùng.

<b>2.4 Bờ biển:</b>

<b>- Tài nguyên biển: bờ biển tương đối ngắn ,kéo dài khoảng 200 km, có những</b>

bờ biển đẹp như Đồng Châu thuộc tỉnh Thái Bình. Hải Thịnh, Quất Lâm thuộc tỉnh Nam Định.

- Trong đó nổi bật nhất là biển Sầm Sơn (Thanh Hóa) , một trong những bã biển đẹp và là đô thị du lịch vui chơi giải trí cao cấp .

- Biển Thanh Hóa thuộc Vịnh Bắc Bộ, có nhiều tài nguyên hải sản, khoáng sản. Bờ biển Thanh Hoá dài 102 km trải qua 6 huyện: Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hố, Sầm

<b>Sơn, Quảng Xương và Tĩnh Gia. Ngồi biển Thanh Hóa cịn có các đảo nổi, đảo chìm</b>

như Hịn Nẹ, Hòn Mê và bán đảo Nghi Sơn. Hiện du lịch biển, đảo hiện đang chiếm khoảng 70% hoạt động của ngành du lịch xứ Thanh , hứa hẹn trong tương lai về tiềm

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

năng phát triển biển đảo và các loại hình du lịch đa dạng tổng hợp , trở thành khu du lịch hang đầu Việt Nam .

<b>2.5 Đất đai : </b>

- Đất đai tiểu vùng trung tâm tương đối đa dạng , trong đó chiếm chủ yếu 70% là đất phù sa màu mỡ, có giá trị lớn về sản xuất nơng nghiệp( Đất nơng nghiệp chiếm khoảng hơn 50% diện tích vùng ).

- Ven biển các vùng Nam Định , Ninh Bình , Thanh Hóa là đất ngập mặn và phèn.

- đất feralit cũng chiếm diện tích khơng đáng kể nằm chủ yếu ở các vùng Vĩnh Phúc ,vườn Quốc Gia Cúc Phương, Ba Vì ,…

- Ngồi ra ,cịn có đất lấy thụt , đất xám trên phù sa cổ cũng chiếm 1 diện tích nhỏ nằm rải rác ở các vùng Vĩnh Phúc , Hà Nội,…

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<b>3 Điều kiện nhân văn3.1 Dân số</b>

- Dân số của tiểu vùng trung tâm vào khoảng > 21 triệu người (2016), chiếm >

<b>22% dân số cả nước. </b>

- Đa số dân cư là người Kinh, một bộ phận nhỏ thuộc Ba Vì (Hà Nội) và Nho Quan (Ninh Bình) có thêm dân tộc Mường.

- Trung tâm du lịch Hà Nội và các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng là nơi dân cư đông đúc nhất cả nước nên có lợi thế: có nguồn lao động dồi dào, nhiều kinh nghiệm và truyền thống trong sản xuất, chất lượng lao động cao. Tạo ra thị trường có sức mua lớn. ... Nhưng mặt khác đã gây ra những tác động tiêu cực không nhỏ. Khi dân số đông mà kinh tế chậm phát triển thì sẽ hạn chế trong việc thất nghiệp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần đến mỗi người dân lao động. Đồng thời các nhu cầu phúc lợi xã hội cũng bị hạn hẹp theo. Ngoài ra, ở những nơi tập trung đơng dân cư sinh sống dễ dẫn đến tình trạng môi trường bị gia tăng tác động, gây ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, suy giảm các nguồn tài nguyên tự nhiên ở khu vực.

-- Có kết cấu hạ tầng nơng thơn hồn thiện nhất trong cả nước.

- Đời sống dân cư cịn nhiều khó khăn do cơ cấu kinh tế dịch chuyển chậm và dân số quá đông, mặc dù có sự đầu tư nhiều của Nhà nước và nước ngồi. - Có lịch sử khai phá lâu đời, là nơi tập trung nhiều di tích, lễ hội, làng nghề

truyền thống… với trung tâm kinh tế – xã hội là Hà Nội

<b>3.2 Kinh tế:</b>

Hiện tại cũng như tương lai tiểu vùng trung tâm ln đóng vai trò quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội chung ở Việt Nam. Là nơi có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên rất thuận lợi. Tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, dân cư đơng đúc, mặt bằng dân trí cao. Sự tập trung dân cư có mật độ cao liên quan đến nhu cầu và môi

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

trường lao động, tính cộng đồng và truyền thống văn hố dân tộc. Một nơi có truyền thống lâu đời về thâm canh lúa nước, có những trung tâm cơng nghiệp và hệ thống đô thị phát triển... là điều kiện rất thuận lợi cho công cuộc phát triển các ngành nghề lao động sản xuất từ phổ thông đến hiện đại, mang đến sự thuận lợi cho công cuộc định cư lâu dài của con người.

<i><b>Ngành công nghiệp:</b></i>

Ngành công nghiệp ở tiểu vùng trung tâm hình thành sớm nhất Việt Nam và phát triển mạnh trong thời kỳ đất nước thực hiện cơng nghiệp hố, hiện đại hố.

 Phần lớn giá trị sản xuất công nghiệp tập trung ở thành phố: Hà Nội

 Các ngành công nghiệp trọng điểm của tiểu vùng trung tâm là: công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, sản xuất vật liệu xây dựng và cơng nghiệp cơ khí.

 Sản phẩm công nghiệp quan trọng của vùng là máy công cụ, động cơ điện, phương tiện giao thông, thiết bị điện tử, hàng tiêu dùng như: vải, đồ sứ dân dụng, quần áo, hàng dệt kim, giấy viết, thuốc chữa bệnh…

 Đặc biệt ,trải rộng trên diện tích 3500km2, trải dài từ Hà Nội đến Thái Bình rồi ra đến bờ biển Đông đang tồn tại hàng chục vỉa than lớn nhỏ có tổng trữ lượng vào khoảng 210 tỷ tấn (theo dự đoán qua số liệu khảo sát vào những năm 70 của thế kỷ trước).. Các vỉa than này có chiều dày từ 2 đến 3m, có nơi tới 20m. Là những vỉa than có độ ổn định địa chất và chất lượng rất tốt

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

 (hình ảnh : cơ cấu các loại hình kinh tế của Đồng Bằng Sông Hồng làm trực quan cho tiểu vùng trung tâm)

 NÔNG NGHIỆP

 Nằm trong vùng văn hóa lưu vực sơng Hồng; sơng Thái Bình; sơng Mã – một vùng văn hố lúa nước nổi tiếng của Việt Nam, Tiểu vùng trung tâm nằm trong vùng có vựa lúa lớn nhất cả nước .

 Trồng trọt: cây lúa là cây lương thực được trồng chính ở Đồng bằng sơng Hồng. Ngồi ra cịn có một số cây ưa lạnh như các cây ngô đồng, khoai tây, su hào, bắp cải, cà chua và trồng hoa xen canh. Vụ đông đang trở thành vụ sản xuất chính ở một số địa phương. Những nông sản nhiệt đới quý giá, đạt tiêu

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

chuẩn cao: Gạo tám thơm, Nếp cái, nhãn Hưng n, vải Thanh Hà, ổi Bo Thái Bình.

 Chăn ni: Chăn nuôi heo là chủ yếu, chăn nuôi gia cầm, nuôi trồng thủy sản đang phát triển.

 Hàng thủ công mỹ nghệ sử dụng hầu hết nguyên liệu trong nước gồm các mặt hàng truyền thống như mây, tre, đan, sơn mài, gốm sứ, thêu, chạm khắc, các sản phẩm từ cói….thỏa mãn nhu cầu du khách và xuất khẩu

 DỊCH VỤ

 Có nhiều khu du lịch, địa danh hấp dẫn như: chùa Hương, Sầm Sơn… Dịch vụ bưu chính viễn thơng phát triển mạnh. Hoạt động dịch vụ sôi động.

Tiểu vùng trung tâm là vùng tiên phong đột phá chiến lược:  Đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

 Ưu tiên phát triển công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin.

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

 Phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, làm động lực để phát triển kinh tế – xã hội của vùng. Kết hợp chặt chẽ đầu tư kết cấu hạ tầng thủy lợi với giao thông, phát triển mạng lưới đô thị và điểm dân cư nông thôn. Tuy nhiên, tiểu vùng trung tâm vẫn là một khu vực thiếu nguyên liệu phục vụ cho các ngành công nghiệp đang phát triển và luôn phải nhập từ các vùng khác. Một số lượng không nhỏ tài nguyên đang bị suy thoái do khai thác quá mức. Do nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới và gió mùa nên nền kinh tế vùng nói chung cũng phải chịu ảnh hưởng từ các rủi ro do thiên tai gây nên

3.3 <b>Cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng </b>

So với các vùng khác trên cả nước, tiểu vùng trung tâm đã có cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch tương đối phát triển.

Hệ thống đường giao thông tương đối tốt với các trục đường chính từ thủ đơ Hà Nội tỏa đi khắp nơi trong vùng. Từ Hà Nội đi các tỉnh miền núi phía Bắc có các QL 1,2,3; lên Tây Bắc có Quốc lộ 6; ra biển có Quốc lộ 5, vào các tỉnh phía Nam có Quốc lộ 1. Các trục đường sắt chính cũng hầu như chạy song song với các trục đường bộ, bảo đảm khả năng vận chuyển khách du lịch với số lượng lớn. Tất cả các điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia đều có thể đi lại bằng các phương tiện giao thông khác nhau.

Một số tuyến du lịch có thể sử dụng các phương tiện liên vận đường sắt, đường thủy, đường hàng không, bảo đảm cho khách du lịch có thể đi một đường về bằng một đường khác.

Tiểu vùng trung tâm có thuận lợi lớn có nhiều sân bay lớn để đưa đón khách du lịch nước ngoài. Sân bay quốc tế Nội Bài (Hà Nội) đã được xây dựng hiện đại, quy mơ, có thể vận chuyển 2-3 triệu lượt khách/năm.

Đây là vùng tập trung các nhà máy điện lớn như,nhà máy nhiệt điện Ninh Bình, thủy điện Hịa Bình ,... Những năm gần đây sản lượng điện được tăng lên không ngừng và chất lượng điện cung cấp cũng tốt hơn, cùng với việc phát triển mạng lưới điện rộng

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

khắp đã đảm bảo vững chắc nguồn điện phục vu cho các ngành và các địa phương trong vùng, trong đó có hoạt động du lịch

Tiểu vùng trung tâm có điều kiện và khả năng giải quyết tốt nhu cầu nước phục vụ du lịch, trên cơ sở có nguồn cung cấp nước dồi dào, cả nước mưa, nước trên mặt và mạch nước ngầm.

Xây dựng các trạm viễn thông và lắp đặt các phương tiện thông tin hiện đại do các nước giúp đỡ. Trên cơ bản đã đảm bảo được thông tin liên lạc trong nước và quốc tế thuận tiện nhanh chóng và kịp thời, đáp ứng ngày một tốt hơn mọi yêu cầu của hoạt động du lịch.’

Cơ sở vật chất kỹ thuật

Với lịch sử lâu dài và nền kinh tế phát triển, hệ thống nhà hàng khách sạn ở Hà Nội khá hoàn thiện.

Hệ thống khách sạn Hà Nội khá phong phú đáp ứng mọi nhu cầu của du khách. Có đầy đủ các loại từ bình dân đến cao cấp, có nhiểu khách sạn 5 sao như: Khách sạn Hà Nội Daewoo, Khách sạn Hilton Hanoi Opera, Khách sạn Sofitel Metropole Hà Nội, Khách sạn Sofitel Plaza Hà Nội….

Hệ thống nhà hàng phong phú phục vụ tối đa nhu cầu của du khách về ăn uống cũng như tìm hiểu về văn hóa ẩm thực.

Với nguồn lương thực thực phẩm dồi dào và đa dạng, đội ngũ lao động phục vụ lành nghề đã sáng tạo ra nhiều món ăn ngon.

Khơng chỉ có hệ thống nhà hàng khách sạn, đến Hà Nội du khách cịn thích thú với những món ăn ngon, bổ, rẻ và nét văn hóa ẩm thực độc đáo ở đây.

<b>II Tài nguyên du lịch của tiểu vùng trung tâm :1. Tài nguyên du lịch tự nhiên:</b>

<b>a) Tài nguyên đồi núi: </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

- Tiểu vùng trung tâm nằm trong vùng đồng bằng song Hồng , với địa hình thấp , bằng phẳng . Nhìn chung địa hình thuận lợi cho sự phát triển nơng nghiệp, phát triển công nghiệp và đô thị, xây dựng hệ thống giao thông vận tải.

- Tiểu vùng trung tâm có các dạng địa hình đặc biệt như dạng địa hình karst ( núi đá vơi ) có ý nghĩa lớn đối với du lịch:

+Địa hình Karst Hang động : Người Xưa (Ninh Bình ) , động Hương Tích (Hà Nội),khu hang động Tam Cốc –Bích Động ,…

+Địa hình karst nằm xen kẽ ở vùng đồng bằng gồm : phía tây Hà Nội , Hà Nam , Ninh Bình ,Thanh Hóa , Quảng Bình ,….

+ kiểu địa hình karst núi gồm: núi đá vơi Hịa Bình,Thanh Hóa

Có thể phát triển loại hình du lịch tham quan, nghiên cứu , du lịch đi bộ ,… giao thông vận tải phát triển là tiền đề để hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch phát triển.

<b>b) Tài nguyên biển, đảo:</b>

- Tiểu vùng trung tâm có bờ biển dài khoảng 200km , với một số bãi biển đẹp, ít đảo , phát triển du lịch biển đảo tập trung chủ yếu ở Thanh Hóa với bãi biển Sầm Sơn .

Biển Hải Tiến

- Bãi biển Sầm Sơn : một trong những bãi biển đẹp nhất Việt Nam và luôn là bãi biển đông khách nhất miền Bắc, Viêt Nam .

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

Biển Sầm Sơn

Từ những thập niên trước đây, đã có nhiều biệt thự nghỉ mát đã được xây cất cạnh bờ biển. Vua Bảo Đại cũng có biệt thự riêng. Có khá nhiều cảnh đẹp như ở hòn Trống Mái, đền Độc Cước, đền Cô Tiên, chùa Khải Nam .v.v...

<b>Đền Cô Tiên</b>

Đền Độc Cước

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

Hòn Trống Mái

<b>c)Vườn quốc gia:</b>

Nhìn chung thảm động thực vật của tiểu vùng trung tâm khơng nhiều. Trừ các vùng ven, ví dụ như vườn quốc gia Cúc Phương , vườn quốc gia được thành lập đầu tiên tại Việt Nam , nơi bảo tồn và lưu giữ được 1 kho sưu tập đặc sắc về thế giới động thực vật điển hình của thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa .

Với đặc trưng là rừng mưa nhiệt đới, xanh quanh năm, Cúc Phương có quần hệ động thực vật vô cùng phong phú và đa dạng. Theo số liệu điều tra gần đây Cúc Phương có 1983 lồi thực vật bậc cao, trong đó có 433 loài cây làm thuốc, 229 loài cây ăn được, nhiều loài được ghi trong sách đỏ của Việt Nam. Về động vật, Cúc Phương có 110 lồi bị sát và lưỡng cư, 65 loài cá, gần 2000 loài cơn trùng, 117 lồi thú (trong đó có lồi voọc đen mong trắng là loài thú linh trưởng rất đẹp và quý hiếm được chọn làm biểu tượng của VQG Cúc Phương. Với hơn 300 loài chim cư trú, đặc biệt có nhiều lồi đặc hữu của Việt Nam và Đơng Dương, vì vậy Cúc Phương từ lâu đã trở thành điểm lý tưởng đối với các nhà xem chim.) .

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

-Tiểu vùng trung tâm có những vườn quốc gia có giá trị thu hút khách và khả năng khai thác: Ba Vì(Hà Nội),Bến En(Thanh Hóa). –Khu vực Tràng An-Tam Cốc-Bích Động -Cúc Phương là một trong những vùng tập trung tài nguyên thiên nhiên với mật độ cao và có ý nghĩa với hoạt động du lịch của tiểu vùng trung tâm.

- Các khu dự trữ sinh quyển tại tiểu vùng trung tâm có khả năng khai thác thuận lợi và thu hút khách như : Ba Vì,Bái Tử Long,Bến En , Cúc Phương, …

-Khu vực Tràng An-Tam Cốc-Bích Động được mệnh danh là Vịnh Hạ Long trên cạn với núi, sông , hồ ,hang đặc sắc , cũng là một trong những thắng cảnh được đánh giá thu hút khách cao và khả năng khai thác tìm năng của Tiểu Vùng trung tâm.

-Với sự đang dạng về động thực vật thì Vườn Quốc Gia Cúc Phương đã và đang là nơi phục vụ tốt cho công tác nghiên cứu của các nhà chun mơn. - Ngồi ra tiểu vùng này cịn có nhiều rừng ngập mặn.

<b>2. Tài ngun du lịch nhân văn.a) Di tích văn hóa – lịch sử: </b>

Tiểu vùng trung tâm là nơi có số lượng di tích văn hóa - lịch sử lớn nhất, trong đó có nhiều di tích có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với du lịch. Trong đó phải kể đến 2 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận năm 2009 là ca Trù ( di sản cần bảo vệ khẩn cấp ) và dân ca quan họ.

Đối với những di tích khảo cổ, tiểu vùng du lịch trung tâm là nơi phát hiện hầu hết các nền văn minh cổ trên đất nước Việt Nam. Từ di chỉ núi Đọ ( Thanh Hóa ) đến các di chỉ thuộc nền văn minh Đơng Sơn, Hịa Bình đều chứng minh vùng này là cái nơi của nền văn hóa Việt Nam.

Tiểu vùng du lịch trung tâm là nơi có nhiều di tích lịch sử. Các di tích lịch sử trong vùng tập trung với mật độ cao ( khoảng 6,0 di tích /100 km² ), phân bố ở các tỉnh thành như : Hà Nội, Ninh Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên, Phú Thọ, Thái Bình, Thanh Hóa, Nam Định,…

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

Riêng ở Tiểu vùng trung tâm ( gồm Hà Nội và phụ cận ) 13 tình thành phố, tập trung nhiều di tích văn hóa lịch sử nhất trong vùng du lịch Bắc Bộ. ( Chiếm khoảng 80% ). Nhiều di tích nổi tiếng khơng chỉ ở trong và ngoài nước được du khách ngưỡng mộ, thường xuyên viếng thăm như Văn Miếu – Quốc Tự Giám, thành Cổ Loa, Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Đền Hùng,…. Những di tích này là dấu ấn quan trọng trong quá trình lịch sử lâu đời của nước ta qua các thời đại. Không chỉ có gí trị về lịch sử mà cịn có giá trị nghệ thuật, kiến trúc cao như chùa Một Cột, chùa Tây Phương ( Hà Nội ), tháp Phổ Minh ( Nam Định ), chùa Dâu ( Bắc Ninh ), chùa Keo ( Thái Bình ), thành phố Nhà Hồ ( Thanh Hóa ),… Chúng thể hiện sâu sắc tư tưởng triết học phương Đông và bàn tay lao động tài hoa của người dân đất Việt tạo dựng.

Tuy nhiên, hiện nay ở nhiều địa phương trong vùng một số di tích đã bị xuống cấp nghiêm trọng, một số di tích khác được trùng tu nhưng lại không đảm bảo đúng nguyên trạng làm ảnh hưởng đến tâm lý của khách du lịch.

<b>CHÙA MỘT CỘT </b>

<b>-là một ngơi chùa nằm giữa lịng thủ đơ Hà Nội. Đây là ngơi chùa có kiến trúc độc đáo</b>

ở Việt Nam.

Chùa Một Cột chỉ có một gian nằm trên một cột đá ở giữa hồ Linh Chiểu nhỏ có trồng hoa sen. Truyền thuyết kể lại rằng, chùa được xây dựng theo giấc mơ của vua Lý Thái Tông (1028-1054) và theo gợi ý thiết kế của nhà sư Thiền Tuệ. Vào năm 1049, vua đã mơ thấy được Phật bà Quan Âm ngồi trên tòa sen dắt vua lên toà. Khi tỉnh dậy, nhà vua kể chuyện đó lại với bày tơi và được nhà sư Thiền Tuệ khuyên dựng chùa, dựng cột đá như trong chiêm bao, làm toà sen của Phật bà Quan Âm đặt trên cột như đã thấy trong mộng và cho các nhà sư đi vòng quanh tụng kinh cầu kéo dài sự phù hộ, vì thế chùa mang tên Diên Hựu ( phúc lành dài lâu)

<b>CHÙA DÂU </b>

Chùa Dâu, cịn có tên là Diên Ứng (延應寺), Pháp Vân (法雲寺), hay Cổ Châu, là một ngôi chùa nằm ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30 km. Đây là trung tâm cổ xưa nhất của Phật giáo Việt Nam. Chùa còn

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

được người dân gọi với những tên gọi khác nhau như chùa Cả, Cổ Châu tự, Diên ứng tự. Đây là ngôi chùa được coi là có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam mặc dù các dấu tích vật chất khơng cịn, nó đã được xây dựng lại.[1]. Chùa là một danh lam bậc nhất của xứ kinh Bắc xưa nay. Đây cũng là một di tích quốc gia đặc biệt của Việt Nam được xếp hạng đợt 4.

Chùa được xây dựng vào buổi đầu Công Nguyên. Các nhà sư Ấn Độ đầu tiên đã từng đến đây. Vào cuối thế kỷ 6, nhà sư Tì-ni-đa-lưu-chi từ Trung Quốc đến chùa này, lập nên một phái Thiền ở Việt Nam. Chùa được khởi công xây dựng năm 187 và hồn thành năm 226, là ngơi chùa lâu đời nhất và gắn liền với lịch sử văn hóa, Phật giáo Việt Nam, được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử ngày 28 tháng 4 năm 1962.[1] Chùa Dâu gắn liền với sự tích Phật Mẫu Man Nương thờ tại chùa Tổ ở làng Mèn, Mãn Xá cách chùa Dâu 1 km.

<b>b. Những lễ hội dân gian tiêu biểu ở tiểu vùng trung tâm : </b>

Lễ hội dân gian là hệ thống những lễ hội được tổ chức mang tính chất dân dã, phổ biến trong cộng đồng xã hội nhằm phục vụ cho nhu cầu về tâm linh của con người cầu mong cho cuộc sống được tốt lành, may mắn.

Tiểu vùng du lịch trung tâm tập trung nhiều lễ hội lớn, là quê hương của hội làng, hội vùng, của lễ hội trong cả nước. Cũng giống như các địa phương khác trên cả nước, lễ hội trong vùng thường tập trung chủ yếu sau tết Nguyên Đán và kéo dài khoảng 3 tháng, với lịch lễ hội, du xuân dày đặc : có câu :

Mồng một chơi tết ở nhà,

Mồng hai chơi điếm, mồng ba chơi đình, Mồng bốn chơi chợ Quả Linh,

Mồng năm chợ Trình, mồng sáu chợ Gôi, Nghỉ ngày mồng bảy mà thôi,

Đến ngày mùng tám đi chơi chợ Viềng…

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

Mỗi lễ hội trong vùng đều mang một nét đặc trưng riêng gồm có lễ hội lịch sử, truyền thuyết dân tộc, lễ hội nông nghiệp, hay lễ hội tín ngưỡng, lễ hội tơn giáo,… tất cả đều góp phần làm nên cái hồn của dân tộc Việt.

<b>b.1. Tết Nguyên Đán :</b>

Được diễn ra từ ngày 30/12 – 3/1 âm lịch. Đây là ngày lễ của đoàn tụ gia đình, lễ tạ trời đất, tưởng nhớ tổ tiên, tình làng nghĩa xóm, với nhiều trị chơi vui dân dã khác như : Chơi Đu, Kéo co,…

<b>b.2. Lễ hội Đền Hùng :</b>

Diễn ra vào ngày 10/3 âm lịch, lễ hội Đền Hùng, Phú Thọ là một lễ hội quốc gia để tưởng nhớ các vua Hùng đã có cơng dựng nước. Phong tục giỗ tổ Hùng Vương đã trở thành truyền thống văn hoá lâu đời ở nước ta. Đó là ngày lễ linh thiêng và cao cả trong tâm thức dân gian Việt Nam. Vì thế mà lễ hội được tổ chức long trọng hàng năm với nghi thức đại lễ quốc gia, với sự hành hương “trở về cội nguồn dân tộc” của hàng chực vạn người từ khắp các nơi trong nước và kiều bào sống ở nước ngoài…

<b>b.3 Hội Đền An Dương Vương – Cổ Loa- Hà Nội : ( Từ ngày 6/1 – 18/1 âm lịch ) – </b>

Tưởng nhớ An Dương Vương thời kỳ bi hùng của lịch sử.Không biết từ bao giờ trong dân gian đã lưu truyền câu ca:

"Chết thì bỏ con bỏ cháu

Sống thì khơng bỏ mồng sáu tháng giêng" Đó là ngày mở hội đền thờ An Dương Vương ở xã Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội. Hội mở, sắc xuân tưng bừng bao phủ lên mọi cảnh vật, thẫm đẫm tâm hồn du khách hành hương. Người ta cảm thấy làn khói hương như dẫn tâm trí con người ngược thời gian trơi theo dòng lịch sử và truyền thuyết về một vùng đất cội nguồn.

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

Đền thờ An Dương Vương, còn gọi là đền Thượng, được xây dựng trên một gò đất cao kề trong luỹ thành cũ ở góc Tây Nam, thuộc địa phận xóm Chùa. Mở đầu là ba cây hương đá mang tư cách trục vũ trụ rất đẹp được làm khoảng đầu thế kỷ XVIII. Từ đó bước theo các bậc lên thềm cao, hai bên có đơi rồng đá lớn, một điển hình của nghệ thuật đầu thế kỷ XVIII, dẫn vào nghi môn. Theo bia ký cịn ghi lại thì đền được xây dựng năm 1687 và sửa lại năm 1893. Đây cũng có thể là niên đại của ngơi nghi mơn xây bằng gạch Bát Tràng với lầu thượng cao. Sau nghi môn vào đến sân lát gạch khá rộng, kẹp hai bên sân là hai dãy nhà tả hữu mạc để khách thập phương dừng chân sửa soạn trước khi vào lễ. Tiền bái là một ngôi nhà ba gian to, cao, cột lim đồ sộ, góc mái cong vút, hai đầu hồi liên kết với hai dãy hành lang, rồi chạy vào nối với điện chính tạo thành một khung kín ơm lấy một "sân vng" mà ở giữa là một ngôi nhà trùng diêm tám mái cao.

Xã Cổ Loa gồm ba làng Đơng, Đồi, Chùa với 12 xóm: Thượng, Nhồi, Dõng, Gà, Lan Trì, Chùa Chợ, Vang, Hương, Mít, Bãi và Trại. Từ bao đời nay nhân dân 12 xóm đã cùng nhau trơng coi di tích này, cùng nhau thờ phụng và mở hội hàng năm để tưởng nhớ đến An Dương Vương, đồng thời cũng nhớ đến một thời kỳ lịch sử bi hùng của đất nước. Xưa kia hội bắt đầu mở từ mồng 6 cho đến hết 18 tháng giêng, theo truyền thuyết dân gian thì ngày 5 tháng giêng là ngày Thục Phán nhập cung và ngày 9 tháng giêng là ngày ông lên ngơi và mở tiệc khao tồn bơ binh sĩ. Cổ Loa còn kết chạ với 7 xã khác ở xung quanh cùng thờ An Dương Vương từ ngày 6 tháng giêng, nên hội đền

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

An Dương Vương đã trở thành hội lớn trong vùng với sự tham gia rước kiệu của của 7 xã đó. Tuy nhiên, có những năm vì bị mất mùa hay vì một lý do nào đó mà làng chỉ mở hội trong 4 hay 6 ngày, thông thường những năm này làng không tổ chức rước, mà chi tế lễ và dâng hương tại đến Thượng.

Việc chuẩn bị cho ngày hội được bắt đầu từ năm trước, theo các cụ cao tuổi trong làng thì ngày xưa vào giữa tháng tám, làng đã họp bàn việc tổ chức mở hội. Làng Cổ Loa khi ấy chia làm 4 góc, mỗi góc sẽ cử 2 người đàn ông vào ban điều hành của làng, hai người này gọi là lang cai. Các lang cai phải là những người đàn ơng đã có tuổi (ngồi 50 tuổi), có uy tín đối với dân làng, có khả năng tổ chức cơng việc và đặc biệt là gia đình phải quang quẻ, thuận hịa, êm ấm. Cùng với 8 vị lang cai cịn có 2 vị dịch mục của làng sẽ là những người chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức lễ hội. Trước hết, những người trong ban tổ chức sẽ quyết định thời gian mở hội năm đó (6 ngày hay 12 ngày), sẽ chọn quân chần và quân cờ. Mỗi xóm sẽ cử một số thanh niên khoẻ mạnh, đẹp trai, gia đình khơng bị vướng vào các điều cấm kỵ để cầm cờ và khênh kiệu, đó là những quân chần. Quân cờ là những thanh nữ từ 13 đến 16 tuổi, chưa có chồng, xinh đẹp và gia đình cũng không bị vướng vào các điều cấm kỵ. Khi tham gia đám rước, thanh niên mặc áo gấm thắt khăn đỏ ngang lưng, thanh nữ măc áo the, những quần áo này cũng như quần áo của các quan viên đều do mỗi gia đình tự sắm lấy. Ngày 14 tháng Chạp làng sẽ tổ chức kiểm tra mọi việc chuẩn bị đến lúc đó đã hồn tất hay chưa, đó là ngày nhập tịch. Trong ngày này có thể làng sẽ tổ chức tập duyệt các nghi thức tế lễ, rước, hoặc bổ sung, thay thế các quân chần hốc các quan viên vì lý do nào đó không thể tham gia ngày hội được. Đền thờ, am thờ được quét dọn sạch sẽ, đồ thờ, đồ rước được lau chùi cẩn thận, sửa sang trưng bày. Ngày 18 tháng chạp là ngày lễ gia quang, tức là ngày rước áo mũ của thần về đến nơi thần đang ngự.

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

Chiều ngày 5 tháng giêng cả 8 xã tổ chức dâng hương tại đình làng. Tại đền Thượng, các vị chức dịch, quan viên trong làng cũng làm lễ dâng hương và ôn lại công lao, chiến cơng của nhà vua. Ngày chính hội (6 tháng giêng) được bắt đâu bằng các cuộc rước và đại tế.

Sáng sớm ngày 6 tháng giêng, một đám rước rất nghiêm trang và lộng lẫy rước bản văn từ nhà ông điển văn(1) ra đền, dẫn đầu là một viên chức mắc áo thụng xanh, đầu đội mũ tế cùng với dân làng mang cờ quạt, long đình. Ra đến đền, ông cai đám ở đền Thượng phải ra nghênh tiếp bản văn và rước vào đặt ở hương án. Ngồi sân đền, cờ hội, cờ đi nheo, lá cờ đại cắm trên cột cờ lớn giữa sân, phấp phới bay theo tàn gió xuân. Sát hai bên cửa đền là đôi ngựa hồng, ngựa bạch bằng gỗ, to như ngựa thật, có n cương hình chim phượng, lại được trang trí bằng các ngù, đai thêu kim tuyến rất sặc sỡ lộng lẫy. Dọc hai bên dũng đạo là hai hàng lỗ bộ và bát bửu xếp cân xứng. Lúc này, kiệu của bảy xã kết chạ cũng đã được rước tới đền Thượng và bày xung quanh sân, cuộc tế lễ bắt đầu. Lễ vật dâng lên thần gồm có hương, hoa, oản, quả, xơi thịt và có cỗ bánh dầy, cỗ bỏng, theo dân gian đó là hai thứ An Dương Vương đã dùng để khao quân. Lễ tế diễn ra đến quá Ngọ (12 giờ trưa) mới xong, và tế ở đây là tế hội đồng, tức là 7 xã cùng Cổ Loa thành phiên nhau tế. Lẽ ra, Cổ Loa là chủ nên được tế trước, nhưng người Cổ Loa cho rằng họ không phải là dân gốc ở đây nên họ mời làng Quậy (Liên Hà) tế trước, vì dân làng Quậy mới là dân gốc, khi làng Quậy tế xong, Cổ

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

Loa mới cùng các xã khác lần lượt tế. Các quan viên, kỳ mục làm lễ trước bàn thờ xong, tiếp tới dân chúng lễ theo. Trong lúc đó, ở nội tự, một số kỳ mục đại diện các xóm cầu nguyện nhà vua phù hộ cho dân làng được bình yên, thịnh vượng. Sau khi tế lễ xong ở đền Thượng, tất cả các quan viên cùng kỳ mục và dân chúng cử hành lễ rước thần từ đền sang đình để thần xem hội, đây là đám rước có quy mơ lớn nhất với sự tham gia rước đồng thời của tất cả các kiệu. Tuy đường rất ngắn chỉ từ đền Thượng đi vòng qua giếng Ngọc ra đến đầu làng rồi vòng về ngự tại đình Cổ Loa, nhưng đám rước đi chậm.

Đến nghi mơn, kiệu của làng nào trở về làng đó, trước khi về đều được nhận lễ ban phúc, ông chủ tế làng Cổ Loa thắp hương, xóc thẻ rồi cắm cho mỗi kiệu ba nén hương, hương này đủ cháy cho tới khi kiệu về đến từng xã. Đoàn rước và kiệu của Cổ Loa vào tế một tuần nữa tại đình, kết thúc nghi thức tế lễ của ngày hội chính. Từ đó cho đến hết hội, tại đình và đền chỉ còn lễ túc trực và lễ của các phe, giáp, các dòng họ và khách thập phương với các lễ vật do họ đem tới.

Hội đền An Dương Vương cịn có một lễ rước rất đặc sắc là lễ rước vua giả làng Nhội. Trên núi Sái ở làng Nhội có đền thờ Trấn Vũ, theo truyền thuyết là vị thần đã giúp vua trừ yêu quái, xây thành Cổ Loa. Thành xây xong, An Dương Vương đã tự mình đến núi Sái để làm lễ tạ ơn, tại đây nhà vua đã cho xây dựng đền thờ và vào ngày 12 tháng giêng hàng năm, nhà vua thường cùng văn võ bá quan sang đây tế lễ. Nhưng rồi việc đi lại của nhà vua và đoàn tuỳ tùng quá cầu kỳ tốn kém nên An Dương Vương giao cho dân sở tại cử người thay mặt mình (đóng vua) và tổ chức tế lễ giống như thật. Về sau người ta diễn lại tích đó. Làng sẽ chọn một người cao tuổi, có đức độ đóng vai vua hành lễ. Tuy đây là một phong tục riêng của làng Nhội nhưng nó cũng góp phần làm phong phú thêm các hoạt động của lễ hội Cổ Loa.

Ngày 18 tháng giêng, ngày giã hội, người ta sẽ tổ chức một đại lễ giã đám tại đền, các nghi thức được tiến hành trong buổi lễ cũng giống như ở ngày chính hội. Sau khi tế xong, thần vị được rước hoàn cung, dân làng cùng nhau thụ lộc thánh với hy vọng một năm ấm no, thịnh vượng, dưới sự bảo trợ của thần linh đang chờ đợi họ. Ngồi ngày

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

hội chính vào đầu mùa xuân, trong năm tại đền An Dương Vương cịn có một số lễ hội khác như ngày lễ thánh sinh (11/8 tục truyền là ngày sinh của Thục Phán), ngày thánh hoá (7/3), lễ "ăn sêu bà Chúa" (13/8 là ngày ăn hỏi của công chúa Mỵ Châu).

Khơng chỉ có phần lễ, dân chúng đi hội cịn được tham dự vào nhiều trò vui khác nhau, nhờ vậy ngày hội không những đem lại cho người ta sự thoả mãn, yên ổn về mặt tâm linh mà cịn là dịp để những người nơng dân nghỉ ngơi, vui chơi thoải mái trước khi bước vào một chu kỳ lao động mới vất vả và nhiều âu lo.

Các trị vui diễn ra ngay tại sân đình và xung quanh các nơi thờ tự khác với những trò phổ biến ở tất cả các hôi hè trên khắp các làng quê Bắc Bộ như cờ người, đấu vật, chọi gà, đánh đu, leo dây, tổ tôm, hát chèo, tuồng...

Đấu cờ người là một cuộc thi khá thú vị, bởi những người cao cờ nhất của mỗi làng mới được tham gia và giật được giải cờ là một năm vinh dự lớn cho làng. Trước khi vào cuộc, người đấu phải vào lễ Thánh rồi mới ra đấu. Cứ lần lượt đấu loại nhau, ai giữ được cho đến cuối cùng thì được giải, đó là người phá giải cờ và là người giỏi cờ nhất của hội năm đó.

Chơi đu là trị chơi thu hút khá nhiều trai thanh gái lịch tham gia. Trước ngày mở hội, ban tổ chức đã trồng sẵn hai cây đu để các đôi nam nữ thi tài. Giải thưởng thường chỉ là vài vuông lụa, nhưng những người được giải vẫn rất sung sướng vì đã có dịp thể hiện tài năng và lịng dũng cảm của mình.

Trị đấu vật diễn ra ở bãi đất ngồi đình, các chàng trai khỏe mạnh, nhanh nhẹn của các làng đều có thể tham gia, bởi sới vật là nơi thể hiện tinh thần thượng võ. Giá trị vật chất của giải thưởng không phải là lớn nhưng giá trị tinh thần lại rất đáng kể, đây là dịp để các chàng trai phô bày sức khoẻ và tài nghệ của mình trước dân làng, trước các thôn nữ trong vùng. Đối với họ, đây cũng là một niềm vui, niềm vinh dự mà hội làng mang lại.

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

Chọi gà là một trong những trò vui nổi tiếng ở hội Cổ Loa, vì vùng này cũng là vùng hay tổ chức đấu gà chọi và nuôi gà chọi, nên đến hội người ta lại đem những cặp gà đã được nuôi nấng, luyện tập công phu để tranh giải.

Đáo đĩa là một kiểu đánh đáo đạc biệt, có một người làm cái. Người này đặt một chiếc mẹt, trong mẹt để một cái đĩa nhỏ. Những người chơi đứng cách mẹt khoảng 2 thước, rồi đi những đồng trinh hoặc những đồng xu vào cái đĩa, nếu trúng một sẽ được ăn năm, những đồng nào bắn ra mẹt sẽ bị mất cho nhà cái, đồng nào không vào mẹt cũng không vào đĩa người chơi được đi lại.

<b>b.4 Lễ hội Chùa Hương – Hà Nội : ( mở hội từ ngày 6/1 – hết tháng 3 âm lịch ), Lễ </b>

hội chùa Hương hay Trẩy hội chùa Hương là một lễ hội của Việt Nam, nằm ở Mỹ Đức, Hà Nội. Trong khu thắng cảnh Hương Sơn, được xem hành trình về một miền đất Phật - nơi Quan Thế Âm Bồ Tát ứng hiện tu hành. Đây là một lễ hội lớn, gây được tiếng vang lớn ở miền Bắc, thể hiện ở sự quá tải số lượng các phật tử tham gia hành hương. Mọi người đến đây viếng cảnh chùa, cầu may, thăm thắng cảnh.

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

<b>b.5 Hội Lim – Bắc Ninh : ( Diễn ra vào ngày 13/1 âm lịch ), Hội Lim là một lễ hội lớn</b>

đầu xuân vùng Kinh Bắc, trên địa bàn huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Có giả thuyết cho rằng hội Lim có nguồn gốc từ hội chùa, hội hát, liên quan đến tiếng hát của chàng Trương Chi trong truyền thuyết Trương Chi - Mỵ Nương mà dấu xưa để lại là hình vết dịng sơng Tiêu Tương khá rõ ở các làng quê vùng Lim. Hội Lim là hội của những làng xã cổ nằm quanh núi Lim và đôi bờ sông Tiêu Tương. với những hoạt động phong phú của lễ và hội đã có nội dung và tầm cỡ lễ hội văn hóa dân gian Kinh Bắc, gần như hội đủ những hoạt động văn hóa nghệ thuật và tín ngưỡng tâm linh của các lễ hội trên vùng quê Bắc Ninh - mảnh đất được coi là vương quốc của lễ hội dân gian Việt Nam.

Ngồi ra cịn có nhiều lễ hội lớn khác như Lễ hội phù Đổng – Hà Nội, hội Trường Yên – Ninh Bình, Lễ hội Lam Kinh – Thanh Hóa, …

 Nhìn chung, những lễ hội của vùng phản ánh khá sinh động lịch sử hào hùng dân tộc với các lễ hội kỷ niệm những chiến công, những anh hung dân tộc đã ghi những dấu son chói lọi trong lịch sử. Ngồi ra còn phản ánh cả đời sống và bản sắc Văn hóa Việt Nam, có giá trị về khoa học, giáo dục và du lịch.

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

C) Làng nghề thủ công truyền thống :

Nghề và làng nghề thủ công truyền thống ở tiểu vùng du lịch trung tâm có lịch sử phát triển lâu đời và đây cũng là nơi có nhiều nghề thủ cơng truyền thống sớm nhất và tiêu biểu nhất của cả nước. Nhiều nghề, làng nghề nổi tiếng từ xưa, trãi qua những thăng trầm của thời gian, vẫn còn phát triển cho đến ngày nay. Có thể kể đến một số nghề tiêu biểu như : gốm sứ ( Bát Tràng , Chu Đậu ) , tranh dân gian (Đông Hồ,Hàng Trống ) , thêu ( Quất Động – Hà Nội ), Bích Động ( Ninh Bình ), chạm bạc ( Đồng Xâm – Thái Bình ), chiếu cói ( Hưng Hà – Thái Bình, Nga Sơn – Thanh Hóa ), mây tre đan ( Đình Văn – Bắc Giang, Phú Vinh – Hà Nội ),… Các làng nghề trong tiều vùng đã trở thành các điểm du lịch hấp dẫn, mở ra một loại hình du lịch mới – du lịch làng nghề.

<b>Nón Làng Chng -Hà Nội </b>

Nằm nép mình bên dịng sơng Đáy, làng Chng (huyện Thanh Oai, Hà Nội) không chỉ nức tiếng với nghề làm nón suốt hơn 3 thế kỷ, mà cịn sở hữu vẻ đẹp thanh bình với hình ảnh những chiếc nón lá chao nghiêng trong gió.

Làng nghề nón Chng xã Phương Trung, Thanh Oai, Hà Nội.

Làng Chuông là điểm đến hấp dẫn khơng chỉ bởi sản phẩm nón, mà cịn bởi nét đẹp văn hóa của một làng nghề truyền thống có lịch sử lâu đời.

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

trương, phải xây dựng làng Chng có thương hiệu, đồng thời xúc tiến quy hoạch điểm công nghiệp, tạo điều kiện cho các hộ sản xuất trong làng có đủ mặt bằng sản xuất và địa điểm giới thiệu sản phẩm.

Làng tranh Đông Hồ:

nay thuộc thôn Đông Khê, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Làng tranh Đông Hồ nằm bên bờ nam sông Đuống có hơn 240 hộ dân, bình n như bao làng quê Việt khác. Bây giờ số gia đình chuyên làm về tranh Đơng Hồ cịn lại khơng nhiều, khiến cho những gì cịn lưu lại càng trở nên q giá.

Có một gia đình tiêu biểu cịn gìn giữ giá trị này, đó là gia đình ơng Nguyễn Đăng Chế đã có 20 đời làm nghề, lâu đời nhất của làng. Cả đại gia đình ơng 3 thế hệ đều tâm huyết với tranh Đông Hồ.

Gốm sứ mỹ nghệ truyền thống Bát Tràng:

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

Được làm thủ công bằng bàn tay, khối óc của những nghệ nhân- từ tạo hình, tạo dáng, đến nét vẽ điêu khắc hoa văn, các loại men gia truyền từ men đàn, men rạn, men ngà, men lam, men búp dong… được nung ở nhiệt độ cao, gốm Bát Tràng không bị ngấm nước, men khơng bị thời gian bào mịn.

<b>III Các sản phẩm du lịch đặc trưng và địa bàn du lịch chủ yếu</b>

Sản phẩm du lịch có vai trị quan trọng quyết định đến sự phát triển của ngành du lịch. Sản phẩm du lịch là dịch vụ và hàng hóa cung ứng cho du khách, được tạo nên bởi các yếu tố tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực ( cơ sở vật chất kĩ thuật, lao động,…)

Các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch của tiểu vùng trung tâm gồm du lịch Hà Nội - Ninh Bình trong tam giác du lịch Hà Nội - Ninh Bình - Quảng Ninh, Hải Phịng của Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc

+Thủ đô Hà Nội gắn với hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành và các cảnh quan tự nhiên vùng phụ cận:

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

Với vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi, cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật tốt thủ đơ Hà Nội đóng vai trị quan trọng trong phát triển kinh tế cũng như du lịch của vùng và trong cả nước:

- Với vị trí và hệ thống giao thông phát triển Hà Nội là đầu mối giao thông lớn, quan trọng, là nơi trung chuyển, là chiếc cầu nối giữa các tỉnh trong vùng và giữa các vùng trong cả nước

Với cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật khá hoàn thiện Hà Nội là điểm dừng chân đầu tiên là nơi bắt đầu của các tour du lịch.

VD: Hà Nội- TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội- Quảng Ninh, Hà Nội- Sa Pa- Tây Bắc. - Với hệ thống GD và các trường ĐH, Hà Nội được xem là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực từ đội ngũ cán bộ quản lí du lịch, hướng dẫn viên du lịch cho đến các nhân viên dịch vụ khác… cho thủ đô Hà Nội và các vùng trong cả nước..

- Với vai trò là thủ đô, Hà Nội được xem là nơi đầu tư nguồn vốn, chính sách, phương hướng phát triển kinh tế trong đó có du lịch của vùng cũng như trong cả nước

+Ninh Bình gắn với Tam Cốc - Bích Động, Hoa Lư, Tràng An, Vân Long, Cúc Phương, Tam Chúc - Ba Sao và quần thể di tích, cảnh quan vùng phụ cận.

-Tiểu vùng trung tâm có sản phẩm du lịch đặc trưng là du lịch văn hóa trên nền văn minh lúa nước kết hợp du lịch sinh thái , tham quan nghiên cứu , nghỉ dưỡng. Sản phẩm du lịch cụ thể ở tiểu vùng du lịch chỉ mang tính chất đặc trưng chứ chưa có cơ sở nào phân loại rõ ràng.

Những sản phẩm du lịch cụ thể:

 Giao tiếp nhằm phát triển kinh tế xã hội, hội nghị, hội thảo, triển lãm, công vụ: tại các đô thị lớn Hà Nội, Ninh Bình ...

 Tham quan nghiên cứu nền văn hóa Việt Nam: Các di tích lịch sử, Các di sản văn hóa, nghệ thuật truyền thống cội nguồn của cộng đồng người Việt, Các lễ hội và sinh hoạt tâm linh, Các làng nghề truyền thống.Với sự đa dạng về dân tộc, tôn giáo, tập quán sống đã làm nên nét đa dạng của văn hóa và thu hút du lịch. Chủ yếu ở Hà Nội và vùng phụ cận thuộc Hà Tây, Hà Bắc, Vĩnh Phú, trung tâm của nền văn

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

minh Lúa Nước, văn hóa Đơng Sơn.

Các địa bàn có nhiều ảnh hưởng văn hóa các dân tộc: Mường: Hịa Bình,Hà Nội

Tham quan nghiên cứu các làng nghề truyền thống của dân tộc:

Vùng Bắc Bộ là một trong những vùng có nhiều làng nghề truyền thống ( trên 800 làng nghề), trong số đó có nhiều làng nghề nổi tiếng không chỉ trong nước mà cả ở thế giới. Dưới đây là một số làng nghề tiêu biểu:

Làng nghề nón Chng xã Phương Trung, Thanh Oai, Hà Nội, làng gốm Bát Tràng ,…

 Tham quan nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí ở các vùng cảnh quan: Vùng các hồ chứa nước lớn và nghỉ núi, Vùng núi đá, hang động Karsto Tràng An, Vùng núi cao và rừng nguyên sinh ( Vườn Quốc gIa Cúc Phương ,Bến En,..)

 Vùng đô thị đặc biệt – thủ đô Hà Nội là thành phố cổ, lịch sử, cịn nhiều di sản văn hóa, nghệ thuật kiến trúc cổ. Trung tâm chính trị, thủ đơ, văn hóa, khoa học, kinh tế, giao tiếp của cả nước. Thành phố nằm tại đầu mối giao thông lớn nhất cả nước, điểm giao thoa của 2 nền văn hóa lớn ở phương Đơng (Phật giáo từ Ấn Độ và Nho giáo từ Trung Quốc).

<b>Các địa bàn hoạt động du lịch chủ yếu</b>

Các di tích văn hóa – nghệ thuật, lễ hội truyền thống; chủ yếu ở Hà Nội và vùng phụ cận thuộc nền văn minh lúa nước, văn hóa Đơng Sơn. Các địa bàn có nhiều ảnh hưởng văn hóa các dân tộc Mường như: Ba Vì, Chương Mỹ, Nho Quan.

 Các di tích giữ nước, dựng nước:

1. Cụm Hà Nội: Hồng thành Thăng Long – Cổ Loa – hồ Gươm - chùa Trấn Quốc - Khu di tích Phủ Chủ tịch.

2. Cụm Ninh Bình: cố đơ Hoa Lư – chùa Bái Đính - chùa Địch Lộng - phịng tuyến Tam Điệp - đền Trần.

 Các địa bàn cảnh quan, nghỉ dưỡng, giải trí:

</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">

1. Hệ thống cảnh quan nghỉ dưỡng ven biển: Cụm Thanh Hóa-Nghệ An -Hà Tĩnh : Sầm Sơn, Cửa Lò , Thiên Cầm.

2. Hệ thống cảnh quan vùng hồ: Hà Nội (hồ Gươm, hồ Tây, hồ Đồng Mô, hồ Quan Sơn); Ninh Bình (hồ Đồng Chương, hồ Đồng Thái, hồ Kỳ Lân, hồ Yên Quang, hồ Yên Thắng)…

3. Hệ thống cảnh quan vùng núi: các khu nghỉ dưỡng Tam Đảo (Vĩnh Yên). Các khu núi cao: Tam Điệp

4. Các khu hang động núi đá Krasto: cụm Ninh Bình (động Vân Trình, động Địch Lộng, động Hoa Lư, Bích Động...)

5. Các hải đảo có bãi tắm tốt, có người ở: Tuần Châu

 kỹ thuật của cả nước, trung tâm của nền văn hóa nghệ thuật truyền thống. Quy mô dân số đến Đô thị đặc biệt: Thủ đô Hà Nội, đầu mối giao thông lớn, trung tâm thông tin viễn thông hiện đại, trung tâm giao tiếp, trung tâm đào tạo khoa học 2020 là: 7 triệu người. Gồm: Khu phố cổ, khu phố cũ, thành cổ, hệ thống trung tâm cũ, khu cảnh quan du lịch nghỉ dưỡng, giải trí mới xây dựng hiện đại, trung tâm các làng nghề truyền thống. Sân bay quốc tế chính: Nội Bài,Sân bay phụ: Miếu Môn.

<b>Các trung tâm lưu trú</b>

1. Vùng đất liền, trung tâm hạt nhân chính là Hà Nội.

2. Vùng ven biển, trung tâm hạt nhân chính: thành phố Thanh Hóa (cho địa bàn Quảng Ninh, Hải Phịng).

3. Vùng phía nam, trung tâm hạt nhân chính: Ninh Bình (cho địa bàn Thái Bình, Hà Nam, Nam Định).

<b>IV. ĐIỂM DU LỊCH CĨ Ý NGHĨA QUỐC GIA VÀ QUỐC TẾ:</b>

Tiểu vùng du lịch trung tâm có những điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia ,quốc tế: 1.Quần thể di tích ,viện bảo tàng quốc gia ở Hà Nội:

</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">

Hà Nội là thành phố cổ kín nghìn năm tuổi,nơi hội tụ của nhiều di tích lịch sử văn hóa ,kiến trúc ,các lễ hội truyền thống .Với 831 di tích được xếp hạng ,mật độ 24 di tích /100km2 Hà Nội được đánh giá là trung tâm du lịch có tiềm năng hàng đầu về tài nguyên du lịch nhân văn.

Một số di tích lịch sử -văn hóa và viện bảo tàng tiêu biểu ở Hà Nội :

-Văn Miếu Quốc Tử Giám

-là một quầng thể lớn về văn hóa-tơn giáo ,gồm những hệ thống chùa chiền,đình đền thờ nằm ven bờ sơng Đáy ,huyện Mỹ Đức Hà Nội. Trung tâm cua quầng thể chính là chùa Hương nằm trong động Hương Tích hay còn gọi là chùa Trong

-Theo sách Hương Sơn Thiên Trù chùa Hương đươc xây dựng từ đời Lê Hy Tông (1680-1705)

* Các Tuyến Điểm :

</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">

Từ trung tâm Hà Nội đi qua Hà Đông lên thị trấn Vân Đình qua gần 20km nữa là tới bến Đục.Đây là cửa ngõ vào khu danh lam thắng cảnh.

Từ Bến Đục khách lên thuyền xuôi theo dịng suối tên là Yến Vĩ.

Đến đền Trình thuyền ghé vào để du khach trình diện với thần linh trước khi đặt chân lên cõi Phật.

Rời đền trình ,du khách dừng ở Bến Trị và bước lên khu vực chùa Thiên Trù(chùa Ngoài)

Từ đây du khách ghé thăm chùa thiên sơn xây dựng trong động và chùa Giai Oan Để giúp du khách thuận tiện di chuyển, hệ thông cáp treo được xây dựng và đặt từ chùa Thiên Trù qua chùa Giải Oan và đến động Hương Tích

</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">

*Động hương Tích :

Bước qua một cổng lớn ở phía trên ,rồi theo những bậc đá rộng đi xuống động.Cửa động trơng như Hàm Rồng ,phía trong có khắc 5 chứ: Nam thiên đệ nhất động.

Vào trong động sẽ bắt gặp tượng Bà Chúa Ba cùng nhiều tượng phật khác .

Động Hương Tích cịn nổi tiếng với những nhũ đá lớn và đẹp.Trên vách động Thạch nhũ rũ xuong muôn màu muôn vẻ ,màu sắc biến ảo

Lễ hộI chùa Hương lấy ngày mùng 6 tháng Giêng là ngày khai hội . lễ hội thường kéo dài đến Hạ tuần tháng 3 âm lịch . Đỉnh cao của lễ hội là từ tháng giêng dến 18 tháng hai âm lịch

</div>

×