Tải bản đầy đủ (.pdf) (26 trang)

Chủ đề những lý luận cơ bản về công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.01 MB, 26 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>Mục lục</b>

Lời mở đầu:...4

Chương Một:...5

1.1 Khái niệm về công nghiệp hố, hiện đại hố...

1.2 Tác dụng của cơng nghiệp hố, hiện đại hố...

1.3 Mục tiêu cơng nghiệp hố, hiện đại hố...

1.4 Quan điểm của Đảng ta về cơng nghiệp hố hiện đại hoá...

1.5 Chủ trương của Đảng chuyển đất nước sang thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hố hiện đại hố ...

3.2 Cơng nghiệp hố hiện đại hố trong sự nghiệp phát triển mạnh mẽ của LLSX...

3.3 Xây dựng cơ cấu kinh tế một cách hợp lý, hiện đại và kết kết quả cao...

3.4 Củng cố và tăng cường các địa vị lãnh đạo trong quan hệ sản xuất XHCMN...

Chương 4 ...

4.1 Tận dụng tốt cơ hội để bức phá tăng tốc độ phát triển...

4.2 Phát triển nguồn nhân lực ...

4.3 Giáo dục đại học trước yêu cầu đẩy mạnh cơng nghiệp hố hiện đại hố và du nhập quốc tế...

4.4 Sự lãnh đạo của đảng và quản lí của nhà nước ...

Kết Luận...

Lời Cảm Ơn...

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

Tài liệu tham khảo...

<b>LỜI MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tài</b>

Hiện nay nước ta đang bước vào thời đại công nghiệp hóa. Đây là nhiệm vụ trọng tâm bởi chỉ có con đường cơng nghiệp hóa, hiện đại hố mới đưa nước ta trở nên giàu mạnh, đồng thời xây dựng được một xã hội công bằng, dân chủ, vẫn minh, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, từ đó rút ngắn khoảng cách lạc hậu với các nước phát triên, hịa mình vào dịng thác chung của nhân loại. Đại hội VIII của Đảng nhận dịnh rằng nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, từ đại hội lần thứ VIII đến nay, Đảng ta ln xác định cơng nghiệp hố là nhiêm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ. Thực hiện nhiệm vụ đó trong những năm qua, nhất là những năm đổi chúng ta thu được nhiều thành tựu quan trọng tạo ra thế và lực mới chuyển sang một thời kỳ phát triển cao hơn để tới một bước công nghiệp hóa nước nhà. Tuy nhiên trong q trình cơng nghiệp hóa những năm trước đây, do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân nóng vội chủ quan, đốt nóng giai đoạn mà chúng ta đã mắc phải một số khuyết điểm sai lầm mà Nghị quyết Đại hội đảng lần thứ VI và lần thứ VII đã vạch ra. Muốn tiếp tục phát huy thành tích, khắc phục yếu kém đẩy lùi nguy cơ tụt hậu về kinh tế, sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng một nước nghèo, cải thiện đời sống nhân dân, tăng cường tiềm lực quốc phòng an ninh, cũng cố vững chắc độc lập và chủ quyền quốc gia, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất ra đời phù hợp với quan hệ sản xuất mới thì khơng cịn con đường nào khác là chúng ta phải đẩy mạnh quá trình cơng nghiệp hóa hiện đại.

Thực tiễn phong phú và những thành tụ được qua 15 năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn của Cương lĩnh được thơng qua tại Đại hội VII của Đảng, đồng thời giúp chúng ta nhận thức ngày càng rõ hơn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chúng ta một lần nữa khẳng định: Cương lĩnh là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự nghiệp xây dụng nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định hưởng cho mọi hoạt động của Đảng hiện nay và trong những thập kỷ tới, Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dụng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vẫn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tỉnh hoa văn hóa nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, về sức mạnh nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc, về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước thực sự của nhân dân, do dân, vì dân. Về quốc phịng tồn dân xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hóa, khơng ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính, chí cơng vơ tư, về chăm lo bởi đường thế hệ cách mạng cho đời sau, về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân và Tư tưởng Hồ Chí Minh soi

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta. Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại. Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về thể chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tinh chất quá độ. Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra sự đan xen và đấu tranh giữa cái mới và cái cũ trong thời kỳ q độ có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, nhưng cơ cấu, tính chất, vị trí các giai cấp trong xã hội đã thay đổi nhiều cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội. Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài tro sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lợi ích giai cấp cơng nhân thống nhất với lợi ích tồn dân tộc trong mục tiêu chung là: độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, dân giấu, nước mạnh, và hỏi công bằng, dân chủ, văn minh. Nội dung chủ yếu của đấu tranh giải cấp trong giai đoạn hiện nay là thực hiện thắng lợi sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển, thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công: đấu tranh ngân chân và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực, sai trái; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước và hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân hạnh phúc. Trong tinh hình như hiện nay thì cơng cuộc cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đóng vai trị rất lớn trong việc xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Vấn đề cơng nghiệp hố - hiện đại hóa là một vấn đề rất rộng gồm nhiều nội dung khác nhau, khơng thể nói hết trong phạm vi một bài viết. Vì vậy chúng em hy vọng bài viết này có thể giúp bạn đọc hiểu thêm về q trình cơng nghiệp hố - hiện đại hóa ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

<b>2. Mục đích nghiên cứu:</b>

Với mạng đề tài này chúng ta sẽ đi nghiên cứu về những lý luận, tinh tất yếu và nội dung công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta hiện nay và con tìm hiểu thực trạng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Và làm rõ vì sao khi đi lên chủ nghĩa xã hội thì phải thực hiện cơng nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

<b>3. Phương pháp nghiên cứu:</b>

Giáo trình “Những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác-Lênin”. Tìm qua sách, tài liệu từ thư viện.

Tổng hợp lời giảng của giảng viên trong quá trình học tập.

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

Tự bản thân rút ra kết luận.

<b>CHƯƠNG MỘT</b>

<b>NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHIỆP HỐ, HIỆN ĐẠI HĨ</b>

A

1.1. Khái niệm về cơng nghiệp hảo, hiện đại hố

Cơng nghiệp hóa là q trình chuyển đổi cơ bản và toàn diện hầu hết các hoạt động sản xuất từ việc sử dụng sức lao động thủ cơng là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động phổ thông dựa trên sự phát triển của ngành công nghiệp cơ khí. Ngồi ra, cơng nghiệp hịa cịn được hiểu là q trình năng cao tỷ trọng của cơng nghiệp trong toàn bộ các ngành kinh tế của một vùng kinh tế hay một nền kinh tế. Đó là tỷ trọng về lao động, về giá trị gia tăng, về năng suất lao động,...

Có thể nói q trình cơng nghiệp hóa là q trình chuyển biển kinh tế - xã hội ở một cộng đồng người từ nền kinh tế với mức độ tập trung tư bản nhỏ bé (xã hội tiền công nghiệp) sang nền kinh tế cơng nghiệp. Cơng nghiệp hóa là một phần của q trình hiện đại hóa. Sự chuyển biển kinh tế - xã hội này đi đôi với tiến bộ công nghệ, đặc biệt là sự phát triển của sản xuất năng lượng và luyện kim quy mơ lớn. Cơng nghiệp hóa cịn gắn liền với thay đổi các hình thái triết học hoặc sự thay đổi thái độ trong nhận thức tự nhiên.

Hiện đại hóa được hiểu là việc ứng dụng, trang bị những thành tựu khoa học và cơng nghệ tiên tiến, hiện đại vào q trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội. Từ việc sử dụng sức lao động thủ công sang sử dụng sức lao động phổ thông ứng dụng những thành tựu công nghệ. Đây là một thuật ngữ tổng quát nhằm biểu đạt tiến trình cải biển nhanh chóng khi con người nắm được khoa học kỹ thuật tiên tiến và dựa vào đó để phát triển xã hội với mộc tốc độ mau chóng chưa từng thấy trong lịch sử.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay được hiểu là q trình chuyển đổi căn bản và tồn diện từ các hoạt động kinh tế và kinh tế - xã hội tử sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng lao động phổ thơng cũng như công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại để tạo ra năng suất lao động xã hội lớn.

Có thể thấy rằng cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng mới khơng cịn bị giới hạn về phạm vì trình độ những lực lượng sản xuất và kỹ thuật đơn thuần mà chỉ nhằm chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí giống như các quan niệm trước đây vẫn nghĩ.

<b>1.2. Tác dụng của cơng nghiệp hố, hiện đại hoá:</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

Cơng nghiệp hóa là một giai đoạn phát triển tất yếu của mỗi quốc gia. Nước ta từ này nền kinh tế nông nghiệp kém phát triển, muốn vươn tới trình độ phát triển cao, nhất thiên phải trải qua cơng nghiệp hóa. Thực hiện tốt cơng nghiệp hố - hiện đại hóa có ý nghĩa đặc biệt to lớn và có tác dụng trên nhiều mặt:

Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa là phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng sức với ngủ con người đối với tự nhiên, tăng trưởng kinh tế, nhờ đó góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, góp phần quyết định sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. Sợ đi nó có tác dụng như vậy việc cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa là một cách chung nhất, là cuộc cách mạng và lực lượng sản xuất làm thay đổi căn bản kĩ thuật, công nghiệp sán xuất, làm tăng năng suất lao động.

-Tạo điều kiện để phát triển lực lượng sản xuất và nâng cao năng suất lao động xã hội, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đồng thời giải quyết việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống của nhân dân.

-Tạo ra lực lượng sản xuất mới, tạo tiền đề cho việc củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa cơng nhân, giữa nơng dân và trí thức. -Tạo tiền đề cho việc hình thành và phát triển nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa và phát triển nền văn hóa tiên tiến, cao đẹp, đậm đà bản sắc dân tộc.

-Tạo cơ sở vật chất – kỹ thuật để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, kết hợp với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, củng cố, tăng cường quốc phòng và an ninh quốc gia.

-Có tác động đến việc đảm bảo kĩ thuật, giữ gìn bảo quản và từng bước cải tiến vũ khí, trang thiết bị hiện có cho lực lượng vũ trang.

-Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần tăng nhanh quy mơ thị trường, bên cạnh thị trường hàng hóa phải cịn có suất hiện các thị trường bốn, thị trường lao động, thị trường cơng nghệ... Vì vậy, khi sử dụng tín dụng, ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác tăng mạnh. Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đủ sức tham gia một cách có hiệu quả vào sự phân cơng và hợp tác quốc tế. Chình chính vì những tác dụng to lớn đó, toàn diện đã nêu ở trên, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III đến Đại hội đại biểu tồn quốc lần thờ 1X, Dàng ta ln xác định: cơng nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nước ta. Đồng thời, qua mỗi lần Đại hội, Đảng ta lại nhận thức sâu thêm và cụ thể thêm nhiệm vụ này cho thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh của nước ta trong từng thời kỳ.

1.3. Mục tiêu cơng nghiệp hóa, hiện đại hố

Mục tiêu dài hạn của cơng nghiệp hóa, hiện đại hoa là: "xây dựng nước ta thành một nước cơng nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp 11, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tình thần cao, quốc phịng, an ninh, vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh.

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

Mục tiêu trung hạn là từng bước thực hiện thành công mục tiêu lâu dài trên. Căn cứ vào yêu cầu phát triển đất nước và khả năng thực tế của đất nước, mục tiêu cơng nghiệp hố, hiện đại hoá của nước ta là “tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại". Nước công nghiệp là nước có nền kinh tế trong đó lao động cơng nghiệp trở thành phố biển trong các ngành và các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế cả về GDP và cả về lực lượng lao động trội hơn so với nông nghiệp.

1.4. Quan điểm của Đảng ta về công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Bước vào thời kỳ đổi mới, trên cơ sở phân tích khoa học các điều kiện trong nước và quốc tế, Đảng ta nêu ra những quan điểm mới chỉ đạo quả trình thực hiện cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện mới. Những quan điểm này được Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VII nêu ra và được phát triển, bổ sung qua các Đại hội VIII, IX, X, XI của Đảng. Dưới đây khái quát lại những quan điểm cơ bản của Đảng về cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa thời kỳ đổi mới:

Một là, cơng nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa và cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.

Từ thế kỷ XVII, XVIII, các nước Tây Âu đã tiến hành cơng nghiệp hóa. Khi đó, cơng nghiệp hóa được hiểu là q trình thay thế lao động thủ cơng bằng lao động sử dụng máy móc. Nhưng trong thời đại ngày nay. Đại hội X của Đảng nhận định: " Khoa học và cơng nghệ sẽ có bước tiên nhảy vọt và những đột phá lớn". Kinh tế tri thức có vai trị ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại tác động sâu rộng tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Bên cạnh đó, xu hội nhập và tác động của q trình tồn cầu hóa đã tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với đất nước. Trong bối cảnh đó, nước ta cần phải và có thể tiến hành cơng nghiệp hóa theo kiểu nút ngắn thời gian khi biết lựa chọn con đường phát triển kết hợp cơng nghiệp với hiện đại hóa. Nước ta thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa khi trên thế giới kinh tế tri thức t phát triển. Chúng có thể và cần thiết không trải qua các bước phát triển tuần tự tử kinh nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp rồi mới phát triển kinh tế tri thức. Đó là lợi thế của các móc đi sau, khơng phải là nóng või duy ý chí. Vì vậy, Đại hội X của Đảng chỉ rõ: đầy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa gần với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế trí thức là u tơ quan trọng của nền kinh tế và của cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh thêm: "thực hiện cơng nghiệp hóa, hiện nước gần với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp. dịch vụ".

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

Hai là công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.

Khác với cơng nghiệp hóa ở thời kỳ trước đổi mới, được tiến hành trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, lực lượng làm cơng nghiệp hóa chỉ có Nhà nước, theo kế hoạch của Nhà nước thơng qua các chỉ tiêu pháp lệnh. Thời kỳ đổi mới, cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa được tiến hành trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều thành phần Do đó, cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa khơng phải chỉ là việc của Nhà nước mà là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo. Ở thời kỳ trước đổi mới, phương thức phân bổ nguồn lực để cơng nghiệp hóa được thực hiện bằng cơ chế kế hoạch hóa tập trung của Nhà nước, còn ở thời kỳ đổi mới được thực hiện chủ yếu bằng chế thị trường. Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn co với phát triển kinh tế thị trường khơng những khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực trong nền kinh tế, mà còn sử dụng chúng có hiệu quả để đẩy nhanh q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bởi vì, khi đầu tư vào lĩnh vực nào, ở đâu, quy mô thế nào, cơng nghệ gì đều địi hỏi phải tính toán, căn nhắc kỹ càng, hạn chế đầu tư tràn lan, sai mục đích, kém hiệu quả và lãng phí, thất thốt.

Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế ở nước ta liiện nay diễn ra trong bối cảnh tồn cầu hóa kinh tế, tất yếu phải hội nhập và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, thu hút công nghệ hiện đại, học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của thế giới... sớm đưa nước ta ra khỏi tỉnh trạng kém phát triển. Hội nhập kinh tế quốc tế còn nhằm khai thác thị trường thế giới để tiêu thụ các sản phẩm mà nước ta có nhiều lợi thế, có sức cạnh tranh cao. Nói cách khác, đó là việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phát triển kinh tế nói chung và cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng nhanh hơn, hiệu quả hơn.

Ba là, lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững.

Trong các yếu tố tham gia vào quá trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hỏa, yếu tố con người luôn được coi là yếu tố cơ bản. Để tăng trưởng kinh tế cần 5 yếu tố chủ yếu là: vốn, khoa học và công nghệ; con người; cơ cấu kinh tế; thể chế chính trị và quản lý nhà nước, trong đó con người là yếu tố quyết định. Để phát triển nguồn lực con người đáp ứng u cầu của cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cần đặc biệt chủ ý đến phát triển giáo dục, đào tạo. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của tồn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó lực lượng cán bộ khoa học và công nghệ, khoa học quản lý cũng như đội ngũ công nhân lành nghề giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Nguồn nhân lực của cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa địi hỏi phải đủ số lượng, cân đối về cơ cấu và trình độ, có khả năng nắm bắt và sử dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới và có khả năng sáng tạo cơng nghệ mới. Đại hội XI chỉ rõ: "Phát triển và nâng chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mơ hình tăn trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả bền vững".

Bốn là, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Khoa học và cơng nghệ có vai trị quyết định đến tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, nâng cao lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung. Nước ta nên là chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế kém phát triển và tiềm lực khoa học, công nghệ cịn trình độ thấp. Muốn đẩy nhanh q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức thì phát triển khoa học và công nghệ là yêu cầu tất yếu và bức xúc. Phải đầy mạnh việc chọn lọc nhập công nghệ, mua sáng chế kết hợp với phát triển công nghẹ nội sinh để nhanh chóng đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ vật liệu mới.

Năm là, phát triển nhanh và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hỏa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta thực chất là nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Để thực hiện mục tiêu đó, trước hết kinh tế phải phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Chỉ như vậy mới có khả năng xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, rử ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các vùng... Mục tiêu đó thể hiện sự phát triển vì cơm người, mọi con người đều được hưởng thành quả của phát triển.

1.5. Chủ trương của Đảng chuyển đất nước sang thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố

Đại hội XIII của Đảng đã nêu ra nhiều quan điểm và chủ trương mới trong đường là phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI. Trái với những luận điệu cố tỉnh phủ nhận những điểm mới trong văn kiện Đại hội, tư duy, quan điểm, chủ trương về cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa thật sự là sự kế thừa và phát triển ngang tầm với thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Cơng nghiệp hóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của q trình phát triển vì nó đưa cả nền sản xuất vật chất và đời sống văn hóa - xã hội của đất nước lên trình độ mới. Đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, cơng nghiệp hóa có vai trị tạo điều kiện, tiền để vật chất - kỹ thuật cho chế độ xã hội chủ nghĩa. Ở mỗi thời kỳ lịch sử, căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội, cơng nghiệp hóa có nội dung và bước đi cụ thể, phù hợp. Đổi với Việt Nam, khi chính thức bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng chủ trương tiến

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

hành cơng nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, và từ cuối thế kỷ XX đến nay, quá trình này được xác định đầy đủ là cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đó là một q trình kinh tế, kỹ thuật - cơng nghệ và kinh tế - xã hội tồn diện, sâu rộng nhằm chuyển đổi nền sản xuất và xã hội Việt Nam từ trình độ nơng nghiệp lạc hậu lên trình độ cơng nghiệp với các trình độ cơng nghệ ngày càng tiên tiến, hiện đại, văn minh.

Trên cơ sở tổng kết cơng cuộc cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX đến nay và bám sát bối cảnh, yêu cầu, nhiệm vụ mới, Đại hội XIII của Đảng nêu rõ chủ trương: “Tiếp tục đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố trên nền tảng của tiến bộ khoa học, cơng nghệ và đổi mới sáng tạo".

Để tiến lên trình độ cơng nghiệp hóa ngày càng cao, mỗi quốc gia nhất thiết phải có một số ngành xản xuất cơng nghiệp nền tảng, mà thiếu chúng thì khơng thể triển khai các ngành công nghiệp khác. Các ngành luyện kim, cơ khí, chế tạo, năng lượng, hóa chất... chính là những nền tảng cho các ngành cơng nghiệp khác có điều kiện, tiền đề xây dựng, phát triển. Trên thực tế, khơng ít quốc gia đã khơng dành sự quan tâm ở tầm chiến lược cho các ngành công nghiệp này. Hệ quả trực tiếp là nền sản xuất công nghiệp quốc gia về cơ bản dừng lại ở trình độ lắp ráp và các ngành công nghiệp phụ trợ cũng không thể phát triển, nền công nghiệp quốc gia ngày càng lép vế trước các cơ sở công nghiệp FDI. Trước thực trạng này, Đại hội XIII xác định: “Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh. Tập trung phát triển những ngành công nghiệp nền tảng, nhất là cơng nghiệp cơ khí, chế tạo, cơng nghiệp hỗ trợ”. Trong thế giới ngày nay, q trình cơng nghiệp hóa của mỗi quốc gia khơng thể tiến hành biệt lập, khép kín mà phải đặt trong chuỗi sản xuất - kinh doanh toàn cầu. Đối với Việt Nam, đòi hỏi này trở nên bức thiết gấp bội vì nền kinh tế nước ta đã hội nhập rất sâu với nền kinh tế thế giới: giá trị tổng kim ngạch xuất nhập khẩu bằng 160-200% GDP trong những năm vừa qua. Trên ý nghĩa rất lớn, q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta cũng là quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo lợi thế cạnh tranh; đảm bảo tự chủ kinh tế quốc gia thông qua đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất - kinh doanh. Để định hướng cho quá trình chuyển đổi quan trọng này. Đại hội XIII chỉ rõ: “Cơ cấu lại cơng nghiệp, nâng cao trình độ công nghệ, đẩy mạnh chuyển đổi sang công nghệ số, nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế, có khả năng tham gia sâu, có hiệu quả vào các chuỗi giá trị toàn cầu". Đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Việt Nam đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa theo phương châm hướng xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu ở những lĩnh vực, mặt hàng có lợi thế. Q trình này đã góp phần đem lại cho đất nước những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tuy nhiên, như Đại hội XIII kiểm điểm: “cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa đạt được mục tiêu đề ra".

Với tính cách thị trường thương mại, thế giới ngày nay đã bị các hiệp định thương mại tự do, nhất là các hiệp định thế hệ mới biến thành một thị trường liên hoàn, thổ ng nhất. Ở đó, đã và sẽ nhanh chóng mất đi sự phân biệt giữa thị trường quốc nội và thị trường quốc tế Trong bối cảnh mới như vậy, các mơ hình cơng nghiệp hỏa nêu trên hiển nhiên là khơng cịn chỗ đứng.

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

Việt Nam cũng như các quốc gia khác, rất cần xác định mới mơ hình cơng nghiệp hỏa, vừa thích ứng với chuỗi giá trị tồn cầu, cách mạng cơng nghiệp lần thứ tư.... vừa phủ hợp với điều kiện, mục tiêu, yêu cầu của nước nhà. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 được thông qua tại Đại hội XIII nêu rõ mơ hình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kỳ mới: “Tiếp tục đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những thành tựu công nghệ của cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đẩy mạnh phát triển một số ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế và còn dư địa lớn để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp. tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực, thế giới”.

Một số ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ mới, công nghệ cao được xác định là những ưu tiên phát triển bao gồm: công nghệ thông tin và truyền thông, công nghiệp điện từ -viễn thông, công nghiệp sản xuất rô-bốt, ô tô, thiết bị tích hợp vận hành tự động, điều khiển từ xa, công nghiệp sản xuất phần mềm, sản phẩm số, công nghiệp an tồn thơng tin, cơng nghiệp dược phẩm, sản xuất chế phẩm sinh học, công nghiệp môi trường, công nghiệp năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, năng lượng thông minh, công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nơng nghiệp và vật liệu mới...

Có thể khái qt, với tầm nhìn chiến lược, bám sát nền sản xuất cơng nghiệp và kinh tế công nghiệp của thế giới hiện đại, Đại hội XIII của Đảng đã kế thừa và bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương tiếp tục đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước từ nay đến giữa thế kỷ XXI. Đây là cơ sở quan trọng hàng đầu để Chính phủ và các cấp, các ngành xây dựng những chính sách cụ thể, kịp thời và hiệu quả nhằm hoàn thành mục tiêu đất nước có nền cơng nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2025 và có nền cơng nghiệp hiện đại vào năm 2030.

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

<b>CHƯƠNG HAI</b>

<b>TỈNH TẤT YÊU PHẢI THỰC HIỆN CƠNG NGHIỆP HỐ, HIỆN ĐẠIHỐ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI</b>

2.1. Tầm quan trọng của cơng nghiệp hố, hiện đại hố với sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta:

Nền kinh tế của nước ta trong quá trình phát triển gặp rất nhiều khó khăn: chịu sự tăn phá nặng nề của chiến tranh, sự chủ quan ỷ lại của lãnh đạo trong khôi phục kinh tế sau chiến tranh bằng máy móc dập khn mơ hình kinh tế Liên Xô cũ. Bởi vậy, trong một thời gian nền kinh tế nước ta lâm vào tình trạng trì trệ và lạc hậu. Sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa lại được tiến hành sau một loạt nước trong khu vực và trên thế giới. Đó là một khó khăn và thiệt thịi lớn nhưng đồng thời nó cũng tạo ra cho chúng ta những thuận lợi nhất định. Khó khăn là trang thiết bị của chúng ta đã bị lạc hậu đến 40, 50 năm so với các nước tiên tiến trên thế giới. Còn thuận lợi được thể hiện trước hết ở chỗ thôn qua những kinh nghiệm thành công và không thành công của các nước trong khu vực và trên thế giới, chúng ta có thể rút ra những bài học bổ ích cho sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Từ chủ nghĩa tư bản hay từ trước chủ nghĩa tư bản quá độ lên chủ nghĩa xã hội xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan, một quy luật kinh tế mang tính phổ biến và được thực hiện thơng qua cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Đối với các nước quả độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, đã có cơng nghiệp, có cơ sở vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa tư bản tiến độ đến đầu cũng chỉ là những tiên để vật chất chứ chưa phải là cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, các nước này phải thực hiện quy luật nói trên bằng cách tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa về quan hệ sản xuất, tiếp thu vận dụng và phát triển cao hơn những thành tựu khoa học-công nghệ vào sản xuất, hình thành kinh tế mới xã hội chủ nghĩa có trình độ cao và tổ chức, sắp xếp lại nhân đại công nghệ tư bản chủ nghĩa một cách hợp lý hiệu quả hơn.

2.2. Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa là một tất yếu khách quan:

</div>

×