Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (677.66 KB, 51 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b>Chương 1: Cơ sở lý thuyết về tồn cầu hố và tự do hóa dịng chảy vốn...</b>
1.1. Tồn cầu hóa...
1.1.1. Khái niệm...
1.1.2. Nội dung của tồn cầu hóa...
1.2. Tự do hóa dịng chảy vốn...
1.2.1. Khái niệm...
1.2.2. Ngun nhân hình thành dịng chảy vốn đầu tư quốc tế...
1.2.3. Xu hướng dòng vốn đầu tư quốc tế hiện nay...
1.3. Những ảnh hưởng tới đầu tư của các quốc gia bởi xu thế tồn cầu hố và tự do hóa dịng chảy vốn đầu tư...
1.3.1. Đối với nước đi đầu tư...
1.3.2. Đối với nước nhận đầu tư...
<b>Chương 2: Thực trạng ảnh hưởng của tồn cầu hố và tự do hóa dịng chảy vốn đến đầu tư tại Việt Nam giai đoạn 2018-2023...</b>
2.1. Tác động chung của xu thế tồn cầu hố tới Việt Nam...
2.2. Sự cần thiết, ngun tắc và cơ sở trong tham gia quan hệ đầu tư quốc tế của Việt Nam...
2.3. Một số chính sách của Nhà nước từ khi đất nước thực hiện mở cửa kinh tế...
2.3.1. Một số chính sách của Việt Nam với dịng chảy vốn...
2.3.2. Các chính sách đối ngoại...
2.3.3. Việt Nam trong cuộc chiến giành FDI...
2.4. Thực trạng thu hút đầu tư nước ngồi và chuyển giao cơng nghệ tại Việt Nam giai đoạn 2010 - 2022...
2.4.1. Hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam...
2.4.2. Hoạt động tư ra nước ngoài...
2.5. Những tác động của hoạt động đầu tư nước ngoài và tự do hóa dịng chảy vốn tại Việt Nam...
2.5.1. Tác động khi Việt Nam là nước nhận đầu tư...
2.5.2. Tác động khi VN đi đầu tư ở nước ngoài...
<b>Chương 3: Giải pháp tăng cường tác động tích cực và giảm thiểu tác động tiêu cực của tồn cầu hố, tự do hóa dịng chảy vốn đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam...</b>
3.1. Giải pháp tăng cường tác động tích cực của tồn cầu hố, tự do hóa dịng chảy vốn đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam...
3.2. Giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của toàn cầu hố, tự do hóa dịng chảy vốn đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam...
<i>Theo nghĩa rộng, toàn cầu hóa là một hiện tượng, một q trình, một xu thế liên</i>
kết trong quan hệ quốc tế làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau về nhiều mặt của đời sống xã hội (từ kinh tế, chính trị, an ninh, văn hóa đến mơi trường...) giữa các quốc gia.
<i>Theo nghĩa hẹp, tồn cầu hóa chỉ q trình hình thành thị trường toàn cầu làm tăng</i>
sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia.
Trong lĩnh vực kinh tế, tồn cầu hóa được dùng để chỉ việc dỡ bỏ hoặc cắt giảm các rào cản giữa các quốc gia giúp cho quá trình lưu thơng hàng hóa, vốn, dịch vụ và lao động xun biên giới được dễ dàng hơn.
1.1.2. Nội dung của toàn cầu hóa
Nội dung của tồn cầu hố được thể hiện thơng qua nhiều biểu hiện tùy thuộc vào các góc độ tiếp cận cụ thể khác nhau. Nếu tiếp cận tồn cầu hóa với góc nhìn và quan sát chung thì tồn cầu hóa biểu hiện theo ba biểu hiện sau đây, đó là:
<i>Thứ nhất, tồn cầu hóa thể hiện qua sự gia tăng ngày càng mạnh mẽ của các luồng</i>
giao lưu quốc tế về hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất như vốn, công nghệ, nhân cơng... Có thể nói thương mại quốc tế là thước đo đầu tiên của mức độ tồn cầu hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau của các nước. Khi các nước trao đổi hàng hóa và dịch vụ cho nhau đó cũng chính là q trình các nước xóa nhịa dần sự biệt lập giữa các nền kinh tế quốc gia. Thương mại thế giới đã tăng lên nhanh chóng. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và sự di chuyển tư bản (vốn và tiền tệ) giữa các nước là một yếu tố ngày càng quan trọng đối với từng nền kinh tế quốc gia nói riêng và tồn bộ nền kinh tế thế giới nói chung. Các luồng FDI có tốc độ tăng nhanh hơn cả mức tăng của thương mại hàng hóa và dịch vụ quốc tế, đóng góp quan trọng vào sự phát triển của tồn cầu hóa.
<i>Thứ hai, tồn cầu hóa thể hiện qua sự hình thành và phát triển các thị trường thống</i>
nhất trên phạm vi khu vực và toàn cầu. Trong thời gian nửa đầu của thập kỷ 1990,
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">theo thống kê của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) có tới 33 thỏa thuận liên kết kinh tế khu vực dưới dạng các thỏa thuận thương mại ưu đãi, khu vực mậu dịch tự do, liên minh thuế quan, liên minh kinh tế được ký kết, nhiều gấp 3 lần số lượng các thỏa thuận được ký trong thập kỷ 1980 và bằng gần 1/3 tổng số các thỏa thuận liên kết khu vực được ký trong giai đoạn 1947-1995. Riêng trong giai đoạn từ 2000-2008, có trên 140 thỏa thuận liên kết khu vực đã được thông báo cho WTO. Cùng với các thỏa thuận trên, nhiều tổ chức hợp tác kinh tế đa phương thế giới và khu vực đã ra đời, ngày càng được tăng cường về số lượng và cơ chế tổ chức. Trên phạm vi toàn cầu, ngoài các tổ chức kinh tế - tài chính được thành lập trước đây như hệ thống các tổ chức thuộc Liên Hợp quốc, năm 1995, trên cơ sở Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã được hình thành, chiếm tới trên 90% tổng giá trị thương mại thế giới. Ở phạm vi khu vực, các tổ chức và cơ chế liên kết kinh tế cũng được tăng cường.
<i>Thứ ba, tồn cầu hóa thể hiện qua sự gia tăng số lượng, quy mô và vai trị ảnh</i>
hưởng các cơng ty xun quốc gia tới nền kinh tế thế giới. Theo số liệu của UNCTAD, năm 1998 có 53.000 cơng ty xun quốc gia với 450.000 công ty con ở nhiều nước khác nhau trên thế giới. Hiện nay trên thế giới có khoảng 200.000 cơng ty xuyên quốc gia, các công ty xuyên quốc gia chi phối và kiểm soát trên 80% thương mại thế giới, nguồn vốn đầu tư trực tiếp ở nước ngoài và 9/10 kết quả⅘ nguồn vốn đầu tư trực tiếp ở nước ngoài và 9/10 kết quả nghiên cứu chuyển giao công nghệ trên thế giới. Hệ thống dày đặc các công ty xuyên quốc gia này không những đã tạo ra một bộ phận quan trọng của lực lượng sản xuất thế giới mà còn liên kết các quốc gia lại với nhau ngày càng chặt chẽ hơn, góp phần làm cho q trình tồn cầu hóa trở nên sâu sắc hơn bao giờ hết
1.2. Tự do hóa dịng chảy vốn 1.2.1. Khái niệm
Dịng chảy vốn (hay tài khoản vốn): là một bộ phận của cán cân thanh toán của một quốc gia, ghi lại các giao dịch về vốn và các tài sản đặc biệt gồm tài sản không phải là tài sản tài chính và khơng được sản xuất. Mục đích chính của tài khoản vốn là chuyển giao vốn.
Tự do hóa tài khoản vốn: Tự do hóa tài khoản vốn được định nghĩa là một quá trình tháo dỡ rào cản pháp lý và hành chính tới mức tự do mà chủ thể kinh tế có thể chuyển tuyên bố quyền sở hữu vốn qua các biên giới quốc gia.
1.2.2. Nguyên nhân hình thành dịng chảy vốn đầu tư quốc tế
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">Đầu tư quốc tế là quá trình trong đó có sự di chuyển vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác để thực hiện các dự án đầu tư nhằm đem lại lợi luận và những mục tiêu xã hội nhất định. Sự hình thành dịng chảy vốn đầu tư quốc tế bắt nguồn từ các nguyên nhân chính sau đây:
- Q trình tồn cầu hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ tạo nên môi trường thuận lợi cho sự di chuyển các nguồn lực, trong đó có sự đầu tư, giữa các nước.
- Trình độ phát triển không đồng đều của lực lượng sản xuất và phân bố không đều giữa các yếu tố sản xuất.
- Do sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật được thể hiện rõ nét trên hai phương diện: Nhu cầu vốn cho phát triển Khoa học kỹ thuật ngày càng lớn và Vòng đời công nghệ ngày càng bị rút ngắn lại.
- Đầu tư quốc tế để tránh hàng rào bảo hộ mậu dịch xâm nhập và sự bành trướng sức mạnh của các công ty xuyên quốc gia (TNCs).
- Đầu tư quốc tế là một hình thức quan trọng nhằm nâng cao uy tín quốc tế và thực hiện các mục đích chính trị – xã hội dựa trên vị thế về kinh tế – tài chính.
- Đầu tư ra nước ngồi nhằm tận dụng tối đa lợi ích từ các chính sách thuế và tìm cơ hội tối thiểu hoá rủi ro so với đầu tư trong nước.
1.2.3. Xu hướng dòng vốn đầu tư quốc tế hiện nay
Sự dịch chuyển của dịng vốn đầu tư thế giới đang có những thay đổi về tăng trưởng và địa lý. Rủi ro địa chính trị đã trở thành yếu tố chủ yếu quyết định xu hướng của dòng vốn này.
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">Sự bất định của kinh tế thế giới sau cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu và đại dịch Covid-19, cùng với những biến động địa chính trị đã dẫn đến sự xuất hiện của những xu hướng mới trong dòng vốn đầu tư quốc tế. Tăng trưởng kinh tế suy giảm, q trình tồn cầu hóa chậm lại và sự bất ổn gia tăng về kinh tế và địa chính trị - tất cả những điều này đã kéo theo sự đảo ngược của các xu hướng đã định hình trước đây.
Nếu trong những thập kỷ trước, tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư thế giới luôn theo kịp hoặc nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP tồn cầu thì thập kỷ vừa qua và hiện nay đang diễn ra điều trái ngược. Theo đó, lượng vốn đầu tư trên thế giới từng giảm mạnh do cuộc khủng hoảng toàn cầu năm 2008, đến nay vẫn chưa đạt được những giá trị của giai đoạn trước khủng hoảng (7,4 nghìn tỷ USD năm 2022 so với 10,3 nghìn tỷ USD năm 2007).
<i>Sự ln chuyển dịng vốn đầu tư quốc tế: Sự luân chuyển vốn quốc tế là hoạt động </i>
đầu tư và tiếp đến là đưa vốn ra nước ngồi. Theo phương pháp cán cân thanh tốn được IMF áp dụng, sự luân chuyển dòng vốn quốc tế bao gồm nhiều hình thức - đầu tư trực tiếp và gián tiếp, các cơng cụ tài chính phái sinh, những khoản đầu tư khác (cho vay, tín dụng, tiền gửi ngân hàng), cũng như sự luân chuyển của các khoản dự trữ chính thức (vàng và ngoại tệ, quốc tế). Tuy nhiên, khi phân tích sự luân chuyển của các dòng vốn đầu tư quốc tế, dự trữ chính thức thường khơng được xem xét do sự khác biệt về mục đích kinh tế của hình thức này (nó được tạo ra, trước tiên, để bảo hiểm cho các rủi ro kinh tế vĩ mô).
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">Số liệu về đầu tư trực tiếp nước ngoài cho thấy khoảng cách địa chính trị và địa lý - đó là xu hướng của vốn đầu tư vào các quốc gia đồng minh hoặc gần gũi về mặt địa lý - tăng mạnh kể từ năm 2014, tức là thời điểm mà số lượng xung đột vũ trang trên thế giới bắt đầu gia tăng.
Sự phân cách này được khuyến khích bởi chính phủ của nhiều nước và chủ yếu nhằm gia tăng tính bền vững của chuỗi giá trị tồn cầu. Để thực hiện điều này, một số sáng kiến đã được triển khai như reshoring (đưa các cấu phần hoặc toàn bộ các chuỗi giá trị nêu trên về gần - near-shoring, hoặc chính nơi chúng được tạo ra) hoặc friend-shoring (đưa các chuỗi giá trị sang các quốc gia thân hữu).
Từ giữa thập kỷ trước, các biện pháp được áp dụng đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngồi tồn cầu mang tính hạn chế nhiều hơn là khuyến khích.
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">Trong cùng kỳ, số lượng các quốc gia thực hiện biện pháp sàng lọc đầu tư trực tiếp nước ngồi vì mục đích an ninh quốc gia bắt đầu tăng lên. Nếu năm 1995 chỉ có 3 nước thì đến năm 2022, con số này đã tăng lên 37, trong đó có đến 28 nước phát triển, gồm đa số các nước thuộc EU, Mỹ, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia. Nhìn chung, điều này có thể được hiểu như một phần của chiến dịch trừng phạt được thực hiện bởi các nước phát triển với vai trò nhà đầu tư chủ yếu nhằm vào nhiều quốc gia đang phát triển. Theo số liệu của IMF, chỉ riêng tỷ lệ các pháp nhân bị trừng phạt tài chính đã tăng lên từ 22% năm 2010 lên thành 57% năm 2022.
<i>Phân bổ địa lý của luân chuyển vốn đầu tư quốc tế: Phần lớn hoạt động đầu tư vốn</i>
trên thế giới vẫn đến từ tỷ trọng đầu tư nội bộ các nước phát triển, trong khi tỷ trọng của các nước đang phát triển tăng từng bước (theo tính tốn của IMF, từ 10% lên 19% và từ 9% lên 23% tương ứng trong giai đoạn 2000-2021), cùng với mức giảm tỷ trọng tương ứng của các nước phát triển. Tuy nhiên, cả hai danh sách đều có sự thay đổi về nhóm quốc gia đứng đầu của hoạt động luân chuyển dòng vốn đầu tư.
Từ năm 1990 đến năm 2021, trong nhóm các nước phát triển, Mỹ ln giữ vị trí dẫn đầu về vốn đầu tư ra nước ngoài, nhưng các nước từng xếp sau là Đức, Pháp, Anh, Bỉ, Hà Lan và Luxemburg đã bị thế chỗ bởi những “con hổ châu Á” đã ra nhập các quốc gia phát triển (Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore ) và Ireland (nơi đặt trụ sở của phần lớn các tập đoàn đa quốc gia của Mỹ tại châu Âu), cịn Nhật Bản đã đánh mất vị trí quốc gia đầu tư ra nước ngồi hàng đầu. Trong nhóm các nước đang phát triển, Trung Quốc nổi lên như quốc gia dẫn đầu không cần bàn cãi về đầu tư ra nước ngoài, khi bỏ xa các nước xếp sau là Ấn Độ, Nga, Brazil và Ả Rập Xê Út. Xu hướng thay đổi của các nước dẫn đầu cũng tương tự diễn ra đối với hoạt động tiếp nhận đầu tư nước ngoài.
<i>Đầu tư vốn vào các nước đang phát triển: Hạn chế chủ yếu đối với dòng vốn nước</i>
ngoài đầu tư vào các nước đang phát triển là những rủi ro kinh tế và chính trị cao hơn so với các nước phát triển. Theo quan điểm của các lãnh đạo quản lý cấp cao đến từ các công ty hàng đầu phương Tây, trong năm 2023, Trung Quốc (cùng với Hồng Kông), nền kinh tế lớn nhất và tăng trưởng nhanh nhất thế giới, chỉ đứng thứ 7 về mức độ hấp dẫn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tiếp đến là Ấn Độ - xếp thứ 16, Ả Rập Xê Út - xếp thứ 24.
Thêm một xu hướng đáng chú ý khác trong những năm gần đây chính là hoạt động hợp tác quốc tế ngày càng tăng, nhằm đẩy mạnh kiểm soát hành vi trốn thuế thông
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">qua các pháp nhân nước ngồi. Một trong số những ngun nhân chính là việc đa số các nước đều không chấp nhận một phần đáng kể các khoản lợi nhuận đầu tư được chuyển ra nước ngoài và các nước thiên đường thuế.
Nếu căn cứ từ việc các dòng vốn đầu tư quốc tế luân chuyển trên khắp thế giới vẫn tiếp tục được xác định bởi GDP tại các quốc gia đầu tư và tiếp nhận đầu tư chủ yếu, các dòng vốn này sẽ tiếp tục tụt lại phía sau so với tăng trưởng thương mại tồn cầu, cịn căng thẳng địa chính trị trên thế giới khơng hạ nhiệt, hồn tồn có thể dự báo rằng dịng vốn đầu tư trong những năm tới đây sẽ duy trì quanh mức của giai đoạn 2021-2022.
Trên cơ sở sự phân mảnh đang tiếp diễn của kinh tế thế giới, có thể dự báo, tỷ trọng dòng vốn đầu tư ra và vào của các nước phát triển sẽ tăng nhẹ và tỷ trọng từng tăng trước đây của các nước đang phát triển sẽ giảm bởi rủi ro ngày càng nhiều hơn theo quan điểm của các nhà đầu tư phương Tây và điều này sẽ không thể bù đắp được bằng những dòng vốn đầu tư nội bộ.
1.3. Những ảnh hưởng tới đầu tư của các quốc gia bởi xu thế toàn cầu hố và tự do hóa dịng chảy vốn đầu tư
1.3.1. Đối với nước đi đầu tư a. Tác động tích cực
Việc tồn cầu hóa và tự do hóa dịng chảy vốn đầu tư mang lại lợi ích sau:
Giúp nhà đầu tư dễ dàng tận dụng được cơ hội về lợi thế chi phí sản xuất thấp của nước nhận đầu tư. Điều đó đến từ việc nhà đầu tư có thể th được nguồn nhân cơng giá rẻ và khai thác nguyên vật liệu tại chỗ nên tiết kiệm được nhiều chi phí khác, từ đó mà có thể hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận.
Nhà đầu tư mang máy móc, thiết bị tường chừng là lỗi thời ở nước họ thì khi mang ra các nước kém phát triển, các trang thiết bị đó lại có giá trị sử dụng cao, cơng nghệ mới. Điều đó cho phép các cơng ty có thể kéo dài chu kỳ sống ra của những máy móc đó và gia tăng dịng vốn.
Khơng chỉ vậy, việc nhà đầu tư đầu tư trực tiếp ra nước ngồi hay chính là nguồn vốn FDI sẽ giúp tạo dựng được thị trường rộng lớn hơn đồng thời tiếp cận và hỗ trợ các ngành công nghiệp mới đang phát triển. Hơn nữa, nhà đầu tư không chỉ tận dụng được những nguồn cung cấp nguyên liệu dồi dào, ổn định và giá rẻ, lại vừa
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">cho phép chủ đầu tư bành trướng sức mạnh về kinh tế hay thậm chí là giữ vị thế và gia tăng sức mạnh chính trị
Việc tham gia tồn cầu hóa là cơ hội giúp các nước ở nền kinh tế mạnh phát triển được canh tranh, đồng thời liên kết phát triển với nhau, tăng cường quan hệ hợp tác để ngày càng củng cố phát triển quyền lực trong thời gian, dài.
Trong bối cảnh tồn cầu hóa và tự do dịch chuyển dịng vốn, hầu hết quốc gia đi đầu và nhà đầu tư nước ngồi đều phải liên tục thích ứng với môi trường kinh doanh đang biến động liên tục, qua đó họ có thể tận dụng được các cơ hội đầu tư và giảm thiểu rủi ro.
b. Những ảnh hưởng tiêu cực
Bên cạnh những cơ hội có thể nhận được khi nhà đầu tư thực hiện cơ chế toàn cầu hóa và dịch chuyển tự do nguồn vốn vẫn cịn 1 số hạn chế mà nhà đầu tư có thể gặp sau:
Rủi ro về chính trị: Mơi trường chính trị không ổn định hoặc thay đổi tại nước nhận đầu tư có thể tạo ra rủi ro cho các doanh nghiệp FDI. Biến động chính trị, thậm chí là các cuộc đảo chính, có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và đầu tư của họ.
Rủi ro về pháp lý : Quy định pháp lý và chính sách kinh doanh thường không ổn định hoặc không rõ ràng ở một số quốc gia, làm tăng nguy cơ phát sinh tranh chấp pháp lý và làm giảm tính dự đốn của mơi trường kinh doanh.
Rủi ro tài chính: Biến động tỷ giá, lạm phát và các vấn đề tài chính khác có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận của các nhà đầu tư FDI. Họ cũng có thể phải đối mặt với rủi ro về việc không thể chuyển vốn ra khỏi nước đó nhanh chóng hoặc dễ dàng.
1.3.2. Đối với nước nhận đầu tư a. Những ảnh hưởng tích cực
Cùng với những chính sách tạo điều kiện thuận lợi, đường lối mở cửa và gia tăng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của đồng thời siết chặt mối quan hệ giữa tự do hóa dịng chảy vốn và cơ chế tồn cầu hóa đã tạo điều kiện để Việt Nam tiếp cận với thị trường vốn quốc tế.
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">Với những nỗ lực trên của chính phủ, Việt Nam nhìn chung đã nhanh chóng tiếp cận thành công đến với việc thu hút nguồn vốn lớn từ thị trường vốn FDI quốc tế, mở rộng thị trường xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ cả trong nước và ngoài nước, tiếp thu nền tri thức tân tiến mà từ đó phát triển dựa trên khoa học và công nghệ cao, thu hút lực lượng lao động chất lượng cao trên toàn cầu, thực hiện các tiêu chuẩn về thể chế và pháp lý toàn cầu trong hoạt động kinh tế
Như hầu hết nền kinh tế trong vịng những năm qua, cơ chế tồn cầu hóa kinh tế ln có tác động mạnh mẽ tới giá trị và cơ cấu của dòng vốn FDI thơng qua nhiều kênh như:
<i>Tác động mơi trường FDI tồn cầu, xu hướng tự do hóa mơi trường đầu tư quốctế: Nhờ việc sửa đổi, ra đời hàng loạt các quy định hay hồn thiện dần các văn bản</i>
chính sách pháp luật về các hành lang pháp lý và các thể chế tồn cầu liên quan tới dịng FDI, Đặc biệt là các chính sách ưu đãi trong cơ chế thu hút FDI như nới lỏng hàng rào thuế quan, miễn giảm thuế, trợ cấp đầu tư,.. qua đó giúp Việt Nam tích cực đón nhận được các cơ hội đầu tư lớn từ doanh nghiệp nước ngoài cũng như tạo sức hút mạnh mẽ với dòng vốn FDI chảy vào trong nước.
<i>Tác động của TNC (Transnational Corporation: Công ty xuyên quốc gia): Các</i>
TNC tạo động lực quan trọng đối với sự thu hút vốn FDI thông qua hoạt động đầu tư vào khu vực dịch vụ, vào R&D( nghiên cứu, triển khai) tác động mạnh mẽ đến dòng FDI, tuy nhiên vì cơ sở hạ tầng kém, cơng nghệ còn lạc hậu và nguồn nhân lực chưa đạt chất lượng nên khiến môi trường đầu tư Việt Nam chưa đủ hấp dẫn để thu hút vốn FDI vào khu vực dịch vụ
<i>Tác động của nền kinh tế lớn: Một số nền kinh tế lớn phát triển, đặc biệt là những</i>
nơi có đang sở hữu nguồn vốn nhàn rỗi nên có nhu cầu đầu tư ra bên ngồi. Outsourcing ( hình thức tìm kiếm nguồn lực từ bên ngồi) đang trở nên ngày càng thông dụng đối với nhiều ngành sản xuất. Những ngành này không yêu cầu cao về trình độ học vấn nên giá thuê tương đối rẻ. Mà nguồn nhân lực lao động giản đơn ở các nền kinh tế phát triển lại đang khan hiếm, do vậy các nhà đầu tư sản xuất nước ngoài muốn tìm đến những nền kinh tế kém phát triển hay đang phát triển như Việt Nam hay các nước đông nam á để tận dụng nguồn lao động chi phí thấp để đầu tư vào các ngành cơng nghiệp sản xuất, chế tạo lắp ráp điển hình trong ở lĩnh vực ô tô, xe máy, dệt may, thiết bị, linh kiện điện tử.
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">Tự do hóa dịng chảy vốn và q trình tồn cầu hóa đó đã có những ảnh hưởng tích cực đối với thị trường tài chính. Nó đã mở ra cơ hội để tăng cường quy mô giao dịch, cải thiện phân bổ nguồn vốn, và giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận vốn trong và ngoài nước. Việc mở cửa thị trường tín dụng cũng tạo ra sự linh hoạt cho các doanh nghiệp khi đối mặt với biến động về hàng hóa và lợi nhuận. Đồng thời, điều này thúc đẩy cạnh tranh và nâng cao hiệu quả của hệ thống tài chính, cũng như giúp các nhà đầu tư trong nước đa dạng hóa danh mục đầu tư và giảm rủi ro tài chính.
b. Những ảnh hưởng tiêu cực
<i>Tác động xấu tới môi trường: Việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên tại </i>
nơi các DN FDI rót vốn hay khơng tn thủ quy định an tồn về mơi trường đã để lại nhiều hậu quả nước nhận đầu tư. Ơ nhiễm mơi trường tại Việt Nam cịn tới từ việc các cơng ty nước ngồi đã vì đồng lợi nhuận mà làm trái với quy định pháp luật khi chuyển giao công nghệ lạc hậu, trong đó nhiều máy móc, thiết bị quá cũ hoặc đã hết khấu hao. Việc chuyển giao những công nghệ lạc hậu đã biến Việt Nam trở thành một “bãi thải cơng nghệ, máy móc thiết bị cũ và lạc hậu” do các nhà đầu tư nước ngoài mang vào. Những thiết bị lạc hậu khi được sử dụng đã không tạo được năng suất lao động cao, lại cịn gây ra tình trạng ơ nhiễm mơi trường nước, khơng khí, tiếng ồn và đất.
<i>Hiện tượng chuyển giá: Tại Việt Nam, hiện tượng chuyển giá được thể hiện thông </i>
qua việc: khai tăng giá trị tài sản vốn góp; mua nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào với giá cao nhằm trốn thuế. Một số doanh nghiệp FDI thuộc chi nhánh các công ty đa quốc gia đã lợi dụng sơ hở trong công tác quản lý nhà nước thực hiện việc chuyển giá bằng cách “lỗ công ty con, lãi công ty mẹ” thông qua việc nâng giá đầu vào, hạ giá đầu ra để ăn chênh lệch ngay từ bên ngoài, gian lận thương mại, trốn thuế, lợi dụng độc quyền để đưa giá sản phẩm lên cao hơn giá hàng cùng loại nhập khẩu. Hiện tượng các doanh nghiệp FDI thua lỗ, chuyển giá, trốn thuế là rất phổ biến ở Việt Nam, trong đó nhiều doanh nghiệp kê khai lỗ liên tục 3 năm. Ngồi ra chính sách thuế khó tiên đoán, hay thay đổi và nhiều mức cũng là nguyên nhân của hành vi chuyển giá của doanh nghiệp FDI.
<i>Cơ cấu đầu tư bất hợp lý: Mục đích cơ bản trong kêu gọi nguồn vốn FDI của Việt </i>
Nam là vốn, công nghệ… nhằm tạo cho nền kinh tế phát triển được cân đối và hiện đại. Còn đối với nhà đầu tư nước ngoài là lợi nhuận, nên việc họ đưa vốn vào những nơi mà ta cần là rất ít, vì đó là những lĩnh vực ít mang lại khả năng sinh lợi
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">nhưng lại chứa đựng nhiều rủi ro. Kết quả là dòng vốn FDI đã gây mất cân đối cho nền kinh tế. Sự mất cân đối này được thể hiện trên 3 góc độ: Sự mất cân đối trong FDI vào ba ngành kinh tế công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ; sự mất cân đối trong việc đầu tư vào nội bộ mỗi ngành; sự mất hợp lý trong cơ cấu đầu tư vùng. Ngồi ra, cịn những ảnh hưởng tiêu cực từ dòng vốn FDI khiến gây ra xung đột lợi ích giữa các nhà đầu tư và người lao động; Hiện tượng chảy máu chất xám; sự bất ổn định kinh tế vĩ mơ; Ảnh hưởng về vấn đề chính trị, an ninh nước nhận đầu tư
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16"><b>CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA TỒN CẦU HỐ VÀ TỰDO HĨA DỊNG CHẢY VỐN ĐẾN ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2018-2023</b>
2.1. Tác động chung của xu thế toàn cầu hố tới Việt Nam
Tồn cầu hóa (Globalization) là khái niệm dùng để chỉ một hiện tượng, một xu thế liên kết trong quan hệ quốc tế về số lượng cũng như cường độ các hoạt động, từ đó làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, vừa có thể đem lại sự phát triển, phồn vinh cho nhiều nơi, vừa có thể gây ra nhiều tác động xấu về nhiều mặt như kinh tế, chính trị, văn hóa, pháp lý, …
Trong lĩnh vực kinh tế, để phù hợp với nền kinh tế chung của thế giới, nước ta đã tiến hành đàm phán, ký kết các điều ước, các hiệp ước quốc tế, các hiệp định song phương, đa phương với các quốc gia khác để hình thành nên khung hành lang pháp lý, những cách xử sự chung trong các hoạt động kinh tế. Và để hạn chế bớt các tác động tiêu cực của tồn cầu hố, nước ta đã có các biện pháp thiết thực, tích cực trong phịng chống tội phạm, tăng cường hợp tác với các nước khác trong công tác phịng chống tội phạm quốc tế.
Tồn cầu hố địi hỏi các quốc gia trên thế giới nói chung và VIỆT NAM nói riêng phải cải cách thủ tục hành chính, giảm bớt sự phức tạp, hướng tới xây dựng một hệ thống thủ tục hành chính đơn giản nhưng hiệu quả. Đó là một phần quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội diễn ra một cách hiệu quả, đặc biệt là trong vấn đề thu hút vốn FDI.
Tuy nhiên, tồn cầu hố cũng có những mặt trái của nó. Hầu hết các đạo luật chúng ta thơng qua trong những năm gần đây là nhằm sửa đổi đất nước để phù hợp với thông lệ quốc tế, phải theo khuôn mẫu chung. Bản báo cáo của Ban công tác WTO về VIỆT NAM gia nhập WTO liệt kê rất rõ các cam kết của VIỆT NAM mà nhìn ở 1 góc độ nào đó, là việc thu hẹp sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh. Thậm chí có những cam kết mà để thực hiện thì cần phải sửa đổi nhiều luật lệ. Điển hình như sau cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á 1997, VIỆT NAM bắt đầu yêu cầu doanh nghiệp phải bán doanh thu bằng ngoại tệ cho nhà nước từ năm 1998 nhưng sau đó phải hạ dần tỉ lệ này, xuống còn 50% năm 1999, 40% năm 2001 và còn 0% trong năm 2003. Các nhà đàm phán các nước, xuất phát từ lợi ích của dịng chảy tài chính tự do của các cơng ty đã thu hẹp khả năng chống
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">đỡ của nhà nước, mà nó từng phát huy tác dụng trong cuộc khủng hoảng Tài chính Châu Á 1997.
Bên cạnh đó, vấn đề gìn giữ bản sắc văn hố dân tộc ngày càng trở thành mối quan tâm của nước ta và có xu hướng được coi là một nội dung của khái niệm anh ninh quốc gia. Bởi q trình tồn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế làm tăng giao lưu quốc tế và tính đồng nhất trên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội. Các nền kinh tế mạnh ảnh hưởng đến các nước khác. Nhiều giá trị vốn dĩ xuất phát từ một nước, thông thường là những nước lớn, có nền kinh tế mạnh, được thừa nhận và trở thành những giá trị gần như chung của các xã hội khác nhau. Nhiều giá trị riêng của dân tộc bị xói mất dần phong tục tập qn, làm xói mịn dần bản sắc văn hố dân tộc, và nước ta cũng không ngoại lệ.
2.2. Sự cần thiết, nguyên tắc và cơ sở trong tham gia quan hệ đầu tư quốc tế của Việt Nam
Việt Nam xác lập quan hệ quốc tế trong đầu tư là một yếu tố khách quan, là đòi hỏi bức thiết của đất nước. Sau bao nhiêu năm đấu tranh chống Pháp rồi chống Mỹ, cho đến khi giải phóng hồn tồn miền Nam, thống nhất đất nước. Về cơ bản nền kinh tế lúc bấy giờ của Việt Nam vẫn là nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, sản xuất nhỏ, manh nhún, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, thu nhập bình qn đầu người vào loại thấp nhất thế giới. Việt Nam lúc đó đang cần cần nhiều thứ cho việc khôi phục và phát triển kinh tế, cải thiện đời sống của người lao động.
Những năm đầu sau khi thống nhất đất nước, nền kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng, sản xuất đình trệ, hàng hóa khan hiếm, lạm phát tăng đến 3 con số, tình trạng khơng có việc làm trở nên trầm trọng, đời sống của nhân dân vốn đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Để thốt khỏi tình trạng này, tận dụng thế mạnh của hợp tác quốc tế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước là hết sức cần thiết. Nhà nước Việt Nam cũng đã nhận thức được sự cần thiết phải mở cửa kinh tế và từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 với chính sách mở cửa của Việt Nam được thực hiện. Năm 1987, Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam ra đời.
Các nguyên nhân khiến nước ta cần thiết lập quan hệ quốc tế trong đầu tư có thể nhóm thành những vấn đề sau:
<i>Phát triển kinh tế: Tham gia quan hệ đầu tư quốc tế đóng vai trị quan trọng trong</i>
việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Việt Nam có thể thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">các quốc gia khác, tạo ra việc làm mới, cung cấp công nghệ tiên tiến và khai thác nguồn tài nguyên mà đất nước khơng có. Điều này giúp cải thiện năng suất lao động và tăng cường sức cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường quốc tế.
<i>Truyền tải công nghệ: Tham gia quan hệ đầu tư quốc tế giúp Việt Nam tiếp cận và</i>
học hỏi từ các công nghệ tiên tiến và quy trình quản lý hiện đại. Các cơng ty nước ngồi thường mang theo cơng nghệ tiên tiến và phương pháp sản xuất tiên tiến, và việc hợp tác với họ giúp Việt Nam nâng cao năng lực công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ.
<i>Mở rộng thị trường xuất khẩu: Tham gia quan hệ đầu tư quốc tế giúp Việt Nam</i>
mở rộng thị trường xuất khẩu cho hàng hóa và dịch vụ của mình. Việt Nam có thể sử dụng quan hệ đầu tư quốc tế để tạo ra các liên kết cung ứng toàn cầu và khai thác các thỏa thuận thương mại tự do. Điều này giúp nâng cao khả năng cạnh tranh và tăng cường xuất khẩu, góp phần vào tăng trưởng kinh tế bền vững.
<i>Tăng cường quan hệ ngoại giao: Tham gia quan hệ đầu tư quốc tế giúp Việt Nam</i>
tăng cường quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác. Việc có mối quan hệ chặt chẽ với các nhà đầu tư nước ngoài tạo ra cơ hội để thúc đẩy hợp tác kinh tế và chính trị giữa các quốc gia, đồng thời tăng cường vị thế của Việt Nam trên sân chơi quốc tế.
<i>Đẩy mạnh phát triển hạ tầng: Quan hệ đầu tư quốc tế cung cấp nguồn vốn để đầu</i>
tư vào các dự án hạ tầng quan trọng. Việc xây dựng và nâng cấp hạ tầng giao thông, điện lực, nước sạch và viễn thông là cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh và tăng cường sự phát triển bền vững.
Nhìn chung, tham gia quan hệ đầu tư quốc tế giúp Việt Nam phát triển kinh tế, nâng cao năng lực công nghệ, mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng cường quan hệ ngoại giao và đẩy mạnh phát triển hạ tầng. Điều này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao vị thế của Việt Nam trên thế giới.ở và nguyên tắc
<i>Các cơ sở để xác lập quan hệ quốc tế trong đầu tư của Việt Nam. Để cho việc hợp</i>
tác quốc tế trong đầu tư đạt mục tiêu mong muốn và đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao, Việt Nam cần dựa trên các cơ sở kinh tế sau:
- Yêu cầu phát triển của nền kinh tế
- Khả năng có thể hợp tác về điều kiện vật chất
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">- Các quan điểm của Đảng và Nhà nước được thể hiện trong luật của Việt Nam và các văn bản dưới luật.
<i>Các nguyên tắc cần quán triệt khi xác lập quan hệ quốc tế trong đầu tư của ViệtNam: </i>
- Bình đẳng và 2 bên đều có lợi.
- Bảo vệ độc lập, chủ quyền, an ninh, quốc phòng và mục tiêu tiến lên XHCN của Việt Nam
2.3. Một số chính sách của Nhà nước từ khi đất nước thực hiện mở cửa kinh tế 2.3.1. Một số chính sách của Việt Nam với dịng chảy vốn
Điều kiện tiên quyết để tồn cầu hóa tài chính thành cơng là phải có một khung pháp lý tài chính lành mạnh, đặc biệt là một vị thế tài chính vững chắc; khơng có những biến dạng lớn trong giá cả do chính sách bảo hộ quá mức; phải có một hệ thống ngân hàng nội địa vững mạnh với khuôn khổ pháp lý và cơ chế giám sát hữu hiệu; và có một cơ sở hạ tầng cho việc vận hành một thị trường vốn có hiệu quả. Những điều kiện như thế là những nhân tố quyết định để hội nhập tài chính thành cơng.
Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới trong việc kết hợp các chính sách để đối phó với dịng chảy vốn, thường là rất nóng trong những thời kỳ đầu của q trình hội nhập. Những chính sách đó bao gồm:
<i>Kiểm sốt dịng vốn: Kiểm sốt vốn là một trong những chính sách quan trọng mà</i>
Việt Nam cần phải công khai để cho các nhà đầu tư nắm bắt. Một khi được kết hợp với những chính sách kinh tế vĩ mơ khác, kiểm soát vốn sẽ làm thay đổi một cách hợp lý kết cấu của dòng vốn chảy vào theo hướng chúng ta ngầm khuyến khích các dịng vốn dài hạn.
<i>Ngăn chặn sự đánh giá cao của đồng nội tệ: Đồng nội tệ được định giá quá cao sẽ</i>
dẫn đến thâm hụt mậu dịch do hàng hóa xuất khẩu trên thị trường thế giới của Việt Nam mất tính cạnh tranh. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 có khơng ít ngun nhân từ việc các quốc gia như Thái Lan đã định giá quá cao đồng nội tệ.
<i>Kiểm soát cung tiền để kiểm sốt lạm phát: Chính phủ bằng mọi giá phải kiểm soát</i>
cung tiền để kiểm soát cho bằng được lạm phát. Đồng Việt Nam có khả năng lên giá so với đơ la do làn sóng đầu tư – nhất là làn sóng đầu tư gián tiếp – chảy vào
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cần phải tích cực tham gia trên thị trường ngoại hối để mua vào đồng đô la từ hệ thống các ngân hàng thương mại. Dự trữ ngoại hối quốc gia tăng lên ấn tượng trong thời gian qua (khoảng trên 10 tỷ đơ la) có phần khơng nhỏ từ việc sử dụng cơ chế như thế.
2.3.2. Các chính sách đối ngoại
<i>Về quan hệ hợp tác song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với</i>
hơn 170 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ, ký kết trên 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hóa song phương với các nước và các tổ chức quốc tế.
<i>Về hợp tác đa phương và khu vực: Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các tổ</i>
chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển Á Châu, Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân hàng thế giới. Tháng 7/1995 Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và chính thức tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996.
Đây được coi là một bước đột phá về hành động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Trong những năm gần đây, thế giới đang được chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng của các Hiệp định thương mại tự do (FTA) để thiết lập các Khu vực thương mại tự do. Để phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của thế giới và khu vực, tiến trình đàm phán và ký kết các FTA của Việt Nam đã được khởi động và triển khai cùng với tiến trình gia nhập các tổ chức quốc tế và khu vực. Đến nay, Việt Nam đã tham gia thiết lập FTA với 15 nước trong khung khổ của 6 FTA khu vực, bao gồm ASEAN - Trung Quốc, Hàn Quốc, Úc, New Zealand và Ấn Độ.
Tính đến năm 2020, Việt Nam có 30 đối tác chiến lược và đối tác chiến lược tồn diện; có quan hệ ngoại giao với 189/193 nước, có quan hệ kinh tế với 160 nước và 70 vùng lãnh thổ. Đặc biệt, WTO cùng với hơn hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực, trong đó có 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam tham gia là những cánh cửa lớn, đa chiều để Việt Nam định hướng hoàn thiện khung khổ thể chế phát triển kinh tế thị trường và tự tin hội nhập toàn cầu ngày càng sâu rộng, đầy đủ, hiệu quả hơn.
2.3.3. Việt Nam trong cuộc chiến giành FDI
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">Trong nguy, có cơ, hậu quả do đại dịch gây ra đối với nền kinh tế đất nước chính là cơ hội để Chính phủ đánh giá sức chống chịu, các lĩnh vực dễ bị tổn thương của nền kinh tế và phương thức ứng phó với những bất trắc, từ đó có những giải pháp phù hợp nhằm thu hút và duy trì hiệu quả đầu tư nước ngoài tại Việt Nam phục vụ cho q trình cơng nghiệp hóa đất nước. Chính phủ và các bộ, ngành và địa phương có liên quan đã thực hiện một số giải pháp nhằm “giữ chân” và đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngồi:
<i>Thứ nhất, rà sốt, điều chỉnh kịp thời chính sách đầu tư nước ngoài cho phù hợp và</i>
theo kịp với những biến động, bất trắc của kinh tế toàn cầu và những thay đổi trong chiến lược thu hút FDI của các nước trên thế giới; đồng thời xây dựng lợi thế cạnh tranh trong thu hút đầu tư nước ngoài với điều kiện đầu tư, hệ thống pháp luật minh bạch, dễ dự đoán trên nền tảng phát triển nền kinh tế thị trường kết nối toàn cầu bằng các quy tắc của pháp luật.
<i>Thứ hai, Chính phủ xác định cụ thể danh mục ngành, lĩnh vực cần thu hút đầu tư</i>
nước ngoài và ngành lĩnh vực chỉ các nhà đầu tư trong nước thực hiện. Đặc biệt xây dựng các quy định, tiêu chuẩn như một bộ lọc mới nhằm lựa chọn các nhà đầu tư nước ngoài có cơng nghệ tiên tiến, thân thiện với mơi trường, có năng lực, khả năng chống chịu sức ép từ bên ngoài để giữ vững và bảo đảm an ninh quốc gia của đất nước.
<i>Thứ ba, trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng về kinh tế, thương mại và đầu</i>
tư quốc tế, để tránh các ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm bị các nhà đầu tư nước ngồi kiểm sốt và thâu tóm, Chính phủ đã xác định ngưỡng cho phép nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ cổ phần tại các doanh nghiệp cổ phần hố, đặc biệt cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm xem xét cụ thể các thương vụ M&A lớn
<i>Thứ tư, để không đứt gãy chuỗi cung ứng lao động, Bộ Lao động, Thương binh và</i>
Xã hội phối hợp với các địa phương đã hỗ trợ mạng lưới đào tạo nghề, hỗ trợ doanh nghiệp trong đào tạo và tuyển dụng lao động đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, góp phần đào tạo nâng cao kỷ luật lao động, các kỹ năng mềm, khả năng hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm để lao động Việt Nam vừa có kỹ năng nghề cao và có tính chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu lao động của doanh nghiệp trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0.
2.4. Thực trạng thu hút đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ tại Việt Nam giai đoạn 2010 - 2022
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">2.4.1. Hoạt động đầu tư nước ngồi vào Việt Nam a. Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài
Với lợi thế cạnh tranh về mơi trường đầu tư thơng thống, mơi trường chính trị ổn định, môi trường kinh tế vĩ mô phát triển ổn định, nguồn nhân lực dồi dào với chi phí thấp, Việt Nam là một trong những quốc gia hấp dẫn với nhà đầu tư nước ngoài. Nhờ các lợi thế đó, dịng vốn FDI vào Việt Nam những năm gần đây có xu hướng tăng lên, đặc biệt là sau khi Việt Nam tham gia vào các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương.
Giai đoạn từ năm 2010 – 2014 vốn FDI đăng ký có sự dao động liên tục và tăng nhẹ từ 19,89 tỷ USD năm 2010 lên 21,92 tỷ USD vào năm 2014. Từ sau năm 2015 tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam có sự gia tăng mạnh mẽ và liên tục, với tổng vốn đầu tư vào Việt Nam năm 2015 là 22,7 tỷ USD, thì đến năm 2019 con số này tăng lên 38,95 tỷ USD. Năm 2020 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, nền kinh tế toàn cầu bị ảnh hưởng nghiêm trọng nên vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam có sự sụt giảm, chỉ đạt 28,53 tỷ USD, giảm 25% so với năm 2019. Không chỉ gia tăng về số vốn đăng ký, mà vốn FDI thực hiện cũng tăng cao hơn trong giai đoạn 2015- 2019, từ 14,5 tỷ USD lên 20,38 tỷ USD; số dự án đầu tư đăng ký mới tăng từ 1.843 dự án năm 2015 lên 3.883 dự án năm 2019.
<b>Bảng 1: Số lượng vốn và dự án FDI vào Việt Nam giai đoạn 2016 – 2022</b>
Năm Tổng vốn FDI đăng
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">2022 27,72 22,4 2036
<i><small>(Nguồn: Tổng hợp từ Cục Đầu tư nước ngồi)</small></i>
Năm 2021 đã có những lúc tưởng chừng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài “gục ngã” trước làn sóng dịch Covid-19 lần thứ tư và niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài suy giảm… Tuy thu hút FDI vẫn thấp hơn mức đã đạt được trước đại dịch (năm 2019 đạt 38,95 tỷ USD), nhưng đã vượt 9,2% so năm 2020 với 31,15 tỷ USD. Dịch Covid-19 đã làm vốn FDI thực hiện suy giảm 1,2% (chủ yếu trong quý 3/2021) so với năm 2020, chỉ đạt mức 19,74 tỷ USD. Sự suy giảm này, cộng với suy giảm xuất khẩu trong quý 3/2021 của khu vực doanh nghiệp FDI đã làm tăng trưởng GDP quý 3/2021 giảm 6,02%, để tăng trưởng cả năm chỉ đạt 2,58%.
Năm 2022, tổng vốn FDI đăng kí vào Việt Nam đạt gần 27,72 tỉ USD, mức vốn FDI thực hiện đạt kỷ lục 22,4 tỷ USD, tăng 13,5% so với cùng kì năm 2021. Đây là số vốn FDI thực hiện cao nhất trong 5 năm (2017 - 2022). Tính lũy kế trong giai đoạn 1986 - 2022, Việt Nam đã thu hút được gần 438,7 tỉ USD vốn FDI; trong đó, 274 tỷ USD đã được giải ngân, chiếm 62,5% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.
b. Về lĩnh vực đầu tư:
Trong giai đoạn 2010 – 2020 vừa qua, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19 ngành lĩnh vực, trong đó cơng nghiệp chế biến, chế tạo luôn là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài nhất với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm luôn dao động trong khoảng 13 – 24 tỷ USD, chiếm tỷ lệ phần trăm cao trong tổng số vốn đầu tư đăng ký (40 – 70%). Ngoài ra, các lĩnh vực như kinh doanh bất động sản, bán buôn, bán lẻ hay sản xuất phân phối điện cũng khá nổi bật trong các ngành nhận được nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi. Đáng chú ý, đã có sự gia tăng tỷ trọng vốn đầu tư vào các hoạt động kinh doanh bất động sản với sự có mặt của các tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng như: CapitaLand, Sunwal Group, Mapletree, Kusto Home, … Bên cạnh đó, lĩnh vực sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hịa khơng khí chiếm 6,5% tổng số vốn đăng ký.
Năm 2020, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm nhất của nhà đầu tư nước ngoài với 800 dự án cấp mới, 680 dự án
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">điều chỉnh vốn đầu tư và 1268 lượt góp vốn, mua cổ phần với tổng số vốn là 13,601 tỷ USD, chiếm 47,67% tổng vốn đầu tư. Lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí đốt và hơi nước đứng thứ 2 đạt 5,1426 tỷ USD chiếm 18,03% tổng vốn đầu tư. Hoạt động kinh doanh bất động sản đứng thứ 3 với 4,18495 tỷ USD chiếm 14,67% tổng vốn đầu tư.
Năm 2021, các lĩnh vực đầu tư thu hút được nhiều FDI vẫn là những ngành như: công nghiệp chế biến, chế tạo (với tổng vốn đầu tư đạt trên 18,1 tỷ USD, chiếm 58,2% tổng vốn đầu tư đăng ký); sản xuất, phân phối điện (chiếm 18,3%); kinh doanh bất động sản; bán buôn, bán lẻ…
Năm 2022, nhiều dự án được tăng vốn đầu tư từ đầu năm như dự án sản xuất, chế tạo các sản phẩm điện tử, công nghệ cao được tăng vốn với quy mô lớn. Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19/21 ngành kinh tế tăng 1 ngành so với năm 2021, trong đó: Ngành cơng nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt hơn 16,8 tỷ USD, chiếm 60,6% tổng vốn đầu tư đăng kí năm 2022; ngành kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư hơn 4,45 tỷ USD, chiếm 16,1% tổng vốn đầu tư đăng kí; tiếp theo là các ngành sản xuất, phân phối điện (với vốn đầu tư đăng ký 2,26 tỷ USD), hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ với vốn đăng ký đạt gần 1,29 tỷ USD.
Xét về số lượng dự án mới, các ngành bán buôn và bán lẻ, công nghiệp chế biến, chế tạo và hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ thu hút được nhiều dự án nhất, chiếm lần lượt là 30%, 25,1% và 16,3% tổng số dự án. Việt Nam là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài và đang đứng trước cơ hội vàng để thu hút lượng vốn đầu tư lớn vào các khu kinh tế, khu công nghiệp.
c. Về đối tác đầu tư
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, tính đến hết năm 2020 Việt Nam đã thu hút được tổng số vốn đăng ký trên 377 tỷ USD với tổng số 33.148 dự án từ các quốc gia và vùng lãnh thổ. Có 10 quốc gia cam kết với số vốn trên 10 tỷ USD. Trong đó đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký 69,3 tỷ USD và 9.149 dự án đầu tư (chiếm 18,3% tổng vốn đầu tư); Nhật Bản đứng thứ hai với 60,1 tỷ USD và 4.674 dự án đầu tư (chiếm gần 15,9% tổng vốn đầu tư), tiếp theo lần lượt là Singapore và Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc chiếm 14,8%, 8,9%, 6,6% và 4,7%. Trong giai đoạn 2016 – 2020, số quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam ngày càng tăng lên, tính đến cuối năm 2020 thì con số này lên tới 139 quốc gia và vùng lãnh
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">thổ. Trong đó thì Hàn Quốc là quốc gia có nhiều vốn đầu tư tại Việt Nam nhất với tổng vốn đầu tư chiếm từ 17 – 19% tổng số vốn FDI. Đứng thứ hai là Nhật Bản với vốn đầu tư luôn dao động trong khoảng 14 – 17% tổng vốn FDI vào Việt Nam. Ngoài ra, Việt Nam cũng nhận được rất nhiều các khoản đầu tư FDI từ các nước và vùng lãnh thổ khác như: Trung Quốc, Malaysia, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông, …
Năm 2021, Singapore đã đầu tư tổng cộng 6,1 tỷ USD vào Việt Nam - chiếm khoảng 40% tổng vốn đăng ký cấp mới của nước ta, trong đó có 3,1 tỷ USD đầu tư vào Dự án Nhà máy điện LNG Long An I và II (Singapore) – dự án FDI lớn nhất trong năm nay của Việt Nam.
Nhật Bản và Hồng Kông (Trung Quốc) lần lượt là 2 khu vực tiếp theo có đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam trong năm 2021 với tổng vốn đăng ký cấp mới lần lượt là 2,8 tỷ USD và 1,7 tỷ USD. Năm 2021, Nhật Bản có 2 dự án mới nổi bật là Dự án Nhà máy nhiệt điện Ơ Mơn II tại Cần Thơ (vốn đăng ký 1,3 tỷ USD) và Dự án nhà máy sản xuất giấy Kraft Vina tại Vĩnh Phúc (vốn đăng ký 611,4 triệu USD), cịn Hồng Kơng (Trung Quốc) có 01 dự án mới nổi bật đầu tư vào Việt Nam là Dự án Công nghệ tế bào quang điện Jinko Solar PV Việt Nam (vốn đăng ký 498 triệu USD).
Năm 2022, có 108 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam; trong đó, Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư gần 6,46 tỷ USD, Hàn Quốc đứng thứ hai với gần 4,88 tỷ USD, Nhật Bản đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 4,78 tỷ USD, tiếp theo là Trung Quốc (2,52 tỷ USD), Hồng Kông (2,22 tỷ USD).
Bảng 2: Top 5 nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam năm 2022
</div>