Tải bản đầy đủ (.pdf) (36 trang)

Vấn đề bất bình đẳng giới tính ở việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.69 MB, 36 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>1.1.3. Các quan điểm về bất bình đẳng xã hội...5</b>

<b>1.1.4. Cơ sở tạo nên bất bình đẳng...8</b>

1.2. <b> Bất bình đẳng giới...10</b>

<b>1.2.1. Khái niệm cơ bản về bất bình đẳng giới...10</b>

<b>1.2.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bình đẳng giới...11</b>

<b>1.2.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới...12</b>

<b>2. Bất bình đẳng giới trong xã hội ngày nay...13</b>

2.1. <b>Các thực trạng liên quan đến bất bình đẳng giới trong xã hội...13</b>

<b>2.1.1. Tỷ lệ giới tính khi sinh (SRB)...13</b>

<b>2.1.2. Bất bình đẳng trong giáo dục...14</b>

<b>2.1.3. Bất bình đẳng trong hơn nhân và gia đình...16</b>

<b>2.1.4. Bất bình đẳng trong kinh tế, lao động – việc làm...16</b>

2.2. <b>Nguyên nhân gây ra bất bình đẳng giới...21</b>

<b>2.2.1. Quan niệm xã hội lạc hậu...21</b>

<b>2.2.2. Suy nghĩ, quan niệm chấp nhận của phụ nữ...22</b>

2.3. <b>Kết quả của bất bình đẳng giới...23</b>

<b>2.3.1. Hậu quả của quan niệm xã hội lạc hậu...23</b>

<b>2.3.2. Kết quả của suy nghĩ, quan niệm chấp nhận của phụ nữ...24</b>

<b>2.3.3. Thành tựu đạt được của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với vấn đề</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b>PHẦN 1. MỞ ĐẦU</b>

<b>1. Lý do chọn đề tài</b>

Bất bình đẳng giới là một vấn đề cịn đang rất nóng trong xã hội hiện nay, nó khơng chỉ ở Việt Nam mà cịn trên tồn thế giới. Điều này đã thể hiện qua nhiều cuộc tranh luận, phong trào, thảo luận và hành động từ các nhà hoạt động xã hội cho đến các chính phủ và tổ chức quốc tế. Nhưng bất bình đẳng giới khơng chỉ là một vấn đề liên quan đến tính cơng bằng giữa nam và nữ mà còn bao gồm cả những khía cạnh khác như sự bất bình đẳng trong lĩnh vực giáo dục, việc làm, tiền lương, địa vị xã hội và nhiều lĩnh vực khác. Trong quá khứ, sự bất bình đẳng giới rất rõ ràng và được chấp nhận trong xã hội cổ đại, đặc biệt là đối với phụ nữ. Phụ nữ thiếu ý thức về quyền lợi của mình và thường bị xem nhẹ, thậm chí bị đối xử như nơ lệ. Trong xã hội hiện đại, tình trạng lạm dụng phụ nữ vẫn diễn ra, do một số người theo tư tưởng "trọng nam khinh nữ" coi người phụ nữ là công cụ để thỏa mãn thú vui hoặc duy trì nịi giống. Hiện nay, phong trào nữ quyền đã nổ ra ở rất nhiều nước trên thế giới, và trường hợp nam giới cũng bị chèn ép như "chế độ mẫu hệ thời nguyên thủy", như trong vụ kiện bạo lực gia đình của nam diễn viên Johnny Depp anh chính là người đã bị hành hung từ chính cơ vợ của mình chính là nữ diễn viên Amber Heard. Tuy nhiên, việc giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới vẫn cần cân bằng quyền lợi cho nam giới lẫn nữ giới, để tránh sinh ra bất công và hệ lụy nghiêm trọng cho xã hội. Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã và đang tìm ra cách giải quyết về vấn đề này và tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển năng lực cho cả hai giới, nhằm phục vụ cho xã hội cơng bằng.

Sự bất bình đẳng giới đã và đang tác động rất mạnh đến cuộc sống và sự phát triển của cả nam và nữ trên tồn thế giới. Việc tìm cách giải quyết vấn đề này là rất quan trọng để đảm bảo một xã hội cơng bằng, bình đẳng và phát triển. Tuy nhiên, đây là một vấn đề rất phức tạp và khơng có giải pháp nhanh chóng , chính vì vậy mà nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài là “Vấn đề bất bình đẳng giới tính ở Việt Nam hiện nay” để góp một phần nhỏ

<b>1</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

vào cơng cuộc bình đẳng giới làm thay đổi một phần nào đó từ bên trong và sự thấu hiểu về tầm quan trọng của sự bình đẳng giới sẽ là chìa khóa cho việc giải quyết vấn đề này.

<b>2. Mục đích nghiên cứu</b>

Mục đích của bài luận văn: Mục đích chính của nghiên cứu về vấn đề bất bình đẳng giới tính là phân tích và đánh giá những khía cạnh khác nhau của sự bất bình đẳng giới tính trong xã hội. Nghiên cứu này có thể tập trung vào nhiều khía cạnh khác nhau, bao gồm những khía cạnh về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa. Mục đích cuối cùng của nghiên cứu là tìm ra cách giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới tính trong xã hội.

<b>3. Phương pháp nghiên cứu </b>

Để hồn thành bài tiểu luận thì nhóm chúng em đã kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như:

-Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: tham khảo tài liệu có sẵn, các nguồn thơng tin trên mạng giúp người đọc có được những thơng tin quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu có luận cứ rõ ràng.

-Phương pháp phân tích dữ liệu sơ cấp: thực hiện từ bảng khảo sát, bảng được thiết kế với nhiều câu hỏi.

-Phương pháp thảo luận nhóm: giúp cả nhóm thực hiện bài tiểu luận có hiệu quả. -Phương pháp tổng hợp, logic: tổng hợp kết hợp các kết quả phân tích lại với nhau từ phân tích dữ liệu để nhận thức được vấn đề nghiên cứu một cách rõ ràng.

<b>2</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>PHẦN 2. NỘI DUNG</b>

<b>1. Khái niệm chung</b>

<b>1.1 Bất bình đẳng xã hội1.1.1 Định nghĩa bất bình đẳng</b>

Bất bình đẳng là sự khác biệt hoặc bất cơng trong đối xử, cơ hội, quyền lợi, trạng thái xã hội, thu nhập và sự tiếp cận vào các nguồn tài nguyên giữa các nhóm xã hội khác nhau, dẫn đến sự chênh lệch và phân hóa trong xã hội. Bất bình đẳng có thể xuất hiện ở nhiều mặt khác nhau của cuộc sống, như bất bình đẳng giới, bất bình đẳng kinh tế, bất bình đẳng xã hội, bất bình đẳng về sức khỏe và giáo dục, và có thể gây ra những hậu quả xấu cho cả cá nhân và xã hội. Nghiên cứu về bất bình đẳng giúp ta hiểu rõ hơn về tình trạng bất bình đẳng trong xã hội, từ đó đề xuất các giải pháp và chính sách để giảm thiểu và loại bỏ bất bình đẳng, đem lại sự cơng bằng và bình đẳng cho mọi người.

Trong sự vận động và phát triển của xã hội, bất bình đẳng xã hội ln là vấn đề then chốt. Bất bình đẳng xã hội tạo thành một hệ thống tồn tại song song với sự phát triển trong các xã hội khác nhau. Điều đó cũng cho chúng ta biết rằng hệ thống bất bình đẳng sẽ khác nhau ở các xã hội khác nhau và nguyên nhân chính sẽ được xác định bởi thể chế chính trị và hồn cảnh, điều kiện sống của mỗi nơi.

Cho đến ngày nay có rất nhiều tác giả đã đưa ra những quan niệm của mình về bất hình đẳng. Ơng John J. Macionis, một nhà xã hội học nổi tiếng, đã định nghĩa bất bình đẳng như sau: "Bất bình đẳng xã hội là sự khác biệt trong các cơ hội, địa vị xã hội và phúc lợi giữa các nhóm khác nhau trong xã hội." Tức là, các nhóm trong xã hội sẽ có sự khác biệt trong việc tiếp cận các cơ hội, địa vị xã hội và các lợi ích mà xã hội đem lại. Điều này dẫn đến sự chênh lệch về địa vị xã hội, sức mạnh và tài sản giữa các nhóm khác nhau<small>1</small>. Theo Từ điển Xã hội học do Turner chủ biên được xuất bản bởi Nhà xuất bản <small>1 "Xã hội học - Các vấn đề cơ bản" (tác giả John J. Macionis, Nguyễn Thị Thu Huyền dịch, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2012), tr.166.</small>

<b>3</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

Đại học Cambridge thì bất bình đẳng là sự phân bối khơng đồng đều cơ hội, phần thưởng, và quyền lực giữa các cá nhân, hộ gia đình, nhóm xã hội.Bất bình được coi là đặc điểm của bất cứ xã hội nào . Từ quan niệm của các tác giả trên thì ta có thể định<small>2</small> nghĩa một cách khái qt:

Bất bình đẳng xã hội là sự không ngang bằng nhau về cơ hội xã hội giữa các cá nhân, các nhóm trong xã hội; sự không ngang bằng nhau về cơ hội xã hội liên quan chặt chẽ đến sự không ngang bằng nhau về của cải, uy tín, quyền lực giữa các cá nhân, các nhóm .<small>3</small>

<b>1.1.2 Phân loại bất bình đẳng</b>

Bất bình đẳng được chia làm hai loại: bất bình đẳng mang tính tự nhiên và bất bình đẳng mang tính xã hội.

Bất bình đẳng mang tính tự nhiên: sự khác biệt giữa các cá nhân về các đặt điểm sẵn có như: giới tính, tuổi tác, chủng tộc, trí lực, phẩm chất sẵn có,… Nhưng sự khác biệt về sinh học không phải là sự khác biệt về mặt xã hội.

Bất bình đẳng mang tính xã hội: tồn tại những sự phân cơng xã hội dẫn đến có sự phân tần, từ đó tạo ra lợi ích khác nhau của các cá nhân về của cải, học vấn, tài sản, quyền lực, cơ hội sống, uy tín mà con người khơng có sự ngang bằng nhau trơng cuộc sống.

Bất bình đẳng xã hội là một khái niệm rộng mà trong đó hàm chứa khái niệm bất cơng bằng xã hội và cơng bằng xã hội. Bất bình đẳng xã hội gồm: Bất bình đẳng xã hội dựa trên sự hợp lý hợp pháp và bất bình đẳng xã hội dựa trên sự không hợp lý và không hợp pháp.

Bất cơng bằng xã hội là sự bất bình đẳng bất hợp lý, bất hợp pháp, không dựa trên sự khác biệt tự nhiên giữa các cá nhân, cũng không chủ yếu được tạo ra do sự khác nhau về tài đức và sự đóng góp cống hiến một cách thực tế của mỗi người cho xã hội mà dựa vào <small>2 Turner, Bryan S. (2006), "The Cambridge Dictionary of Sociology". Cambridge: Cambridge University Press, tr.286</small>

<small>3 PGS. TS. Nguyễn Thị Kim Hoa, Giáo trình xã hội học đại cương. NXB ĐHQG Hà Nội, tr.241</small>

<b>4</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

những hành vi trái pháp luật, tham nhũng, lừa gạt, trộm cắp, buôn bán phi pháp để trở nên giàu có, luồn lọt, xu nịnh, để có vị trí cao trong xã hội hoặc lười biếng, ỷ lại để rơi vào sự nghèo khổ, hèn kém.

Theo quan điểm của các nhà xã hội học nghiên cứu về cơ cấu xã hội thì bất bình đẳng xã hội có vai trị hết sức quan trọng:

i. Bất bình đẳng được xem như là điều kiện để tổ chức xã hội. ii. Bất bình đẳng là cơ sở cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. iii. Bất bình đẳng đảm bảo cho đời sống và phát triển xã hội.

Từ đó, có thể kết luận rằng bất bình đẳng xã hội có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực. Một mặt, nó là động cơ thúc đẩy tiến bộ xã hội, góp phần ổn định và hình thành bộ mặt xã hội, nhưng mặt khác nó cũng là nguyên nhân của sự tích tụ của bất bình xã hội, cản trở sự phát triển chung của cộng đồng. Vì vậy, việc tìm hiểu về bất bình đẳng xã hội là việc làm cần thiết để củng cố và tổ chức một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh hơn.

<b>1.1.3 Các quan điểm về bất bình đẳng xã hội</b>

Bất bình đẳng xã hội là một hiện tượng phổ biến trong xã hội, tuy nhiên vấn đề được đặt ra là liệu bất bình đẳng có phải là một đặc trưng bất khả tránh của xã hội hay khơng?. Có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này và chúng ta tìm hiểu qua một vài quan điểm tiêu biểu sau về vấn đề bất bất bình đẳng xã hội.

- Quan điểm dựa vào yếu tố sinh học của cá nhân

Quan điểm này cho rằng bất bình đẳng là một thực tế của xã hội, nó ln hiện hữu do sự khác biệt giữa các cá nhân. Trong một xã hội mở và khi mọi người có tài năng và nhu cầu khác nhau, điều này chắc chắn dẫn đến bất bình đẳng. “Một số bất bình đẳng đến như là kết quả khơng thể né tránh về bất bình đẳng sinh học của kỹ năng, thể chất, khả năng, tinh thần và những khía cạnh của nhân cách” .<small>4</small>

<small>4 Kenneth Cauthen (1987), The Passion for Equality, NXB Rowman & Littlefield, tr.8</small>

<b>5</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

Từ thời cổ đại, một số nhà triết học đã khẳng định những sự “khác biệt” mang tính tự nhiên giữa các cá nhân. Trên thực tế, sự khác biệt về bản chất của sự phân biệt giới tính vẫn tồn tại như một hệ quả tất yếu của bất bình đẳng. Aristotle (384 – 322 TCN) đã lập luận rằng: “Đàn ông bản chất là thống trị, đàn bà là bị trị, và đó là một luật lệ.” Quan điểm này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Steven Goldberg nêu quan điểm: “Sự thống trị và sự thành đạt cao của nam giới là khả năng khơng thể đảo ngược, bởi có những khác biệt về sinh học giữa nam và nữ.”<small>5</small>

Thực chất những quan điểm này đều có thể được tìm thấy ở xã hội khác. Ở nhiều gia đình Việt Nam thời nay vẫn còn tư tưởng trọng nam khinh nữ. Quyền lợi của con trai luôn được đặt lên hàng đầu. Họ có nhiều cơ hội và đặc quyền hơn con gái điều này sẽ chắc chắn rằng bất bình đẳng sẽ ngày càng kéo dài và gây ra nhiều hậu quả hơn.

- Quan điểm dựa vào yếu tố kinh tế

Trong bài luận năm 1753 Về nguồn gốc của sự bất bình đẳng, Jean – Jacques Rousseau đã chỉ ra rằng nguồn gốc của bất bình đẳng trong xã hội là chế độ tư hữu tài sản. Theo quan điểm của ông về bất bình đẳng khơng phải là quy luật tự nhiên mà là sản phẩm của xã hội lồi người; nó đã tồn tại và phát triển kể từ khi xuất hiện tư hữu, tư sản; rằng mọi người đã tạo ra bất bình đẳng thì con người cũng có thể loại bỏ nó. Chính sách kinh tế, chính trị và đặc điểm của thị trường lao động tạo ra sự khác biệt về thu nhập và của cải. Thực chất, sự khác biệt về vị trí của các cá nhân trong cơ cấu xã hội gây ra bất bình đẳng kinh tế. Ông cũng phân biệt rõ ràng hai loại bất bình đẳng giữa con người với con người: bất bình đẳng tự nhiên và bất bình đẳng xã hội – bất bình đẳng do cơ chế xã hội hình thành nên.

- Quan điểm của Karl Marx

Học thuyết của Marx chủ yếu dựa trên sự nghiên cứu các học thuyết kinh tế mà ông coi là nền tảng của cơ cấu giai cấp. Mối quan hệ giai cấp là chìa khố của mọi vấn đề

<small>5 Steven Goldberg (1973), The Inevitability of Patriarchy, NXB William Morrow and Company, tr.133</small>

<b>6</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

trong đời sống xã hội. Marx khẳng định: “Những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng là những tư tưởng của giai cấp thống trị” và phục vụ cho giai cấp thống trị. Những lý luận của Marx về hoạt động tổ chức sản xuất của cải vật chất cũng như sự phân công lao động trong xã hội cùng với những phân tích về cấu trúc xã hội đã vạch rõ tính chất giai cấp của xã hội và tính bất bình đẳng trong quan hệ xã hội . <small>6</small>

- Quan điểm của Max Weber

Max Weber nghiên cứu cấu trúc xã hội sau Marx hơn nửa thế kỷ. Do vậy, ông đã ghi nhận những thay đổi trong cơ cấu giai cấp xã hội để phát triển lý thuyết xã hội học về sự phân tầng xã hội. Theo đó, lĩnh vực kinh tế khơng cịn vai trị quan trọng đối với sự phân chia giai cấp và tầng lớp xã hội trong xã hội tư bản hiện đại. Cấu trúc xã hội nói chung và sự phân tầng xã hội nói riêng chịu tác động của hai nhóm yếu tố cơ bản là các yếu tố kinh tế và các yếu tố phi kinh tế trong quá trình hình thành, biến đổi cấu trúc xã hội và sự phân tầng xã hội.

Weber không coi mọi cấu trúc xã hội đều bất bình đẳng như trong một xã hội có giai cấp. Ơng nhấn mạnh rằng quyền lực kinh tế có thể là kết quả nắm giữ quyền lực dựa vào các nền tảng khác. Địa vị xã hội và uy tín xã hội có thể xuất phát từ quyền lực kinh tế, song đó khơng phải là tất yếu duy nhất. Ngược lại, địa vị là nguồn gốc để tạo nên cơ sở của quyền lực chính trị.

Weber nhấn mạnh tầm quan trọng của thị trường chứ không phải là tái sản xuất, như là cơ sở kinh tế của giai cấp. Ông quan niệm giai cấp là một tập hợp người có chung các cơ hội sống trong điều kiện kinh tế thị trường. Nguyên nhân đầu tiên của bất bình đẳng trong xã hội tư bản là khác biệt về khả năng thị trường.

- Quan điểm của Daniel Rosides

Thậm chí ngay trong các xã hội đơn giản nhất “người già thường có quyền uy đối với người trẻ, cha mẹ có quyền uy với con cái và nam giới có quyền uy đối với phụ nữ”. <small>6 Đại học Văn Hiến, Những khác biệt của Karl Marx và Max Weber trong quan điểm về phân tầng xã hội</small>

<b>7</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

- Quan điểm của E.Durkheim

Trong cuốn “Sự phân công lao động xã hội (1893)” cho rằng tất cả các xã hội ln nhìn nhận một số hành động quan trọng hơn những hành động khác, cũng theo ơng bất bình đẳng xã hội được tạo ra từ những khác biệt về tài năng.

<b>1.1.4 Cơ sở tạo nên sự bất bình đẳng </b>

Bất bình đẳng nảy sinh trong đời sống hằng ngày, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất vật chất. Nó liên quan đến sự phân cơng trong q trình lao động. Vì vậy, bất bình đẳng biểu hiện khác nhau trong các xã hội khác nhau, đặc biệt là trong các xã hội hồn thiện và quy mơ lớn với nền sản xuất xã hội phát triển cao, sự phân công lao động ngày càng đa dạng và phức tạp, bất bình đẳng xã hội ngày càng gia tăng.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng xã hội mà bắt nguồn từ các yếu tố tự nhiên, địa vị xã hội, điều kiện kinh tế - xã hội - văn hóa,…,về cơ bản là bao gồm:

- Sự khác nhau về điều kiện tự nhiên

Yếu tố tự nhiên (đất đai, thời tiết khí hậu, tài nguyên thiên nhiên...) trước hết là môi trường sống và bảo đảm phần quan trọng cơ hội sống cho con người. Con người sinh ra và tồn tại trong điều kiện, môi trường tự nhiên khác nhau sẽ có những cơ hội và được "mang đến" những lợi ích khác nhau. Những người sinh ra trong điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ có cơ hội tốt cho sự tiến bộ, ngược lại với điều kiện tự nhiên khó khăn, khắc nghiệt sẽ ít có cơ hội hơn.

- Sự khác nhau về điều kiện kinh tế

Sự khác biệt về điều kiện kinh tế cũng là một trong những yếu tố tạo ra sự khác biệt về cơ hội mà mỗi cá nhân hay mỗi nhóm được tiếp cận. Khi cá nhân (hay nhóm) có điều kiện kinh tế tốt hơn những cá nhân (hay nhóm) khác trong xã hội, chủ thể đó sẽ có nhiều cơ hội tốt hơn. Ví dụ về tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế... của các cá nhân trong xã hội.

<b>8</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

- Sự khác nhau về địa vị xã hội

Sự khác nhau về địa vị xã hội, tức là sự khác nhau về uy tín hay vị trí do quan niệm và sự đánh giá của các thành viên khác trong xã hội. Địa vị xã hội là sự phản ánh vị thế xã hội của cá nhân, do cá nhân đạt được ở trong một nhóm hoặc là một thứ bậc trong nhóm này khi so sánh với thành viên trong nhóm khác, được xác định bởi một loạt đặc điểm kinh tế, nghề nghiệp, sắc tộc Trong một xã hội cụ thể, nếu sự khác nhau về cơ hội<small>7</small>. của một nhóm người là do nguyên nhân khách quan tạo nên thì ngược lại, bất bình đẳng về địa vị xã hội do thành viên của các nhóm xã hội tạo nên và thừa nhận. Nó có thể là bất kỳ thứ gì được một nhóm xã hội cho là ưu việt và các nhóm xã hội cịn lại thừa nhận. Trong thực tế, cơ cấu giai cấp là nền tảng căn bản nhất của địa vị xã hội. Ngoài ra, các thành tố khác tạo lập nên địa vị xã hội phải kể đến trình độ chun mơn, mức lương, gia đình, lứa tuổi, lãnh thổ, cư trú. Tuy nhiên, địa vị xã hội chỉ có thể được giữ vững bởi những nhóm nắm giữ địa vị đó và các nhóm xã hội khác tự giác thừa nhận sự ưu việt đó.

- Sự khác nhau về ảnh hưởng chính trị

Bất bình đẳng do ảnh hưởng chính trị là khả năng của một nhóm xã hội thống trị những nhóm khác hay có ảnh hưởng mạnh mẽ trong việc ra quyết định cũng như việc thu được nguồn lợi từ các quyết định. Trong thực tế, bất bình đẳng do ảnh hưởng chính trị có thể được nhìn nhận như là có được từ ưu thế vật chất hay địa vị cao. Bản thân chức vụ chính trị có thể tạo ra cơ sở để đạt được địa vị và những cơ hội trong cuộc sống, đặc biệt đối với các cá nhân giữ chức vụ chính trị cao.

- Sự khác nhau về văn hố

Những giá trị văn hóa cũng có thể góp phần tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội giữa các cá nhân, các nhóm. Có những giá trị văn hóa làm hạn chế khả năng tiếp cận những cơ hội tốt trong cuộc sống của con người và ngược lại. Ví dụ, phụ nữ Việt Nam trong xã hội <small>7 Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (2005), Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 4, NXB Từ điển Bách khoa, tr.863</small>

<b>9</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

phong kiến trước đây bị quan niệm là những người chỉ làm việc trong gia đình, khơng được tiếp xúc xã hội nên khơng có điều kiện, cơ hội để tiến bộ, họ ln bị trói chặt vào gia đình, phụ thuộc gia đình. Ngày nay, phụ nữ đã được giải phóng nên họ có cơ hội để phát triển, tiến bộ, đóng góp nhiều cho xã hội và bình đẳng hơn với mọi người.

Nói tóm lại, cấu trúc của sự bất bình đẳng có thể dựa trên bất kỳ ưu thế nào trong số này. Căn ngun của bất bình đẳng có thể được tìm thấy trong các mối quan hệ kinh tế, địa vị xã hội, hoặc các mối quan hệ quyền lực về chính trị của các giai cấp tồn tại trong xã hội.

<b>1.2 Bất bình đẳng giới</b>

<b>1.2.1 Khái niệm cơ bản về bất bình đẳng giới</b>

Giới là một thuật ngữ để chỉ vai trò, hành viứng xử xã hội và những kỳ vọng liên quan đến nam và nữ. Nó được coi là phạm trù xã hội có vai trịquyết định đến cơ hội cuộc sống của con người, xác định vai trò của họ trong xã hội và trong nền kinh tế.

Theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 6 Điều 5 của Luật bình đẳng giới thì: Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trị ngang nhau,được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và hưởng thụ như nhau về thành quả của sự phát triển của cộng đồng về thành quả của phát triển đó. Bình đẳng giới đề cập tới sự bình đẳng về quyền, trách nhiệm và cơ hội của nam giới và nữ giới, trẻem gái và trẻ em trai.Theo Luật Bình đẳng giới,thì mọi người, dù là namgiới hay phụ nữ, với tư cách là các cá nhân đều có quyền bìnhđẳng và cầnđược tạo cơ hội để phát huy tiềm năng sắn có của mình cũng như có quyền thụ hưởng bình đẳng trong q trình phát triển chung như:

- Tiếp cận và sử dụng các nguồn lực (tài chính, đất đai, thời gian, cơ hội...). - Tham gia quyết định những vấn đề liên quan tới việc sử dụng nguồn lực. - Tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,... - Thụ hưởng những thành tựu của sự phát triển.

<b>10</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

Bất bình đẳng giới là sự phân biệt đối xử với nam, nữ về vị thế, điều kiện và cơ hội bất lợi cho nam, nữ trong việc thực hiện quyền con người đóng góp và hướng thụ từ sự phát triển của gia đình của đất nước.

<b>1.2.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bình đẳng giới.</b>

Ngay từ thế kỷ XIX, C. Mác và Ph. Ăngghen - các lãnh tụ thiên tài của giai cấp vơ sản tồn thế giới - đã chỉ rõ: “Chế độ mẫu quyền bị lật đổ là sự thất bại lịch sử có tính chất tồn thế giới của giới nữ. Ngay cả ở trong nhà, người đàn ông cũng nắm lấy quyền cai quản, còn người đàn bà thì bị hạ cấp, bị nơ dịch, bị biến thành nô lệ cho sự dâm đãng của đàn ông, thành một công cụ sinh đẻ đơn thuần”; “người vợ trở thành người đầy tớ chính và khơng được tham gia vào nền sản xuất xã hội”. “Tình trạng khơng bình quyền giữa đôi bên, do những quan hệ xã hội trước kia để lại cho chúng ta, tuyệt nhiên không phải là nguyên nhân, mà là kết quả của việc áp bức đàn bà về mặt kinh tế”. Hai ông khẳng định: “Một sự bình đẳng thực sự giữa phụ nữ và nam giới chỉ có thể trở thành hiện thực khi đã thủ tiêu được chế độ bóc lột của tư bản đối với cả hai giới và khi cơng việc nội trợ riêng trong gia đình đã trở thành một nền công nghiệp xã hội”.

V.I. Lênin, người thầy vĩ đại của cách mạng vô sản thế kỷ XIX - XX kế thừa quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen, chỉ ra tình cảnh khốn khổ của nữ công nhân lao động trong các nhà máy, công xưởng: “Hàng triệu và hàng triệu phụ nữ trong những gia đình như vậy đang sống (hoặc nói đúng hơn đang bị đọa đầy) trong kiếp “gia nô”, ra sức lo ăn, lo mặc cho gia đình bằng từng xu nhỏ mà họ phải trả bằng những cố gắng phi thường hàng ngày và bằng “sự tiết kiệm” tất cả mọi thứ, chỉ trừ có “tiết kiệm” lao động của bản thân”. Ơng chỉ rõ“Trong nơng nghiệp, người lao động phụ nữ, vô sản cũng như nông dân, đều phải cố đem hết sức mình ra, phải đổ mồ hơi sơi nước mắt, làm đến kiệt sức, hại đến sức khỏe của mình và của con cái để cố đuổi cho kịp người lao động nam giới trong nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa”; “họ cùng làm ở công xưởng 10 giờ một ngày, nhưng chỉ được tất cả có 1,10 - 1,50 mác (nam giới thì được 2,50 - 2,70 mác) và nếu trả công theo sản phẩm thì họ được 1,7 - 2,0 mác”. Phụ nữ “khơng có quyền gì cả vì pháp luật khơng cho họ có quyền bình đẳng với nam giới”, cịn trong gia đình họ là “nơ lệ gia đình”, bị

<b>11</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

nghẹt dưới cái gánh những công việc bếp núc nhỏ nhặt nhất, lam lũ nhất khổ cực nhất, làm cho mụ người nhất. Ơng khẳng định: “Khơng cịn nghi ngờ gì nữa, cơng xưởng tư bản chủ nghĩa đã đẩy các loại người lao động đó vào tình cảnh đặc biệt khó khăn,...Thế nhưng, xu hướng địi hồn tồn cấm chỉ phụ nữ và thiếu niên không được lao động trong cơng nghiệp, hoặc xu hướng duy trì chế độ gia trưởng về sinh hoạt là chế độ loại bỏ lao động đó, xu hướng đó thật là phản động, khơng tưởng”.

<b>1.2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới</b>

Tiếp thu quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lâu đã thấu hiểu nỗi khổ nhục, bất công của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ thực dân phong kiến. Người khẳng định: “Dưới chế độ thực dân và phong kiến, nhân dân ta bị áp bức, bóc lột, thì phụ nữ ta bị áp bức, bóc lột càng nặng nề hơn... Ngay từ đầu, Đảng và Nhà nước ta đã thi hành chính sách đối với phụ nữ cũng được bình quyền, bình đẳng với đàn ơng”. Người nhận thấy vai trò to lớn của phụ nữ trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Người chỉ rõ: “Ơng Các Mác nói rằng: “Ai đã biết lịch sử thì biết rằng, muốn sửa sang xã hội mà khơng có phụ nữ giúp vào thì chắc khơng làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái, thì biết xã hội tiến bộ ra thế nào”. Ơng Lênin nói: “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành cơng”; “…Xem trong lịch sử cách mệnh, chẳng có lần nào là khơng có đàn bà con gái tham gia”; “Vậy nên, muốn thế giới cách mệnh thành cơng, thì phải vận động đàn bà con gái công nông các nước”. Người chỉ rõ: “Cách mệnh Nga thành công mau như thế, đứng vững như thế, cũng vì đàn bà con gái hết sức giùm vào”.

Khi Quốc hội khóa I thông qua bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Bản Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: Dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới, phụ nữ Việt Nam đã đứng ngang hàng với đàn ông để hưởng mọi quyền công dân”.

<b>12</b>

</div>

×