Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (60.1 MB, 94 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
LỜI CAM ĐOAN
<small>Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêngtoi.</small>
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bat ky cơng trình
<small>Tơi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này.</small>
TÁC GIÁ LUẬN VĂN
LÊ MINH ĐỨC
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">BLTTHS: Bộ luật tổ tụng hình sự. <small>BLHS: Bộ luật hình sự.</small>
DANH MỤC BANG BIEU
BANG 3.1: Tỷ lệ số vụ án Viện kiêm sát trả hồ sơ dé điều tra bô <small>sung chia theo nhóm tội phạm</small>
BANG 3.2: Số vụ án Viện kiểm sát trả hồ sơ dé điều tra b6 sung chia theo căn cứ tại Điều 245 BLTTHS năm 2015
BIEU 3.3: Cơ cau số vụ án án Viện kiểm sát trả hồ sơ dé điều tra bổ sung theo căn cứ quy định tại Điều 245 BLTTHS năm 2015
<small>56</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">Chương 1: NHỮNG VAN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT LỊCH SỬ QUY
<small>ĐỊNH PHAP LUẬT VE TRA HO SƠ DE DIEU TRA BO SUNG TRONG GIAI</small>
<small>DOAN TRUY đ1000175757 .. ... 6</small> 1.1. Khái niệm, đặc điểm của hoạt động trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong giai đoạn 0ñ ... 6
1.1.1. Khái niệm trả hồ sơ để điều tra bố sung trong giai đoạn truy tỐ...---s‹- 6 1.1.2. Đặc điểm của hoạt động trả hồ sơ đề điều tra bô sung trong giai đoạn truy tố . 12 1.2. Y nghĩa của việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tỐ...--- 16 1.3. Khái quát lich sử quy định về trả hồ so dé điều tra bé sung trong giai đoạn truy t6..21 {1871.001.1510 ... 24 Chương 2: QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUAT TO TUNG HÌNH SỰ HIỆN HANH VE TRA HO SƠ DIEU TRA BO SUNG TRONG GIAI DOAN TRUY TÓ... 26 2.1. Quy định về trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố theo quy định của Bộ luật tơ tụng hình sự năm 20 1 5...---< 5-2 5£ s2 se s£s££s£S££seEs£sz£sessesezsesse 26
<small>2.1.1. Các trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn truy t6 ...--.- 26</small>
<small>2.1.2. Tham quyên và trình tự, thủ tục trả hồ sơ dé điều tra bé sung trong giai đoạn"án . ... 2... 36</small> 2.1.3. Những quy định khác của pháp luật về hoạt động trả hồ sơ dé điều tra b6 sung trong Giai Moan truy 7777. ... 40 2.2. Đánh giá quy định pháp luật về trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố..42 2.2.1. Một số điểm mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và văn bản hướng dẫn thi hành so với Bộ luật tố tụng hình sự ẩm 2003 onscreen 42 2.2.2. Một số bat cập của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về trả hồ sơ để điều tra bồ sung trong giai đoạn truy 16 ...--s-< s- <©s< s£s£s£SsEsEsESSEsEESESEsESSEsEEsEsrsesersrrsree 49 {871.001.1210 ... 53 Chuong 3: THUC TIEN THUC HIEN VA GIAI PHAP NANG CAO CHAT
<small>LƯỢNG TRA HO SO DIEU TRA BO SUNG TRONG GIAI DOAN TRUY TÓ54</small>
3.1. Thực tiễn tra hồ sơ dé điều tra bổ sung trong giai đoạn truy t6 ...--.s‹se-s‹s« 54
<small>3.1.1. Tổng quan tình hình trả hồ sơ dé điều tra bồ sung trong giai đoạn truy, tỐ... 54</small>
<small>3.1.2. Đánh giá tình hình trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tô... 593.2. Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tra hồ so dé điều tra bố sung trong giai</small> Goan trury Š ...A...“^... 64 3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong giai đoạn ""Đl\ ....d..A.AHH|H.L/.-.L... 64 <small>Reid iC 68</small> Kết luận chương 3 ....ccccccscesssssssessscesssssscessssesssssssesssssssessssessssesssssssessssessesssseessssseesseees 72 KET LUAN 07777. ...Ô 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài
Đề xác định sự thật khách quan của một vụ án hình sự, cơ quan tiễn hành tố tụng phải trải qua các giai đoạn tố tụng khác nhau theo quy định của pháp luật. Một trong số những giai đoạn đó là Truy tố, trong đó Viện kiểm sát phải tiến hành các hoạt động cần thiết, nghiên cứu, xem xét các van đề về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án thê hiện qua hồ sơ nhăm đảm bảo quá trình điều tra đúng pháp luật, khách quan, tồn điện, đầy đủ, bên cạnh đó cũng đảm bảo việc ban hành quyết định truy tố bị can ra xét xử trước Tịa án có thâm qun hoặc những quyết định khác cần thiết cho việc giải quyết vụ án là có căn cứ và đúng pháp luật.
Theo quy định của pháp luật, trong giai đoạn truy tố, khi Viện kiểm sát phát hiện thấy còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà khơng thể tự mình bồ sung được hay khi có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố; hoặc khi có phát hiện vi phạm nghiêm trọng thủ tục tơ tụng... thì Viện kiểm sát sẽ ra quyết định trả hồ sơ dé điều tra bổ sung nhằm khắc phục những thiếu sót, tồn tại trong giai đoạn tố tụng trước và giải quyết vụ án theo hướng đúng đắn.
Chế định trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố đã được pháp <small>luật Việt Nam quy định từ khi ban hành BLTTHS năm 1988, được hoàn thiện hơn ở</small> BLTTHS năm 2003 và cho đến BLTTHS năm 2015 hoàn thiện hơn cả. Tuy được ra đời từ lâu, nhưng cho đến nay, qua thực tiễn áp dụng, quy định về vấn đề này bộc lộ một số hạn chế, bất cập dẫn đến hệ quả như hiện tượng trả hồ sơ tràn lan, không căn cứ, ảnh hưởng đến q trình tố tụng. Bên cạnh đó, việc lạm dụng thâm quyền, xem nhẹ quy định về thời hạn điều tra hoặc kéo dai thời hạn điều tra của nhiều vụ án,... đều là những hệ quả của việc trả hồ sơ dé điều tra bổ sung tràn lan.
Thực tiễn áp dụng cho thấy quy định của BLTTHS năm 2003 về vấn đề này còn nhiều bất cập, ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết vụ án hình sự. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 khi quy định về vấn đề này đã có những sửa đổi, về cơ bản đã khắc phục được một số tồn tại, hạn chế trong quy định của BLTTHS năm 2003. Tuy nhiên, song song với việc loại bỏ một số vướng mắc trong các quy định pháp luật trước đó, BLTTHS năm 2015 cũng đặt ra yêu cầu phải có những nghiên cứu, hướng dẫn nhằm tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật, đảm bảo việc giải thích cũng như áp dụng pháp luật thống nhất và tháo gỡ những bat cập, hạn chế trong quy định của
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">Trong bối cảnh hiện nay, khi BLTTHS năm 2015 đã chính thức có hiệu lực va cả nước dang trong q trình thực hiện cơng cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 48-NQ-TW ngày 25/4/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược xây dựng và hồn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng như các văn kiện khác của Đảng về cải cách tư pháp, việc tiếp tục nghiên cứu VỀ cơ SỞ lý luận, cơ sở thực tiễn cũng như kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam, bao gồm cả quy định về trả hồ sơ điều tra b6 sung trong giai đoạn truy tố theo BLTTHS năm 2015 có ý nghĩa quan trọng và hết sức cần thiết. Từ những phân tích trên, chúng tơi quyết định chon dé tài “Trả hồ sơ để điều tra bố sung trong giai đoạn truy tô theo quy định của Bộ luật tơ tụng hình sự năm 2015” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay, dé tài trả hồ sơ điều tra bố sung nói chung và trả hồ sơ điều tra bố sung trong giai đoạn truy tơ nói riêng đã được dé cập đến trong nhiều cơng trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nghiên cứu dưới dạng sách chuyên khảo, tham khảo, các bài viết, bài báo, chuyên đề, luận văn như:
- Nguyễn Đức Hanh (2009), Tra hồ sơ dé điều tra bồ sung, Luận văn thạc sỹ <small>luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.</small>
Luận văn đã nêu lên một số tồn tại và vướng mắc giữa quy định của chế định trả hồ sơ dé điều tra bổ sung và thực tiễn áp dụng, phân tích thực trang trả hồ sơ để điều tra bố sung từ năm 2002 đến 2008 giữa các cơ quan tiến hành tố tụng,chỉ ra được một số nguyên nhân và đưa ra các giải pháp, kiến nghị để hạn chế tình trạng trả hồ sơ dé điều tra bổ sung, đáp ứng yêu cầu đặt ra đối với hoạt động tố tụng hình
- Vũ Gia Lâm (2013), Hoàn thiện quy định cua Bộ luật Tố tụng hình sự về việc Tịa án cấp sơ thẩm trả hơ sơ dé điều tra bồ sung, Tạp chí Tịa án nhân dân số <small>8, Hà Nôi.</small>
Bài viết trao đối một số bat cập, vướng mắc của các quy định BLTTHS năm 2003 về việc Tòa án ra quyết định trả hồ sơ dé điều tra bố sung trong giai đoạn xét xử sơ thâm, trên cơ sở đó, đề xuất việc tiếp tục hoàn thiện quy định của BLTTHS về <small>vân dé nay;</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">- Hoang Thị Thùy Linh (2016), Tra hồ sơ để điều tra bồ sung trong to tụng <small>hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.</small>
Luận văn nghiên cứu về những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đánh giá thực trạng áp dụng quy định pháp luật và đưa ra một số giải pháp hạn chế việc trả hồ sơ giữa các cơ quan tô tụng.
- Võ Thị Xuân Hương (2017), Trả hồ sơ dé diéu tra bồ sung trong giai đoạn truy to (2017); Luận van thạc sỹ Luật học,
Ngoài việc nghiên cứu những vấn đề lý luận, luận văn đã làm rõ quy định của BLTTHS năm 2003 về trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định của BLTTHS năm 2003 và thực tiễn thực hiện đến năm 2017 và đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng của hoạt động này.
Ngoài ra, cịn rất nhiều các cơng trình nghiên cứu về van đề trả điều tra bố sung ở Việt Nam như bài viết của tác giả Nguyễn Hải Ninh “Sửa đổi, bồ sung quy định của pháp luật về điều tra bồ „ng ” đăng trên Tạp chí Luật học số 7/2008; bài viết của tác giả Lê Ngọc Huấn “Một số giải pháp nhằm hạn chế việc trả hô sơ để diéu tra bố sung giữa các cơ quan tiễn hành tơ tung” đăng trên Tạp chí kiểm sát số 10/2009: luận văn thạc sĩ luật học Ché định trả hồ sơ dé diéu tra bồ sung trong luật to tụng hình sự Việt Nam cua tác giả Nguyễn Thị Hải Châu vào năm 2010; bài viết của tác giả Nguyễn Quang Lộc “Bàn về chế định trả hồ sơ dé diéu tra bồ sung” đăng trên Tạp chí Tòa án số 8/2013; bài viết của tác giả Thái Chí Bình “Hồn thiện các quy định của BLTTHS năm 2013 về yêu câu diéu tra bồ sung” đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 11/2013; Bài viết của tác giả Lê Tan Cường Giải pháp để hạn chế việc trả hồ sơ diéu tra bồ sung trong giai đoạn truy tố đăng trên Tạp chi Kiểm sát số 10/2014; Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội (2018); Giáo trình Luật t6 tụng hình sự Việt Nam của Truong Dai học Kiểm sát (2017);...
Các cơng trình nghiên cứu trên đều đã đề cập đến vấn dé trả hồ sơ điều tra bố sung ở các mức độ khác nhau và là tài liệu tham khảo quan trọng mà tác giả kế thừa, tiếp tục nghiên cứu làm rõ trong luận văn của mình.
Tuy nhiên, kê từ khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành, chưa có nhiều các cơng trình nghiên cứu tập trung phân tích cụ thé và chuyên sâu quy định về tra hồ sơ dé điều tra bô sung trong giai đoạn truy tô trên các góc độ khác nhau như khái niệm, ý nghĩa, quy định của pháp luật t6 tụng hình sự hiện hành cũng như đưa ra
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
- Về doi tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những van đề lý luận và quy định pháp luật cũng như thực trang trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố.
- Về phạm vi nghiên cứu: Cùng với những van đề lý luận, luận văn nghiên cứu quy định về trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tô theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, đặc biệt tập trung làm rõ quy định của BLTTHS năm 2015 và thực tiễn thực hiện giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ qua điều tra trong <small>Cơng an nhân dân.</small>
Do tính đặc thù về thời điểm nghiên cứu: khi mà BLTTHS năm 2015 mới có <small>hiệu lực thi hành và trước đó vào năm 2017 đã có Luận văn thạc sĩ của tác giả Võ</small> Thị Xuân Hương về “Trả hồ sơ dé diéu tra bồ sung trong giai đoạn truy tố” phản ánh khá đầy đủ về thực tiễn trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định của BLTTHS năm 2003; Hau hết những bat cập trong quy định của BLTTHS năm 2003 về vấn đề này đã được khắc phục trong quy định của BLTTHS năm 2015. Do vậy, dé tránh trùng lặp, luận văn chỉ nghiên cứu thực tiễn thực hiện việc trả hồ sơ dé điều tra b6 sung theo quy định của BLTTHS năm 2015.
<small>4. Mục tiêu nghiên cứu</small>
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố; Phân tích, đánh giá thực trạng trả hồ sơ để điều tra bé sung trong giai đoạn truy tố, luận văn đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và hạn chế tình trạng trả hồ sơ vụ án giữa các cơ quan tiễn hành tố tụng.
<small>5. Nhiệm vụ nghiên cứu</small>
Luận văn hướng tới giải quyết những câu hỏi nghiên cứu sau:
- Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hoạt động trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố được thê hiện như thế nào ?
- Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bố sung trong giai đoạn truy tố trước và sau khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành. Có những điểm khác biệt nào trong quy định pháp luật hiện hành so với BLTTHS năm
- Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật tố tụng hình sự về trả hồ so dé điều tra bỗ sung trong giai đoạn truy tô. Da đạt được những kết quả gì ? Cịn những tồn tại, hạn chế nào, do những nguyên nhân nào? Có những giải pháp gì nâng cao hiệu qua áp dụng pháp luật trả hồ sơ dé điều tra bé sung trong giai đoạn truy tố ?
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
<small>Luận văn được hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác </small> -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp luật. Các giải pháp luận văn đưa ra nghiên cứu dựa trên những quan điểm định hướng chỉ đạo, những nguyên tắc pháp lý đã được Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống <small>pháp luật trong giai đoạn hiện nay.</small>
<small>Ngồi ra, tác giả cịn sử dung các phương pháp nghiên cứu như: Phương</small> pháp phân tích tổng hợp vừa đảm bảo tính khái quát của van đề được nghiên cứu vừa đảm bảo tính chuyên sâu ở mỗi nội dung liên quan đến trả hồ sơ dé điều tra bố sung giữa các cơ quan tiến hành tố tung; Phương pháp thống kê được sử dụng dé nêu rõ số liệu thực tiễn về thực hiện quy định pháp luật về trả hồ sơ dé điều tra bổ
7.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần bổ sung, làm rõ một số van đề lý luận cũng như quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố.
-Ÿ nghĩa thực tiễn: Luận văn có giá trị như một tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật, góp phần nêu lên một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố.
8. Bố cục (các chương) của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và khái quát lịch sử quy định pháp luật về trả hồ sơ dé điều tra bố sung trong giai đoạn truy tố.
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện và giải pháp nâng cao chất lượng trả hồ sơ để điều tra bố sung trong giai đoạn truy tố.
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">TRONG GIAI DOAN TRUY TO
1.1. Khái niệm, đặc điểm của hoạt động trả hồ sơ để điều tra bo sung trong giai đoạn truy tố
1.1.1. Khái niệm trả hỗ sơ để điều tra bỗ sung trong giai đoạn truy tỗ - Khái niệm giai đoạn truy to
Truy tố là một thuật ngữ pháp lý có thé được xem xét đưới nhiều góc độ khác nhau, có thé là một hoạt động tố tụng hình sự hoặc một giai đoạn tố tụng trong q trình giải quyết vụ án hình sự.
Dưới khía cạnh hoạt động tố tụng, Truy tố là việc đưa người phạm tdi ra trước Tòa án để xét xử. Theo quy định của pháp luật, truy tổ người phạm tội ra trước Tòa án thuộc thâm quyền của Viện kiểm sát nhân dân. Sau khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố rồi gửi cùng hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát cùng cấp thực hiện truy tố],
Truy tổ cũng có thể được hiểu là một giai đoạn của tố tụng hình sự. Luật tố tụng hình sự Việt Nam chia quá trình tố tụng thành các giai đoạn: Khởi tố vụ án hình sự, Điều tra vụ án hình sự, Truy tố, xét xử sơ thâm vụ án hình sự, xét xử phúc thâm vụ án hình sự, thi hành án hình sự và giai đoạn đặc biệt. Trong đó, Truy tổ là giai đoạn Viện kiểm sát tiến hành hoạt động xem xét quyết định việc truy tố sau khi nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra đề nghị truy tố của Co quan điều tra hoặc Co quan được giao tiễn hành một số hoạt động điều tra chuyên đến và kết thúc khi Viện kiểm sát ra bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố ra trước Tòa án hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án. Truy tố chính là giai đoạn tiếp theo sau giai đoạn điều tra, được bắt đầu từ khi Viện kiểm sát nhận hồ sơ vụ án kèm theo bản Kết luận điều tra dé nghị truy tố của Cơ quan điều tra hoặc Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.” Truy tố là giai đoạn của tố tụng hình sự do VKS có thâm
<small>' Bộ Tư pháp. Viện nghiên cứu Khoa học Pháp lý (2006), Tir điển Luật học, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 820a Trường Dai hoc Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Cơng An Nhân Dân,</small>
<small>Hà Nội, tr 11 — 12.</small>
<small>' Trường Dai hoc kiểm sát Hà Nội, Phạm Mạnh Hùng biên soạn (2016), Giáo trình luật tố tụng hình sự ViệtNam, NXB Chính trị Quốc Gia - Sự thật, Hà Nội, tr 372.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">quyền tiễn hành các hoạt động cần thiết nhăm buộc tội bị can trước tòa án có thẩm quyền bang bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố. *
Từ sự phân tích trên, có thé thấy, chủ thé đóng vai trị quan trọng nhất trong giai đoạn này là Viện kiểm sát. Viện kiểm sát nhân dân nhân danh nhà nước thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Quyền năng công tố nha nước do Viện kiểm sát thực hiện gồm nhiều quyền năng tố tụng, trong đó, quyền truy cứu trách nhiệm hình sự bị can ra trước Tịa án là quyền đặc trưng của Viện kiểm sát.” <small>Đây là một trong những hoạt động quan trọng được VKS thực hiện trong giai đoạn</small> này. Có thé thấy, khái niệm “#zy t6” dưới góc độ một giai đoạn tố tụng hình sự bao hàm cả khái niệm truy tổ dưới danh nghĩa một hoạt động tố tụng.
Giai đoạn tố tụng là những bước trong trình tự tố tụng có nhiệm vụ riêng,
Nhiệm vu co bản và quan trọng nhất trong giai đoạn truy tố là đảm bảo việc ra quyết định truy tố cũng như những quyết định cần thiết khác nhăm giải quyết vụ án là có căn cứ và hợp pháp. Trong giai đoạn này, Viện kiểm sát cần nghiên cứu, xem xét tất cả những vấn đề mang tính thủ tục tố tụng và những vấn đề thuộc nội dung vụ án thê hiện qua hồ sơ điều ra nhằm xác định q trình điều tra vụ án có tn thủ đúng quy định của pháp luật t6 tụng hình sự khơng, có cịn những hạn chế và thiếu sót nào cần khắc phục không để kịp thời ra các quyết định tố tụng cần thiết nhằm bồ sung và hoàn thiện hồ sơ, khắc phục những vi phạm pháp luật của Cơ quan điều tra, đảm bảo việc điều tra tuân thủ đúng quy định của pháp luật, khách quan, tồn diện và đầy đủ. Trên cơ sở đó, đảm bảo việc ra quyết định truy tố bị can đúng đăn, chính xác, góp phần thực hiện tốt chức năng buộc tội nhân danh nhà nước, tạo cơ sở pháp lý để Tịa án xét xử, đảm bảo lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội, tơn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cơng dân."
Dưới góc độ là một giai đoạn tổ tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, truy tố là giai đoạn tố tụng tiếp theo sau giai đoạn điều tra vụ án hình sự, bắt đầu khi <small>* Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">án dé xét xử hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án. Trong đó, chủ thé tiến hành tơ tụng (Viện kiểm sát có thâm qun) tiến hành mọi hoạt động cần thiết, nghiên cứu tat cả những van dé về thủ tục tố tụng cũng như nội dung vụ án để quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can ra trước Tịa án có thẩm quyền hoặc ban hành những quyết định tố tụng khác trong phạm vi thẩm quyền để giải quyết đúng dan vụ án hình sự.
Như vậy, có thé thấy: Truy t6 là một giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó Viện kiểm sát tiễn hành các hoạt động cần thiết nhăm truy tố bị can trước Tòa án băng bản cáo trạng hay quyết định truy tố, hoặc ra những quyết định tố tụng khác dé giải quyết đúng dan vụ án hình sự trong thời hạn từ khi nhận hồ sơ vụ án cùng ban kết luận điều tra đề nghị truy tố do co quan điều tra chuyên tới đến khi Viện kiểm sát chuyên hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng hoặc quyết định truy tổ cho Tịa án có thâm qun. Thời han này được gọi là thời hạn quyết định việc truy tố.
Từ sự phân tích trên có thê đưa ra khái niệm giai đoạn truy tố như sau:
Giai đoạn truy tơ là một phan (một bước) của q trình giải quyết vụ án hình sự, trong đó Viện kiểm sát tiến hành các hoạt động can thiết nhằm truy to bị can trước Toa án bằng bản cáo trạng hay quyết định truy tố, hoặc ra những quyết định tô tụng khác dé giải quyết đúng đắn vụ án hình sự.
- Khái niệm trả hồ sơ để điều tra bồ sung
Trong tố tụng hình sự Việt Nam ln ton tại “hồ sơ vụ án hình sự”. Nếu như trong mơ hình tố tụng hình sự tranh tụng khơng tồn tại một hồ sơ vụ án chính thức (bên buộc tội tự lập hồ sơ vụ án của mình để thực hiện chức năng buộc tội, bên bào chữa tự lập hồ sơ của mình dé thực hiện chức năng gỡ tội), thì trong suốt các giai đoạn của tố tụng hình sự nước ta ln tồn tại một hồ sơ vụ án hình sự, được các cơ quan tiễn hành tố tụng lập thống nhất từ giai đoạn điều tra. Hồ sơ vụ án hình sự chứa đựng tồn bộ các thông tin, chứng cứ về tội phạm và người phạm tội, được các co quan tiến hành tố tụng dựa vào đó dé thực hiện các chức năng tố tụng của mình, đồng thời được bổ sung, hồn thiện qua từng giai đoạn té tung.’ Việc nghiên cứu, xem xét những tài liệu, bằng chứng được thu thập và phản ánh trong hồ sơ vụ án để ban hành quyết định tố tụng nhằm giải quyết vụ án hình sự đúng đắn là hoạt động <small>? Lê Hữu Thẻ, Nguyễn Thị Thủy - Hồn thiện mơ hình tố tụng hình sự Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư</small>
<small>pháp; ngày truy cập 27/6/2018)</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">không thể thiếu của chủ thể tiến hành tố tụng mà một trong số những quyết định đó là Trả hồ sơ đề điều tra bé sung.
Trả hồ sơ điều tra bố sung là một chế định của pháp luật tố tụng hình sự, được đề cập đến lần đầu tại BLTTHS năm 1988, sau đó được quy định tương đối chi tiết, cu thé tại BLTTHS năm 2003 va tiép tục được ghi nhận tại BLTTHS năm 2015. Mặc dù đã nhiều lần được quy định trong các Bộ luật tố tụng hình sự nhưng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam chưa đưa ra một định nghĩa chính thức giải thích khái niệm trả hồ sơ dé điều tra bổ sung. Điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tô là hoạt động điều tra thêm về vụ án hình sự của Cơ quan điều tra theo yêu cầu của Viện kiểm sát nhằm phát hiện, thu thập, bổ sung tài liệu, chứng cứ giải quyết vụ án được đúng đắn, khách quan. Van dé này được thường được dé cập tới trong các <small>cơng trình nghiên cứu như các giáo trình chuyên ngành của các cơ sở đào tạo pháp</small> luật hoặc trong các luận văn, bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành như:
Trả hồ so để điều tra bố sung là một hoạt động tổ tụng được quy định tại Điều 168 và Điều 179 của BLTTHS năm 2003 nhằm khắc phục những ton tại, thiếu sót của các cơ quan tiên hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự, đảm bảo cho quá trình giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, triệt dé, chính xác và đúng pháp luật. '°
Trả hồ sơ dé điều tra bố sung là chế định của luật tố tụng hình sự quy định Viện kiểm sát hoặc Tòa án chuyên trả hồ sơ cho Viện kiểm sát hoặc Cơ quan điều tra dé điều tra thêm về vụ án hình sự theo các căn cứ được quy định trong BLTTHS nhằm mục đích làm sáng tỏ vụ án hình sự, để Tịa án xét xử vụ án một cách cơng <small>minh, chính xác, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội</small> phạm, không làm oan người vô tội. ''
Trả hồ sơ dé điều tra bố sung là hoạt động tố tụng do Viện kiểm sát, Tòa án thực hiện trong giai đoạn truy tố hoặc xét xử khi có các căn cứ và tiễn hành theo trình tự, thủ tục BLTTHS quy định nhằm bảo đảm việc điều tra, truy t6, xét xử vụ án hình sự đầy đủ, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
<small>'° Lê Tan Cường (2012), Những vướng mắc và kiến nghị sửa đôi chế định Viện kiểm sát nhân dân trả hồ sơdé điều tra bé sung, Tạp chí Kiểm sát, (20), tr. 15</small>
<small>' Nguyễn Thị Hải Châu (2010), Chế định trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong tổ tụng hình sự Việt Nam, Luậnvăn thạc sĩ, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 19</small>
<small>!* Hoàng Thị Thùy Linh (2016), Trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận van</small>
<small>thạc sỹ Luật học, Đại Học Luật Hà Nội, tr10.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">Trả hồ sơ dé điều tra bố sung là hoạt động của Viện kiểm sát và Tòa án thực hiện trong giai đoạn truy tố hoặc giai đoạn xét xử sơ thâm khi có căn cứ quy định tại BLTTHS nhằm bổ sung chứng cứ, khắc phục những thiếu sót, vi phạm trong quá trình điều tra, bảo đảm việc giải quyết vụ án khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm. ”
Trên cơ sở xem xét các khái niệm trên, có thé rút ra một số nhận xét về Trả hồ sơ dé điều tra bổ sung như sau:
Thứ nhất, thâm quyền trả hồ sơ dé điều tra bổ sung thuộc về Viện kiểm sát ở giai đoạn truy t6 và thuộc về Tòa án trong giai đoạn xét xử, cụ thé là trong giai đoạn xét xử sơ thâm vụ án hình sự.
Như đã phân tích, tố tụng hình sự Việt Nam có sự phân chia q trình giải quyết vụ án thành các giai đoạn. Sự phân chia này gắn liền với trách nhiệm của từng cơ quan có thâm quyên tiến hành tố tụng... Giai đoạn trước là tiền đề của giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước ''. Bởi vậy, chủ thé tiễn hành tố tụng ở giai đoạn tô tụng sau được trao quyền xem xét lại các hoạt động tố tụng đã được thực hiện ở giai đoạn trước đó và có quyền quyết định trả hồ sơ dé điều tra bổ sung nếu xét thay việc điều tra là thiếu sót hoặc có vi phạm. Hơn nữa, bản chất của hoạt động “tra hô sơ” là đề “điều tra bồ „ng ”, tức thực hiện những hoạt động tô tụng thuộc chức năng của Cơ quan điều tra nên thâm quyền quyết định việc này thuộc về hai chủ thé trên.
Thứ hai, khi trả hồ sơ dé điều tra bố sung, các cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về các trường hợp áp dụng, trình tự, thủ tục thực hiện, hình thức quyết định trả hồ sơ, thâm quyền ban hanh,...khi tiễn hành hoạt động này.
Thứ ba, trả hồ sơ dé điều tra b6 sung được tiến hành trong trường hợp phát hiện những thiếu sót nghiêm trọng hoặc sai lầm nghiêm trọng trong giai đoạn điều tra, ảnh hưởng tới việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Từ hai căn cứ nêu trên, những trường hợp phải trả hồ sơ vụ án dé điều tra bổ sung được cụ thé hóa trong các quy định của BLTTHS và chỉ khi thuộc những trường hợp đó mới được tiễn hành trả hồ sơ.
<small>'S V6 Thị Xuân Hương (2017), Trả hồ sơ dé điều tra bé sung trong giai đoạn truy tố; Luận văn thạc sỹ Luật</small>
<small>học, Đại Học Luật Hà Nội, tr 12.</small>
<small>'* Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tơ tụng hình sự Việt Nam, NXB Cơng An Nhân Dân,</small>
<small>Hà Nội, tr 13</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">Thứ tu, hoạt động trả hồ sơ dé điều tra bố sung thực chất là việc cơ quan tiễn hành t6 tụng có thắm quyền ban hành quyết định tơ tụng chuyền giao hé so vụ án đang được các cơ quan này thụ lý cho cơ quan tố tụng đã giải quyết ở các giai đoạn trước đó theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự để điều tra thêm những van đề cịn thiếu sót hoặc khắc phục những vi phạm trong quá trình tổ tụng nhăm hoàn thiện hồ sơ, đảm bảo việc giải quyết vụ án hình sự có căn cứ, đúng pháp luật. Ở giai đoạn tố tụng nào, điều tra, truy tố hay xét xử thì các cơ quan có thấm qun tiến hành tổ tụng, người có thâm quyền tiễn hành tố tụng khi thực hiện các hành vi tố tụng nhằm giải quyết vụ án đều hướng tới việc chứng minh tội phạm và xác định sự thật khách quan của vụ án. Nếu quá trình giải quyết vụ án hợp pháp, khách quan thì việc chứng minh tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự một người sẽ đúng đắn, đúng người, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. ` Hoạt động trả hồ sơ để diéu tra b6 sung cũng nhằm hướng tới mục đích đó. Chế định trả hồ sơ dé điều tra bố sung trong t6 tụng hình sự là nhằm bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử đầy đủ, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm. Trả hồ sơ điều tra bố sung chính là dé các cơ quan tiến hành tố tụng trước đó bố sung những thiếu sót trong quá trình thu thập, đánh giá chứng cứ và bảo đảm các hoạt động điều tra tuân thủ pháp luật, thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng mà Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định. '6
Nhu vậy, khái niệm trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố có thé hiểu là: Trả hồ sơ để điều tra bồ sung trong giai đoạn truy tơ là hoạt động của Viện kiểm sát có thẩm quyên trong thời hạn truy tô được thực hiện bằng việc chuyển lại hô sơ cho Cơ quan đã tiến hành diéu tra và dé nghị truy tổ, yêu cầu bồ sung chứng cứ và khắc phục những thiếu sót nghiêm trọng hay sai lầm nghiêm trọng trong quá trình điều tra nhằm đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự.
Tuy nhiên, việc trả hồ sơ dé điều tra bé sung trong giai đoạn truy tố chỉ được thực hiện giữa VKS và Cơ quan điều tra chuyên trách. Đối với vụ án do Cơ quan được giao nhiệm vụ tiễn hành một số hoạt động điều tra giải quyết, VKS không trả
<small>hô sơ đê yêu câu điêu tra bô sung cho các cơ quan nảy.</small>
<small>'S Võ Thị Xuân Hương (2017), Trả hồ sơ dé điều tra bé sung trong giai đoạn truy tố; Luận văn thạc sỹ Luật</small>
<small>học, Dai Học Luật Hà Nội, tr.11.</small>
<small>= Hoàng Thị Thùy Linh (2016), Trả hồ sơ dé điều tra bố sung trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc</small>
<small>sỹ Luật học, Đại Học Luật Hà Nội, tr.17</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">1.12. Đặc điểm của hoạt động trả hồ sơ để điều tra bố sung trong giai đoạn truy to
Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm trả hồ sơ để điều tra b6 sung, có thé rút ra một số đặc điểm nôi bật của hoạt động này trong giai đoạn truy tố như sau:
Thứ nhất, về thâm quyền trả hồ sơ vụ án: Đối với hoạt động trả hồ sơ để điều tra bô sung được tiến hành trong giai đoạn truy tố, cơ quan tiến hành tố tụng có thâm quyền xem xét, quyết định vấn đề này là Viện kiểm sát. Kê từ khi tiếp nhận bản kết luận điều tra đề nghị truy tố kèm hồ sơ vụ án, trong thời hạn quyết định việc truy tố, Viện kiểm sát có quyền ban hành các quyết định tố tụng cần thiết theo quy định của BLTTHS nhăm xác định sự thật khách quan của vụ án, một trong số đó là trả hồ sơ dé điều tra bố sung. Cơ quan tố tụng có trách nhiệm thực hiện yêu cầu điều tra bổ sung của Viện kiểm sát là Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Đây là “cơ quan có chức năng chính tiếp nhận, giải quyết thơng tin về tội phạm, tiễn hành diéu tra các tội phạm dé phat hiện, xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội va dé nghị truy tô. ”"”
Quyền hạn trả hồ sơ vụ án của Viện kiểm sát xuất phát từ vi trí, vai trị của cơ quan tiến hành t6 tụng này trong tố tụng hình sự cũng như nhiệm vụ cơ bản đặt ra trong giai đoạn truy tố. Viện kiểm sát là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyên và lợi ích hợp pháp của tơ chức, cá nhân, góp phan bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Trong giai đoạn truy tố, chủ thê duy nhất thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân, pháp nhân là Viện kiểm sát. Nhiệm vụ cơ bản và quan trọng nhất trong giai đoạn truy tố là đảm bảo việc ra quyết định truy t6 cũng như các quyết định cần thiết khác là có căn cứ và hợp pháp. Trong giai đoạn này, Viện kiểm sát cần nghiên cứu, xem xét tất cả những vấn đề mang tính thủ tục tố tụng cũng như những vấn đề thuộc về nội dung vụ án thể hiện qua hồ sơ điều tra nhằm xác định quá trình điều tra vụ án có tn thủ theo đúng các quy định của BLTTHS khơng, có cịn những hạn chế và thiếu sót nào khác cần khắc phục hay không dé kịp thời ra các quyết định tố tung cần thiết nhằm bồ sung và hoàn thiện hồ sơ, khắc phục những vi phạm pháp luật của Cơ quan điều tra, đảm bảo quyết định truy tô bị can đúng đắn, chính xác, tạo cơ sở <small>!” Phạm Mạnh Hùng (chủ biên) (2016), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự, NXB Lao Động, Hà Nội,</small>
<small>tr 67.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">pháp lý vững chắc để tòa án xét xử, đảm bảo lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội, tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của cơng dân. Š Mặt khác, quyền quyết định trả hồ sơ của Viện kiểm sát và trách nhiệm điều tra bổ sung của Cơ quan điều tra cũng thé hiện một đặc điểm của tố tụng hình sự Việt Nam là sự phân chia giai đoạn tố tụng hình sự và mối quan hệ giữa các giai đoạn tố tụng; mỗi giai đoạn tuy độc lập những vẫn nằm trong mối quan hệ khăng khít với nhau và tạo thành hoạt
<small>giai đoạn trước.</small>
Ngoài cơ quan điều tra, cịn có một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiễn hành một số hoạt động điều tra. Tuy nhiên, VKS không trả hồ sơ cho các co quan này mà chỉ trả hồ sơ vụ án yêu cau điều tra bố sung cho Cơ quan điều tra chuyên trách. Đặc điểm này xuất phát từ vị trí, chức năng của các cơ quan nêu trên: Cơ quan điều tra là Cơ quan tiến hành tố tụng, “được thực hiện các hành vi to tung, giải quyết trọn vẹn nhiệm vụ của một hoặc một số chức năng trong tơ tụng hình sự cịn Cơ quan được giao nhiệm vu tiễn hành một số hoạt động diéu tra chỉ được tiễn hành một số hoạt động điều tra khi tội phạm xảy ra trong lĩnh vực minh quản lý và hành vi phạm tội đó cân thiết phải áp dụng ngay các biện pháp ngăn chặn, biện pháp điều tra ban đâu. ”!?” Các cơ quan được giao nhiệm vụ tiễn hành một số hoạt động điều tra được tiến hành điều tra đối với tội phạm ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, chứng cứ và lí lịch người phạm tội rõ ràng ””. Nếu vụ án phải được điều tra bố sung thì khơng cịn được xem là vụ án thuộc trường hợp “rõ ràng” để các cơ quan này tiễn hành điều tra. Do đó, VKS không trả hồ sơ yêu cầu các chủ thê này điều tra bồ sung.
Từ những phân tích trên, có thé thấy việc pháp luật t6 tụng hình sự xác định thâm quyền “tra hồ sơ để điều tra bồ sung trong giai đoạn truy t6” thuộc về Viện kiểm sát là hoàn toàn phù hợp, tạo cơ sở pháp lý quan trọng dé Viện kiểm sát thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện đúng và đầy đủ những yêu cầu điều tra bổ sung của Viện kiểm sát; đảm bảo mọi hoạt động điều tra phải tôn trọng sự thật, tiễn hành khách quan, toàn diện và đây đủ. <small>'3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Cơng An Nhân Dân,</small>
<small>Hà Nội, tr 368</small>
<small>' Nguyễn Hoà Binh (chủ biên) (2016), Những nội dung mới trong Bộ luật Tổ tụng hình sự năm 2015, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 109.</small>
<small>°° Từ Điều 32 đến Điều 39 Luật tô chức cơ quan điều tra hình sự.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">Thứ hai, những thiêu sót, sai lầm của Cơ quan tiễn hành tố tụng thuộc trường hợp phải trả hồ sơ vụ án dé điều tra bổ sung là những thiếu sót nghiêm trọng hoặc sai lầm nghiêm trọng trong giai đoạn điều tra, ảnh hưởng đến việc giải quyết đúng dan vụ án hình sự. Những thiếu sót, sai lầm nghiêm trọng là căn cứ để trả hồ sơ vụ án được cụ thê hóa thành các quy định của BLTTHS về các trường hop trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố. Nếu những thiếu sót hay sai lầm trong qua trình điều tra khơng đến mức “nghiêm trọng”, tức có thé được khắc phục bang cách thực hiện các hoạt động tố tụng khác nham đảm bảo quá trình điều tra vụ án được khách quan, tồn diện, đầy đủ thì việc Viện kiểm sát trả hồ sơ dé điều tra bổ sung là khơng thực sự can thiết. Do đó, chỉ khi có căn cứ là phát hiện những thiếu sót nghiêm trọng hoặc sai lầm nghiêm trọng của Cơ quan điều tra, ảnh hưởng tới việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, Viện kiểm sát mới quyết định trả hồ so dé điều tra bố sung trong giai đoạn truy tố. Đặc điểm này đặt ra yêu cầu cần quy định chặt chẽ các trường hợp trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong Bộ luật tố tụng hình sự, hạn chế việc trả hồ sơ khơng có căn cứ, không cần thiết với việc giải quyết vụ án, kéo dài thời gian tố tung.
Thứ ba, trả hồ sơ dé điều tra bố sung trong giai đoạn truy tô phải tuân thủ các quy định của pháp luật t6 tụng hình sự. Chế định trả hồ sơ vụ án được quy định trong BLTTHS, bao gồm những van đề về thâm quyên, trường hợp áp dụng, trình tự, thủ tục tiến hành. Do đó, việc Viện kiểm sát quyết định trả hồ sơ vụ án dé điều tra b6 sung bắt buộc phải tuân thủ những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Đây là đặc điểm cơ bản và mang tính tất yếu của chế định này. Đặc điểm này phản ánh một nguyên tac hết sức quan trọng trong tố tụng hình sự là bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự. Theo đó, Cơ quan có tham quyền tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng hình sự phải nghiêm chỉnh tuân thủ những quy định của BLTTHS, không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngồi những căn cứ và trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế cũng như biện pháp nghiệp vụ trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm nhất thiết phải theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm cưỡng chế chỉ áp dụng với người phạm tội, nghiêm cắm làm oan người vô tội. Tất <small>cả các quyét định của cơ quan, người có thâm qun tiên hành tơ tụng đêu dựa trên</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">cơ sở pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự.”' Bên cạnh đó, xuất phát từ vai trị của Viện kiểm sát - cơ quan tô tụng quyết định trả hồ sơ trong giai đoạn nay - là cơ quan có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ich hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phan bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất cũng như nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn truy tố (đảm bảo việc ra quyết định truy tố cũng như các quyết định cần thiết khác là có căn cứ và hợp pháp), trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc tuân thủ các quy định của BLTTHS khi tiễn hành mọi hoạt động tố tụng (bao gồm cả trả hồ sơ dé điều tra bổ sung) là đặc trưng cơ bản, mang tính bắt buộc, tất yếu. Mặt khác, mục đích chung của hoạt động trả hồ sơ vụ án nhằm bổ sung những thiếu sót trong q trình thu thập, đánh giá chứng cứ cũng như đảm bảo hoạt động tổ tụng tuân thủ pháp luật; nếu hoạt động trả hồ sơ vụ án dé điều tra bố sung không được tiến hành đúng theo quy định pháp luật, tức những thiếu sót, vi phạm pháp luật vẫn tiếp tục tồn tại, thì mục đích của hoạt động trả hồ sơ chắc chăn không thê đạt được; gây ảnh hưởng tới <small>việc xác định sự thật khách quan vụ án.</small>
Thứ tur, về nội dung, mục đích của hoạt động trả hồ sơ để điều tra bô sung trong giai đoạn truy tố: Như đã phân tích, Viện kiểm sát là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Hoạt động trả hồ so dé điều tra bố sung trong giai đoạn truy tổ được xem là một trong những công cu quan trọng dé Viện kiểm sát thực hiện quyền năng được trao. Chế định này trao cho Viện kiểm sát cũng như Co quan điều tra cơ hội dé bồ sung, khắc phục, sửa chữa những vi phạm, thiếu sót nghiêm trọng trong quá trình điều tra vụ án hình sự; đảm bảo việc ban hành quyết định truy tố cũng như những quyết định khác cần thiết cho việc giải quyết vụ <small>án có căn cứ và đúng pháp luật. Đây chính là nhiệm vụ cơ bản được đặt ra trong giai</small> đoạn truy tô - giai đoạn tô tụng mà Viện kiểm sát đóng vai trị hết sức quan trọng. Như vậy, trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố chính là một hoạt động tố tụng nhằm loại bỏ vi phạm pháp luật trong quá trình tiễn hành tơ tụng, củng có chứng cứ dé quyết định xử lý đối với tội phạm, bảo đảm việc điều tra vụ án cũng như truy tố được khách quan, toàn diện, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, <small>không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm.</small>
<small>?' Trường Dai học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Cơng An Nhân Dân,</small>
<small>Hà Nội, tr 63</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">1.2. Ý nghĩa của việc trả hồ sơ để điều tra bố sung trong giai đoạn truy tố Có thé nói, chế định “trad hồ sơ dé diéu tra bồ sung trong giai đoạn truy tố” có ý nghĩa rất quan trọng, khơng những góp phần bảo đảm thực hiện nhất quán, triệt dé các nguyên tắc của BLTTHS mà còn góp phan nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; hạn chế oan sai, bỏ lọt tội phạm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Ý nghĩa của chế định này được thê hiện ở các phương diện cụ thể sau:
- Quy định và thực hiện quy định của pháp luật to tụng hình sự về trả hơ sơ dé điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tơ góp phần thực hiện ngun tắc bảo dam pháp chế xã hội chủ nghĩa trong to tụng hình sự;
Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc bao trùm nhất được thể hiện trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự, từ những quy định chung cho đến những quy định cụ thể. Đây là nguyên tắc pháp lý cơ bản nhất trong hoạt động của cơ quan, tổ chức và công dân được quy định tại Điều § Hiến pháp năm 2013 “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quan lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ ”.”
Nguyên tắc này một lần nữa được ghi nhận tại Điều 7 BLTTHS năm 2015: “Mọi hoạt động to tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định cua Bộ luật nay. Không được giải quyết nguôn tin về tội phạm, khởi to, điều tra, truy tơ, xét xử ngồi <small>những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định. ” Theo đó, các cơ quan,</small> người có thầm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tat cả quyết định của co quan, người có thâm quyền tiến hành tố tụng đều phải dựa trên co sở của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự”. Hoạt động của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng khơng nằm ngồi phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc này. Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi các cơ quan tiễn hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng khi tiễn hành các hoạt động tố tụng đối với các vụ án hình sự cụ thể phải đảm bảo cho các giai đoạn tố tụng hình sự diễn ra trong thực tế theo đúng trình tự đã được quy định, mọi vi phạm đều phải bị phát hiện, xử lý và khắc phục hậu
<small>? Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Cơng An Nhân Dân,</small>
<small>Hà Nội, tr 62</small>
<small>3 Trường Dai học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Công An Nhân Dân,</small>
<small>Hà Nội, tr 63</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">quả”. Việc cơ quan tiễn hành tố tụng thực hiện không đúng hoặc không day đủ những quy định của BLTTHS trong q trình giải quyết vụ án chính là biéu hiện của việc vi phạm nguyên tắc bảo đảm pháp chế; không chỉ ảnh hưởng tới việc xác định sự thật khách quan của vụ án mà còn ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tơ tụng, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức va cơng dân. Do đó, BLTTHS đặt ra chế định trả hồ sơ dé điều tra bổ sung nói chung và quy định về quyền trả hồ sơ vụ án trong giai đoạn truy tơ nói riêng nhằm bé sung, khắc phục những thiếu sót, vi phạm trong q trình tố tụng là hồn tồn phù hợp và cần thiết, tạo cơ sở thực hiện có hiệu quả nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự.
- Quy định và thực hiện quy định của pháp luật tơ tụng hình sự về tra hồ sơ để điều tra bồ sung trong giai đoạn truy tơ góp phần bảo dam việc thực hiện nguyên tắc xác định sự thật vụ án;
Đây là một trong những nguyên tắc đặc thù của Tố tụng hình sự Việt Nam, được ghi nhận tại điều 15 BLTTHS năm 2015: “Trdch nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm qun tiến hành tơ tụng. Người bị buộc tội có qun nhưng khơng buộc phải chứng minh là mình vơ tội. Trong phạm vi nhiệm vụ, qun han của mình, cơ quan có thẩm quyên tiễn hành tô tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và day du, làm rõ chứng cứ xác định có tội va chứng cứ xác định vô tội, tinh tiét tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc toi”.
Đây được coi là nguyên tắc cơ bản của hoạt động tố tụng hình sự, là tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự.” Dé hoạt động đấu tranh chống tội phạm có hiệu quả, mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện va xử lý, BLTTHS đã ghi nhận nguyên tắc này với nội dung sau: Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng moi biện pháp hợp pháp dé xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội, xác định vơ tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội. Trong <small>q trình tiên hành tơ tụng, điêu tra viên, kiêm sát viên, thâm phán và hội thâm</small>
<small>? Võ Thị Xuân Hương (2017), Trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố; Luận văn thạc sỹ Luật</small>
<small>học, Đại Học Luật Hà Nội, tr 15.</small>
<small>3 Võ Thị Xuân Hương (2017), Trả hồ sơ dé điều tra bồ sung trong giai đoạn truy tố; Luận văn thạc sỹ Luật</small>
<small>học, Đại Học Luật Hà Nội, tr 16.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">không được thiên vị, định kiến, phải thu thập và đánh giá chứng cứ trên tất cả các phương diện, cân nhắc kỹ mọi tình tiết có thể làm ảnh hưởng đến việc giải quyết đúng đắn vụ án. Moi tình tiết thu được trong quá trình điều tra, xét xử đều được đánh giá trên cơ sở pháp lí dé rút ra kết luận về vụ án. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan có thấm quyền tiến hành tơ tụng. Người bị buộc tội khơng buộc phải chứng minh là mình vô tội... Muốn xác định được người bị buộc <small>tội có tội hay khơng thì phải dựa trên cơ sở những chứng cứ đã thu được trong vụ án</small> dé xem xét.“
Như vậy, trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan tiễn hành tố tụng, tức <small>những cơ quan này đóng vai trị chủ đạo trong việc xác định sự thật khách quan của</small> vụ án hình sự, phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp dé thực thi nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Hoạt động trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tô của Viện kiểm sát là một hoạt động tổ tụng nhằm xác định sự thật khách quan của vụ an. Căn cứ dé tiến hành hoạt động này là việc Viện kiêm sát phát hiện hoạt động điều tra chưa đầy đủ, còn bỏ lọt tội phạm, người phạm tội hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra. Viện kiểm sát quyết định trả hồ sơ vụ án nhằm kịp thời khắc phục những thiếu sót và vi phạm của Cơ quan điều tra, đảm bảo việc giải quyết vụ án có căn cứ, đúng pháp luật. Kết quả điều tra bô sung có thé làm gia tăng tính tồn diện, đa dạng và đặc biệt là sự sáng tỏ của hệ thống nguồn chứng cứ - nền tảng vững chắc bảo đảm cho hoạt động chứng minh tội phạm được khách quan, chính xác, mang tính thuyết phục””; từ đó góp phan quan trọng vào việc xác <small>định sự thật khách quan của vụ án hình sự.</small>
- Quy định về trả hồ sơ đề điều tra bồ sung trong giai đoạn truy tơ góp phan đảm bảo thực hiện ngun tắc tơn trọng, bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của người tham gia to tụng;
Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013, nguyên tắc nay được ghi nhận tại Điều 8 BLTTHS năm 2015 như sau: “Khi tiến hành tô tụng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyên han của minh, cơ <small>quan, người có thâm quyên tiên hành tô tụng phải tôn trong và bảo vệ quyên con</small>
<small>? Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Cơng An Nhân Dân,</small>
<small>Hà Nội, tr 52 — 53.</small>
<small>“ Nguyễn Phúc Lưu (2006), Tra hồ sơ dé điều tra bố sung, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chi dan</small>
<small>chủ và pháp luật, (11), tr 35</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">người, quyên và lợi ích hợp pháp của cá nhân; thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kip thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc khơng cịn can thiết. ”
Nội dung của nguyên tắc này là xác định trách nhiệm của những người có thâm quyên tiến hành tố tụng trong việc tôn trọng và bảo vệ các quyền con ngươi, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân: phải tôn trọng va bảo vệ các quyền con người, quyên và lợi ích hợp pháp của cá nhân tham gia tố tụng; chỉ áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tung trong những trường hợp cần thiết và theo đúng quy định của pháp luật; phải thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cân thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc khơng cịn cần thiết nữa, cần kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó.”
Hoạt động trả hồ sơ dé điều tra bố sung trong giai đoạn truy tố chính là một trong những biểu hiện cũng như cơ sở đảm bảo thực hiện nguyên tắc này. Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà cịn có những sai
- Trả hô sơ dé điều tra bồ sung trong giai đoạn truy tơ góp phan nâng cao tinh thân trách nhiệm của cơ quan tiễn hành tô tụng, người tiễn hành tô tụng trong hoạt động điều tra, fruy to;
Pháp luật tổ tụng hình sự ln đòi hỏi những cơ quan, người tiến hành tố <small>tụng phải nêu cao tinh trách nhiệm trong việc thực thi nhiệm vụ được giao, dam bao</small> giải quyết vụ án hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vẫn đề này được quy định tại Điều 17 BLTTHS năm 2015 “7rong q trình tiễn hành tơ tụng, cơ quan, người có thẩm qun tiễn hành tơ tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm vê hành vi, quyết định của mình. Người vi phạm pháp luật trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bat, giam, giữ, khởi tố, <small>* Trường Dai học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Cơng An Nhân Dân,</small>
<small>Hà Nội, tr 65.</small>
<small>? Võ Thị Xuân Hương (2017), Trả hồ sơ dé điều tra bé sung trong giai đoạn truy tố; Luận văn thạc sỹ Luật</small>
<small>học, Đại Học Luật Hà Nội, tr 20.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">diéu tra, truy to, xét xử, thi hành án thì tuỳ tinh chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ <small>luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật ”.</small>
Trên cơ sở chú trọng van đề trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Cơ quan điều tra, BLTTHS năm 2015 quy định Viện kiểm sát có quyền trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố. Nếu hoạt động điều tra khơng đảm bảo tồn diện, khách quan, day đủ, Cơ quan điều tra sẽ phải tiễn hành bồ sung, khắc phục những thiếu sót, vi phạm trong quá trình điều tra theo yêu cầu của Viện kiểm sát. Quy định này đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải thận trong trong việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ làm cơ sở giải quyết vụ án hình sự; buộc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải thực sự nghiêm túc, khách quan khi tiến hành tố tụng, đảm bảo giải quyết vụ án hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Trả hồ sơ dé điều tra bồ sung trong giai đoạn truy t6 cịn góp phan hạn chế oan sai, bỏ lọt tội phạm; bảo vệ quyén con người, qun cơng dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyên và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Chế định “Tra hồ so dé diéu tra bổ sung ” được xem là một công cụ hiệu quả dé VKS thực hiện nhiệm vụ được giao trong tố tụng hình sự. Đây là cơ hội dé Viện kiểm sát loại bỏ vi phạm trong quá trình điều tra cũng như củng cố xác định chứng cứ dé quyết định xử lý đối với tội phạm, đảm bảo cho việc điều tra vụ án cũng như truy tổ được khách quan, toàn diện, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật”; từ đó, góp phần quan trọng vào việc hạn chế oan sai, bỏ lọt tội phạm trong tố tụng hình sự. Trong thực tế, van cịn tơn tại các trường hợp bị can bị bức cung, dùng nhục hình hoặc hình sự hóa các quan hệ dân sự dẫn đến truy cứu trách nhiệm hình sự khơng chính xác. Do đó, cần thiết phải có những biện pháp kiểm tra, phát hiện và sửa chữa mà một trong số đó là hoạt động trả hồ sơ vụ án của Viện kiểm sát. Trên cơ sở đó, hoạt động này của Viện kiểm sát cũng góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ich của Nhà nước, quyền và lợi ich hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Trả hồ sơ vụ án góp phần đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử được đầy đủ, khách quan, toàn diện, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không chỉ hướng tới bảo vệ lợi ích cơng mà cịn đảm bảo quyền con người, quyền cơng dân, qun và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân được tôn trọng và thực thi. Day <small>°° Võ Thị Xuân Hương (2017), Trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố; Luận văn thạc sỹ Luật</small>
<small>học, Đại Học Luật Hà Nội, tr 13.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">la những vấn dé dang được quan tâm không chi ở Việt Nam mà cịn trên thé giới. Ngồi ra, hoạt động này cịn góp phần đảm bảo uy tín của cơ quan tiễn hành tố tụng, hạn chế việc phải bồi thường do oan, sai và góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất.
1.3. Khái quát lich sử quy định về trả hồ sơ để điều tra bố sung trong giai đoạn truy tố
Việc trả hồ sơ điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố được quy định lần đầu tại BLTTHS năm 1988. Cụ thể, khi xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát đối với hoạt động điều tra, khoản 3 Điều 141 BLTTHS năm 1988 ghi nhận Viện kiểm sát có quyền “dé ra yêu cẩu điều tra, trả lại hô sơ vụ án yêu câu điêu tra bố sung, yêu cầu cơ quan diéu tra cung cấp tài liệu cân thiết về tội phạm và việc làm vi phạm pháp luật của diéu tra viên, nếu có ”.
Tiếp đó, Điều 142 BLTTHS năm 1988 khi quy định về những quyết định Viện kiểm sát có thẩm quyền ban hành trong giai đoạn truy tố gồm có “bản cáo trạng, quyết định trả hô sơ dé điều tra bồ sung, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án”. Ngoài ra, Bộ luật cũng quy định thời hạn điều tra bố sung tại Điều 98, cụ thé: “Trong trường hợp vụ án do Viện kiểm sát trả lai dé điều tra bồ sung thì thời hạn điều tra bồ sung khơng được q hai tháng; nếu do Tồ án trả lại để điều tra bồ sung thì thời hạn diéu tra bồ sung không được quá một tháng. Thời hạn diéu tra bồ sung tinh từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hô sơ vụ án và yêu cau điều tra”.
BLTTHS năm 1988 đã ghi nhận quyền “trả hồ sơ để điều tra b6 sung” của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố nhưng chỉ dừng lại ở việc đưa ra những quy định chung. Trải qua hai lần sửa đổi, bố sung vào các năm 1990 và 1992, Bộ luật mới có bố sung một số quy định về căn cứ thực hiện việc trả hồ sơ điều tra bé sung, duoc quy dinh tai Điều 143a, cụ thé:
“Diéu 143a. Tra hồ sơ dé điều tra bồ sung.
Viện kiểm sát ra quyết định trả hô sơ cho Cơ quan diéu tra dé diéu tra bồ sung khi qua nghiên cứu hô sơ vụ án phát hiện thấy:
1. Còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát khơng thể tự mình bồ sung được;
2. Có căn cứ dé khởi tổ bị can về một tội khác hoặc có người đồng phạm <small>khác;</small>
3. Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục to tụng.
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">Những vấn dé cần được điều tra bỏ sung phải được nói rõ trong quyết định yêu câu diéu tra bồ sung.”
Tiếp đó, vào lần sửa đổi bố sung năm 2000, Bộ luật tiếp tục quy định cụ thé thời hạn điều tra b6 sung và số lần Viện kiểm sát trả hồ sơ điều tra bố sung cho Cơ quan điều tra tại Điều 98, cụ thể: “7rong rường hợp vụ án do Viện kiểm sát trả lại để diéu tra bồ sung thì thời hạn diéu tra bồ sung không quá hai tháng; nếu do Tồ án trả lại dé điều tra b6 sung thì thời hạn điều tra bồ sung không quá một tháng. Viện kiểm sát hoặc Toà án chỉ được trả lại hô sơ đề diéu tra bồ sung không quá hai lan. Thời hạn điều tra bồ sung tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hỗ sơ vụ án và yêu cau điều tra”.
Có thê thay, trải qua nhiều lần sửa đôi, b6 sung, BLTTHS năm 1988 đã bước đầu quy định một số van dé chung về hoạt động trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tổ của Viện kiểm sát như thâm quyền tiến hành, căn cứ xem xét quyết định việc trả hồ sơ, số lần trả hồ sơ giữa Viện kiểm sát - Cơ quan điều tra và thời hạn điều tra b6 sung. Tuy nhiên, những vấn dé này vẫn dừng ở mức hướng dẫn chung, chưa có giải thích chi tiết những vấn đề cịn vướng mắc trong thực tiễn tố tụng dé đảm bảo việc thực hiện, chưa có quy định cụ thé về hình thức quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung cũng như nghĩa vụ của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện yêu cầu điều tra bố sung của Viện kiểm sát.
Trên cơ sở kế thừa những ưu điểm và khắc phục một số hạn chế của BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 quy định về van đề này tương đối chỉ tiết và day đủ, thé hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, về thầm quyền xem xét, quyết định trả hồ sơ dé điều tra bé sung: BLTTHS năm 2003 tiếp tục ghi nhận thâm quyền tiến hành hoạt động này trong giai đoạn truy tố thuộc về Viện kiểm sát. Cụ thể hơn, theo quy định tại khoản 2 Điều 36 BLTTHS năm 2003, quyền quyết định trả hồ sơ dé điều tra bố sung thuộc về Viện trưởng Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự
Thứ hai, về căn cứ quyết định trả hồ sơ điều tra b6 sung: BLTTHS năm 2003 quy định về các căn cứ Viện kiểm sát trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra dé điều tra bố sung trong giai đoạn truy tô tại Điều 168. Cụ thê:
Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra dé điều tra bổ sung khi nghiên cứu hồ sơ vụ án phát hiện thấy: Còn thiếu những chứng cứ quan <small>trọng đôi với vụ án mà Viện kiêm sát khơng thê tự mình bơ sung được; Có căn cứ</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">dé khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác; Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Những van dé cần được điều tra bổ sung phải được nêu rõ trong quyết định trả hồ sơ dé điều tra bố sung.
Về cơ bản, quy định trên khơng có khác biệt so với quy định của BLTTHS năm 1988. Tuy nhiên, thay vì chỉ có quy định chung, vấn đề này cịn được giải thích, hướng dẫn tại Thơng tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC- TANDTC-BCA ngày 27/8/2010. Thông tư liệt kê các trường hợp được xác định là căn cứ để Viện kiểm sát quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung nhằm đảm bảo áp dụng thống nhất trên thực tiễn.
Thứ ba, về thời hạn quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung, thời hạn điều tra bố sung và số lần trả hé sơ:
Thời hạn điều tra bố sung được quy định tại khoản 2 điều 121 BLTTHS năm 2003. Theo đó, trong trường hợp vu án do Viện kiểm sát trả lại dé điều tra bố sung thì thời hạn điều tra bố sung khơng q hai thang; nếu do Tồ án trả lại dé điều tra bồ sung thi thời hạn điều tra bố sung không quá một tháng. Viện kiểm sát hoặc Toà án chỉ được trả lại hồ sơ dé điều tra b6 sung không quá hai lần. Thời hạn điều tra bơ sung tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra.
Việc BLTTHS năm 2003 quy định cụ thể số lần trả hỗ sơ và thời hạn điều tra bồ sung góp phan hạn chế tinh trạng trả hồ sơ nhiều lần, tràn lan và khắc phục tình trạng kéo dài việc điều tra bổ sung, ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Thứ tw, về hình thức quyết định trả hồ sơ điều tra bố sung:
Hình thức quyết định trả hồ sơ dé điều tra bố sung được quy định tại Điều 6 Thông tư liên tịch số 01/2010: Việc trả hồ sơ dé điều tra b6 sung phải ra quyết định băng văn bản và do người có thâm quyền theo quy định của pháp luật ký. Trong quyết định trả hồ sơ dé điều tra bổ sung phải ghi số, ngày, tháng, năm và lần trả hồ sơ (thứ nhất hoặc thứ hai). Trong phan nội dung phải ghi cụ thể “nhitng chứng cứ quan trong đối với vụ án” cần phải điều tra bố sung, “toi phạm khác hoặc người dong phạm khác ” phải khởi tô, truy tỗ hoặc “những vi phạm nghiêm trọng thủ tục to tung” cần được khắc phục và nêu rõ căn cứ pháp luật quy định tại một trong các khoản 1, 2 và 3 Điều 168 hoặc một trong các điểm a, b và c khoản 1 Điều 179
Những van đề đã được điều tra bổ sung nhưng chưa đạt yêu cầu của Viện kiểm sát; Những vấn đề mới cần điều tra do phát sinh từ kết quả điều tra bố sung, trong qua trình giải quyết vụ án hình sự.
Thr năm, về việc thực hiện quyết định điều tra bố sung của Viện kiểm sát. Theo quy định tại Điều 114 BLTTHS năm 2003, Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát. Theo đó, Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các yêu cầu nêu trong quyết định trả hồ sơ dé điều tra bố sung của Viện kiểm sát theo quy định tại Điều 114 của BLTTHS; nếu thay quyết định trả hồ sơ dé điều tra bổ sung của Viện kiểm sát không có căn cứ theo hướng dẫn tại các điều 1, 2 và 4 của Thơng tư này thì sau khi nhận hồ sơ vụ án Cơ quan điều tra phải có văn bản nêu rõ lý do, quan điểm đối với việc giải quyết vụ án và chuyên lại hồ sơ cho Viện kiểm sát... Sau khi kết thúc điều tra bố sung, Cơ quan điều tra phải có bản kết luận điều tra bổ sung, trong đó kết luận rõ đối với từng van đề điều tra b6 sung và quan điểm giải quyết vụ án. Nếu kết quả điều tra bổ sung
Tóm lại, từ những phân tích trên, có thể khẳng định: Từ BLTTHS năm 1988 đến BLTTHS năm 2003, hoạt động “Tra hồ sơ dé diéu tra bồ sung trong giai đoạn truy tô” đã được quy định theo hướng ngày càng hoàn thiện, đầy đủ. Không chỉ kế thừa những ưu điểm, BLTTHS năm 2003 còn khắc phục được hạn chế trong cách quy định của những văn bản pháp luật trước đó và có hướng dan chi tiết về van dé này nhằm đảm bảo việc áp dung thống nhất, đúng đắn trên thực tiễn.
Kết luận chương I
1. Qua nghiên cứu, phân tích một số van dé lý luận về giai đoạn truy tố cũng như khái niệm, đặc điểm của hoạt động trả hồ sơ dé điều tra bô sung, luận văn đã đưa ra được khái niệm trả hồ sơ dé điều tra bố sung trong giai đoạn truy tố. Từ đó, luận văn đã làm rõ một số đặc điểm của hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố liên quan đến các van đề về thâm quyền, trình tự, thủ tục và <small>mục đích của hoạt động này.</small>
2. Trả hồ sơ dé điều tra b6 sung trong giai đoạn truy tố có ý nghĩa quan trọng cả về mặt pháp lý cũng như thực tiễn, chế định này đã góp phần đảm bảo thực hiện <small>3' Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2010</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">một số nguyên tắc quan trong của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam như nguyên tac bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tơ tụng hình sự, ngun tắc xác định sự thật vụ án và nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tơ tụng. Bên cạnh đó, Trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố góp phần nâng cao tỉnh thần trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiễn hành tố tụng trong hoạt động điều tra, truy tố; góp phần hạn chế oan sai, bỏ lọt tội phạm, bảo vệ quyền con người, quyền cơng dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thông nhất.
3. Chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tổ được ghi nhận lần đầu tại BLTTHS năm 1988, từng bước được sửa đổi, bổ sung trước khi được quy định tương đối chỉ tiết, cụ thể tại BLTTHS năm 2003 và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC- TANDTC-BCA ngày 27/8/2010. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng đảm bảo hoạt động trả hồ sơ dé điều tra bố sung trên thực tiễn được thực hiện đúng đắn.
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32"><small>Chương 2</small>
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỎ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VÉ TRA HO SƠ DIEU TRA BO SUNG TRONG GIAI DOAN TRUY TO 2.1. Quy định về trả hồ sơ dé điều tra bd sung trong giai đoạn truy tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
2.1.1. Các trường hop trả hồ sơ điều tra bố sung trong giai đoạn truy to Việc xác lập các trường hợp ban hành quyết định trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố là hết sức cần thiết. Nếu BLTTHS khơng có quy định về vấn đề này hoặc quy định khơng chặt chẽ sẽ dẫn tới tình trạng trả hồ sơ vụ án tràn lan, tùy tiện; không chỉ kéo dài thời gian giải quyết vụ án, làm ảnh hưởng tới lợi ich nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân mà cịn ảnh hưởng tiêu cực tới quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát - Cơ quan điều tra, gây mat uy tín của Cơ quan tiến hành tố tụng. Các trường hop trả hồ sơ dé điều tra bố sung trong giai đoạn truy t6 được quy định tại khoản 1 Điều 245 BLTTHS năm 2015. Cụ thé:
Thứ nhất, còn thiếu chứng cứ dé chứng minh một trong những vấn dé quy định tại Điều 85 của Bộ luật tổ tụng hình sự mà Viện kiểm sát khơng thể tự mình bồ <small>sung được;</small>
Theo quy định của pháp luật, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thầm quyền tiến hành tố tung. Người bị buộc tội có quyền nhưng khơng buộc phải chứng minh là mình vơ tội. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan tiễn hành tô tụng phải áp dung các biện pháp hợp pháp dé xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vơ tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội. Muốn xác định được người bị buộc tội có tội hay không, cơ quan tô tụng phải dựa trên những chứng cứ đã thu được dé xem xét”.
Do không trực tiếp chứng kiến sự việc phạm tội nên cơ quan có thâm quyền tiến hành tố tung chi dựa vào các thông tin liên quan đến đối tượng chứng minh được thu thập theo trình tự, thủ tục luật định để kết luận về các tình tiết nhằm giải quyết đúng đắn vụ án. Nội dung của quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự là thu thập, kiểm tra và đánh giá các thông tin, tư liệu liên quan và có ý nghĩa đối với
<small>3 Trường Dai học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Cơng An Nhân Dân,</small>
<small>Hà Nội, tr 53.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">việc giải quyết vụ án.” Nói cách khác, q trình chứng minh phải làm sáng tỏ tất cả những van đề có liên quan đến đối tượng chứng minh trong tố tụng hình sự - tức “tat cả những tình tiết phải được xác định đảm bảo cho việc giải quyết đúng dan, khách quan, tồn diện vụ án hình sự. ””“ Việc làm rõ những nội dung này góp phan xác định đúng đắn phạm vi, giới hạn chứng minh; đảm bảo quá trình chứng minh được tồn diện, đầy đủ, chính xác, tránh tràn lan, dàn trải, gây mất thời gian và tốn kém chi phi. Theo quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015, khi điều tra, truy t6 và xét xử vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh những vấn đề: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay khơng có lỗi, do cơ ý hay vơ ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay khơng; mục đích, động cơ phạm tội; Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; Nguyên nhân và điều kiện phạm tội; Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn <small>hình phạt.</small>
Để làm sáng tỏ tất cả những van dé cần phải chứng minh, co quan tố tung phải trải quá một quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá tất cả các thông tin, tài liệu phản ánh sự kiện phạm tội, phản ánh các yếu tố khách quan, chủ quan của tội phạm và các yếu tố liên quan đến người phạm tội. Những thơng tin đó được gọi chung là “chứng cứ”. Đây được coi là phương tiện duy nhất được cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng dé chứng minh trong tố tụng hình sự. Thơng qua việc phát hiện chứng cứ, xem xét và ghi nhận chứng cứ về mặt tố tụng, kiểm tra tính xác thực của chứng cứ, đánh giá chứng cứ, cơ quan tiễn hành tố tụng có thể nghiên cứu day đủ và tồn diện các tình tiết của vụ án, xác định sự phù hợp của chúng với hiện thực từ đó tìm ra chân lý khách quan.” Khái niệm chứng cứ được ghi nhận tại Điều 86 BLTTHS năm <small>2015: Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật</small> này quy định, được dùng làm căn cứ dé xác định có hay khơng có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải <small>3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Cơng An Nhân Dân,</small>
<small>Hà Nội, tr 216.</small>
<small>* Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Công An Nhân Dân,</small>
<small>Hà Nội, tr 217.</small>
<small>* Võ Thị Xuân Hương (2017), Trả hồ sơ dé điều tra bổ sung trong giai đoạn truy tố; Luận văn thạc sỹ Luật</small>
<small>học, Đại Học Luật Hà Nội, tr 25.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">quyết vụ án. Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn: “Vat chứng; Lời khai, lời trình bày; Dữ liệu điện tử; Kết luận giảm định, định gia tài san; Biên bản trong hoạt động khởi 16, điều tra, fruy tô, xét xử, thi hành án; Kết quả thực hiện uy thác tu pháp và hợp tác quốc tế khác; Các tài liệu, đồ vật khác ””°
Trong quá trình điều tra, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể xảy ra một số trường hợp thiếu sót chứng cứ cần thiết làm sáng tỏ những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự. Những trường hợp sau đây được coi là thiếu chứng cứ để chứng minh một trong những van đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật tơ tụng hình
- Chứng cứ dé chứng minh “có hành vi phạm tội xảy ra hay không” là chứng cứ dé xác định hành vi đã xảy ra có đủ yếu tố cau thành tội phạm cụ thể được quy <small>định trong Bộ luật Hình sự hay thuộc các trường hợp khơng phải là hành vi phạm tội</small> (quan hệ dân sự, kinh tế, vi phạm hành chính và các trường hợp khác theo quy định <small>của luật);</small>
- Chứng cứ dé chứng minh “thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội” là chứng cứ xác định nếu có hành vi phạm tội xảy ra thì xảy ra <small>vào thời gian nào, ở đâu; phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện thực hiện tội</small> phạm như thế nào;
- Chứng cứ đề chứng minh “ai là người thực hiện hành vi phạm tội” là chứng cứ xác định một chủ thé cụ thé đã thực hiện hành vi phạm tội đó;
- Chứng cứ để chứng minh “có lỗi hay khơng có lỗi” là chứng cứ xác định chủ thé có lỗi hoặc khơng có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội; nếu có lỗi thì là lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi cé ý gián tiếp hoặc lỗi vô y do quá tự tin hay lỗi vô ý do cầu thả theo quy định tại Điều 10 và Điều 11 của Bộ luật Hình sự;
- Chứng cứ để chứng minh “có năng lực trách nhiệm hình sự khơng” là chứng cứ xác định khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự chưa; có mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mat khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình hay khơng; nếu có thi mắc bệnh đó vào thời gian nao, trong giai đoạn tố tụng nào;
- Chứng cứ dé chứng minh “mục đích, động cơ phạm tội” là chứng cứ xác định chủ thé thực hiện hành vi phạm tội với mục đích, động cơ gì; mục đích, động <small>* Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015</small>
<small>3” khoản 2 Điều 3 Thơng tư liên tịch 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">cơ phạm tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hay là tình tiết định tội, tình tiết định khung hình phạt;
- Chứng cứ để chứng minh “tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách <small>nhiệm hình sự của bị can, bị cáo” là chứng cứ xác định bị can, bị cáo được áp dụng</small> tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 51, Điều 84 của Bộ luật Hình sự hoặc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nao quy định tại Điều 52, Điều 85 của Bộ luật Hình sự;
- Chứng cứ dé chứng minh “đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo” là chứng cứ xác định lý lịch của bi can, bi cáo; nếu bị can, bị cáo là pháp nhân thương mại thì phải chứng minh tên, địa chỉ và những vấn đề khác có liên quan đến địa vị <small>pháp lý và hoạt động của pháp nhân thương mại;</small>
- Chứng cứ đề chứng minh “tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra” là chứng cứ dé đánh giá tính chất, mức độ thiệt hại, hậu quả về vật chat, phi vật chất do hành vi phạm tội gây ra;
- Chứng cứ dé chứng minh “nguyên nhân và điều kiện phạm tội” là chứng cứ xác định nguyên nhân chủ quan, khách quan, điều kiện cụ thể dẫn đến việc chủ thé <small>thực hiện hành vi phạm tội;</small>
- Chứng cứ để chứng minh “những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt” là chứng cứ chứng minh những vấn đề được quy định tại các điều 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 59, 88 và các điều luật khác của Bộ luật Hình sự;
- Chứng cứ khác dé chứng minh một hoặc nhiều van đề quy định tại Điều 85 của BLTTHS mà thiếu chứng cứ đó thì khơng có đủ căn cứ để giải quyết vụ án, như: chứng cứ dé xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi; chứng cứ dé chứng minh vi trí, vai trị của từng bị can, bị cáo trong trường hợp đồng phạm hoặc phạm tội có tô chức; chứng cứ để xác định trách nhiệm dân sự của bị can, bị cáo và những vấn đề khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án theo quy
<small>định của pháp luật;</small>
<small>- Trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội thì ngồi việc xác định chứng</small> cứ trong các trường hợp nêu trên còn phải xác định chứng cứ dé chứng minh điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mai theo quy định tại Điều 75 <small>của Bộ luật Hình sự.</small>
Đây là trường hợp VKS quyết định trả hồ sơ vụ án dé điều tra bố sung. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp, VKS đều được trả hồ sơ mà chỉ ban hành
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">quyết định này khi thiếu chứng cứ VKS không thé tự bố sung được. Theo quy định tại khoản 3 Điều 236 và Điều 88 BLTTHS năm 2015, Viện kiểm sát có quyền trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ theo quy định của BLTTHS để quyết định việc truy tố hoặc khi Tịa án u cầu điều tra bơ sung mà xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra. Trường hợp xét thay còn thiếu những chứng cứ làm sáng tỏ những van đề phải chứng minh trong vụ án, Viện kiểm sát có thé trực tiếp tiễn hành một số hoạt động điều tra để thu thập chứng cứ theo quy định của BLTTHS, bao gồm hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; đối chất; trưng cầu giám định; yêu cầu định giá tài sản; thực nghiệm điều tra; yêu cầu cơ quan, tô chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án. Viện kiểm sát chỉ trả hồ sơ trong trường hợp không thé bổ sung được những chứng cứ đó, ngay cả khi tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ nêu trên.
Ngoài ra, Viện kiểm sát không trả hồ sơ dé điều tra bổ sung khi thiếu chứng cứ làm sáng tỏ những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự nếu thiếu chứng cứ đó nhưng vẫn truy tố, xét xử được hoặc khơng thê thu thập được chứng cứ đó. Những quy định này không chỉ nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát mà còn hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bố sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, tránh kéo dài thời gian giải quyết vụ án, ảnh hưởng đến quan hệ phối hợp giữa các Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra.
Thứ hai, có căn cử khởi tố bị can về một hay nhiễu tội phạm khác; có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vu án nhưng chưa được khởi tổ <small>bị can;</small>
Tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực có thể do cá nhân thực hiện nhưng cũng có thể do nhiều người cùng thực hiện. Khi có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện tội phạm (một hoặc nhiều tội) thì gọi là đồng phạm Ÿ. Vấn đề này được ghi nhận tại Điều 17 BLHS năm 2015 “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.” Theo quy định của BLHS năm 2015, chủ thể của tội phạm được mở rộng hơn so với trước đây, bao gồm cá nhân và pháp nhân thương mại nhưng BLHS năm 2015 hiện tại chỉ đặt ra van đề “dong phạm ” trong trường hợp chủ thé của tội phạm là cá nhân, chưa có quy định cụ thé <small>* Cao Thị Oanh, Lê Đăng Doanh chủ biên (2016), Bình luận khoa học BLHS năm 2015, NXB Lao Động, Hà</small>
<small>Nội, tr 37.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">về vấn đề này trong trường hợp chủ thể tội phạm là “pháp nhân thương mại”. Ngồi ra, trong vụ án, có thể cịn có những đối tượng khác liên quan mà hành vi của họ cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự. Một trong những nhiệm vụ đặt ra cho Co quan tiễn hành tố tụng khi giải quyết vụ án hình sự chính là xác định và xử lý van đề trách nhiệm hình sự đối với người bị buộc tội trong những trường hợp nêu trên. Theo quy định tại Điều 18 BLTTHS năm 2015: “Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vu, qun hạn của mình, cơ quan có thẩm qun tiến hành tơ tụng có trách nhiệm khởi tổ vụ án, áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội... ” Việc khởi tố vụ án hình sự được tiễn hành khi xác định hành vi có dấu hiệu của tội phạm và theo trình tự mà BLTTHS quy định. Quyết định khởi tố vụ án hình sự là cơ sở pháp lý dé tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo.” Khi co quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xác định có căn cứ cho răng một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm sẽ tiến hành khởi tố bị can. Dé ra quyết định khởi tố bị can, co quan có thâm quyền tiễn hành tơ <small>tụng phải có đủ chứng cứ xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội, làm rõ</small> đó là tội phạm gi, quy định ở điều khoản nào của BLHS, xác định rõ lý lịch của người thực hiện hành vi phạm tội... Khi tiến hành điều tra, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thé ra quyết định thay đổi quyết định khởi tổ bị can, nếu có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc quyết định khởi tố ghi không đúng họ tên, tuổi, nhân thân bị can; ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can khi có căn cứ xác định bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm nhưng chưa bị khởi tố”.
Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp, các cơ quan tiến hành tố tụng đều áp dụng chính xác những quy định này. Trong q trình điều tra vụ án hình sự, cơ quan điều tra có thể bỏ sót tội phạm, cũng có thể do cơ quan điều tra định hướng sai, đánh giá sai các chứng cứ, áp dụng sai các điều luật dẫn đến trường hop này””. Bộ luật tố tụng hình sự quy định trường hợp có căn cứ khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác hoặc có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan <small>* Trường Dai học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Cơng An Nhân Dân,</small>
<small>Hà Nội, tr 55.</small>
<small>*° Trường Dai học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Công An Nhân Dân,</small>
<small>Hà Nội, tr 331 - 332.</small>
<small>*' Võ Thị Xuân Hương (2017), Trả hồ sơ dé điều tra bồ sung trong giai đoạn truy tố; Luận văn thạc sỹ Luật</small>
<small>học, Đại Học Luật Hà Nội, tr 28.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can là trường hợp trả hồ sơ vụ án trong giai đoạn truy tố tại điểm b và điểm c khoản | Điều 245 BLTTHS năm 2015. Quy định này được hướng dẫn cụ thể tại khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP về Phối hợp thực hiện trả hồ sơ để điều tra bố sung trong các trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 245 của <small>BLTTHS như sau:</small>
- Khi có căn cứ dé khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác; có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can thuộc một trong các trường hop sau đây thì Viện kiểm sát trả hồ sơ dé điều tra bố sung:
+ Khởi tố và điều tra về một hay nhiều tội nhưng chứng cứ trong hé sơ vụ án cho thấy hành vi của bị can đã thực hiện câu thành một hay nhiều tội khác;
+ Ngoài tội phạm đã khởi tố và điều tra, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy cịn có căn cứ dé khởi tố bị can về một hoặc nhiều tội khác;
+ Ngoài bị can đã bị khởi tố và điều tra, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy cịn có người đồng phạm khác hoặc có người phạm tội khác có liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi t6 bị can.
Có thể hiểu khái niệm “tdi phạm khác ” là trường hợp: một là tội khác với tội mà cơ quan điều tra khởi tố, điều tra; hai là tội khác ngoài tội mà cơ quan điều tra đã khởi tố, điều tra”. Như vậy, nếu xác định có đủ căn cứ cho rằng hành vi của bi can cầu thành một hay nhiều tội phạm khác với tội phạm đã bị khởi tố, điều tra hoặc ngoài tội phạm đã bị khởi tố, điều tra, bị can còn thực hiện một hay nhiều hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm nhưng chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát có thé quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra tiến hành điều tra bổ sung. Đối với trường hợp “người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can”, trong giai đoạn truy tố, nếu phát hiện có đủ căn cứ xác định trong vu án cịn có người đồng phạm khác (như người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức) hoặc cịn có người liên quan khác tuy khơng là đồng <small>phạm nhưng đã thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm trong vụ án và</small> chưa được khởi tố bị can thì Viện kiểm sát có thé trả hồ sơ vụ án dé điều tra bố Sung. Đề có căn cứ xác định những van đề trên, Viện kiểm sát, Co quan điều tra phải thông qua các hoạt động điều tra, thu thập, đánh giá chứng cứ nhằm làm rõ có <small>* Võ Thị Xuân Hương (2017), Trả hồ sơ dé điều tra bồ sung trong giai đoạn truy tố; Luận văn thạc sỹ Luật</small>
<small>học, Đại Học Luật Hà Nội, tr 28.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">hay khơng một tội phạm khác hoặc có hay không người đồng phạm hay người phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi tố bị can.
- Không trả hồ sơ dé điều tra bồ sung trong các trường hợp sau đây:
+ Nếu có căn cứ dé tách vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 242 của Bộ luật tố tụng hình sự;
+ Nếu quyết định trả hồ sơ dé điều tra bổ sung của Tòa án có căn cứ mà xét thấy khơng cần phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát trực tiếp tiễn hành một số hoạt động điều tra dé bố sung tải liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản
1 Điều 246 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trong giai đoạn truy tố, nếu phát hiện có dấu hiệu “Jot nguoi, lot ơi” nhưng có căn cứ dé tách vụ án, Viện kiểm sát không trả hồ sơ mà quyết định tách vụ án hình sự. Hoạt động tách vụ án hình sự dé tiến hành điều tra là việc tách các tội phạm hoặc các bị can trong cùng một vụ án thành những vụ án riêng lẻ, nếu khơng thê hồn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm... Tuy nhiên, chỉ được tách vụ án nếu việc tách đó khơng ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan vụ án.” Theo quy định tại khoản 2 Điều 242 BLTTHS năm 2015, Viện kiểm sát quyết định tach vu án hình sự khi thuộc một trong các trường hợp Bi can bỏ trén hoặc Bi can mac bénh hiém nghèo hoặc Bi can bi áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh và xét thấy việc tách đó khơng ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, tồn diện cũng như đã có quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can.
Có thể thấy, những quy định của BLTTHS năm 2015 về trường hợp trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung theo quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều 245 BLTTHS năm 2015 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để áp dụng thống nhất trên thực tế, hạn chế trả hồ sơ vụ án tràn lan, không cần thiết.
Thứ ba, có vi phạm nghiêm trọng thu tục tổ tụng
Trên cơ sở kế thừa những quy định của BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 tiếp tục xác định một trong những trường hợp VKS trả hồ sơ vụ án trong giai đoạn truy tố là “có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tung.” Vì nhiều nguyên nhân khác nhau, trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự, cac cơ quan tiễn hành tố tụng vẫn mắc phải một SỐ sai sót, vi phạm khi thực hiện các hoạt động tố tụng.
Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là việc cơ quan, người có thâm quyền tiễn hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử khơng thực hiện <small>*® Trường Dai học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Cơng An Nhân Dân,</small>
<small>Hà Nội, tr 322.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">hoặc thực hiện không đúng, khơng đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án.
Xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tổ tung là làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích chính đáng của người tham gia tố tụng, có thể gây ra cho họ thiệt hại về vật chat, tinh than.
Những trường hợp sau đây được coi là vi phạm nghiêm trọng về thu tục tố tung là căn cứ dé Viện kiểm sát quyết định trả hồ sơ dé điều tra bố sung:”*
- Lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiễn hành một số hoạt động điều tra mà theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, nhưng khơng có phê chuẩn của Viện kiểm sát hoặc việc ký lệnh, quyết định tố tụng không đúng thẩm quyền;
- Không chỉ định, thay đổi hoặc chấm dứt việc chỉ định người bào chữa cho người bị buộc tội theo quy định tại Điều 76 và Điều 77 của Bộ luật tốt tụng hình sự;
- Xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi <small>ích hợp pháp của họ;</small>
- Khởi tố vụ án hình sự nhưng khơng có u cầu của bị hại hoặc của người đại diện của bị hai theo quy định tại khoản 1 Điều 155 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Nhập vụ án hoặc tách vụ án không đúng quy định tại Điều 170 hoặc Điều 242 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Khơng cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết hoặc thông báo văn bản tố tụng gồm lệnh, quyết định, yêu cầu, kết luận điều tra, ban cáo trang, bản án cho người bi buộc tội và những người tham gia tô tụng khác theo đúng quy định của pháp luật xâm hại nghiêm trọng đến quyền bào chữa, quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng khác;
- Chưa điều tra, lập lý lịch của bị can; chưa xác định được những đặc điểm quan trọng về nhân thân của bị can, bị cáo (tuổi, tiền án, tiền sự), lý lịch hoạt động của pháp nhân thương mại phạm tội (tên, địa chỉ, những vấn đề khác liên quan đến hồ sơ pháp lý của pháp nhân thương mại);
- Khơng có người phiên dịch, người dịch thuật cho người tham gia tố tung trong trường hợp họ không sử dụng được tiếng Việt hoặc tài liệu tố tụng không thể <small>* Thông tư liên tịch 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP</small>
</div>