Tải bản đầy đủ (.pdf) (86 trang)

Luận văn thạc sĩ Luật học: Phiên tòa sơ thẩm dân sự từ thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (47.66 MB, 86 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

NGUYEN THI THUY LIEN

Chuyên ngành : Luật dân sự va tố tung dân sự

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tơi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa từng được công bố trong bat cứ cơng trình nghiên cứu nào khác. Các số liệu và vụ án nêu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc

rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định.

Tơi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này. TÁC GIÁ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Thùy Liên

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

Nguyễn Hải An, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tơi trong suốt q trình

<small>tơi thực hiện Luận văn này.</small>

<small>Tơi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, khoa sau đại</small>

học cùng tồn thể các thầy cơ giáo Trường đại học Luật Hà Nội đã nhiệt tình

giảng dạy lớp cao học ứng học khóa 24 trong suốt thời gian vừa qua.

Đồng thời tôi cũng xin được cảm ơn chân thành tới tập thê lãnh đạo

Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội và các đồng nghiệp

luôn ở bên, động viên, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng

như nghiên cứu. Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến những <small>người thân trong gia đình tơi, những người ln động viên, chia sẻ với tơi</small> trong q trình học tập và nghiên cứu đề hoàn thành Luận văn.

Trong q trình hồn thiện luận văn, mặc dù đã cơ gang tim toi, nghién cứu dé hoàn thiện Luận văn nhưng van khơng tránh khỏi có những thiếu sót

nhất định và có thé có những van đề mới chỉ được đề cập mà chưa được phân

tích, đánh giá, chứng minh một cách thuyết phục. Tôi rất mong nhận được sự

chỉ bảo, góp ý của các Thay, cơ giáo dé Luận văn được hoàn thiện hơn.

TÁC GIÁ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Thùy Liên

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

BANG CHỮ VIET TAT

BLTTDS năm 2004 | Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đôi, bô sung năm 2011

BLTTDS năm 2015 | Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

HDXX Hội đồng xét xử

HTND Hội thâm nhân dân

PTSTDS Phiên tòa sơ thâm dân sự <small>TAND Tòa án nhân dân</small>

TANDTC Tòa án nhân dân tối cao

TTDS Tố tụng dân sự <small>XHCN Xã hội chủ nghĩa</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<small>¬.. ... 8</small>

1.1.Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của phiên tòa sơ thâm dan sự... 8 1.1.1. Khai niém phién toa so thâm dân SU ....ccccccccsesesesescsesesesesceseseseseseseseseseees 8

1.1.2. Đặc điểm của phiên tòa sơ thầm dân sự...---¿-¿cccecectcxsxsEsrerrrrrd 10 1.1.3. Ý nghĩa của phiên tòa sơ thẩm dân sự...-- 2-5-2 2 s+£zxerzxered 14

1.2.Quy định của pháp luật hiện hành về phiên tòa sơ thâm dân sự... 15 1.2.1. Những quy định chung về phiên tòa sơ thẩm dân sự...--.. 15 1.2.2. Thủ tục tiến hành phiên tòa sơ thấm dân sự ...---:cscscecececec. 22

KET LUẬN CHUONG ...- 2-2 2 SE+E+E£EE+EEEEEEEEEEEEEEEEEEEkrkerkerrred 43 Chương 2 THUC TIEN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VE PHIÊN TOA SƠ THẤM DAN SỰ TAI TOA ÁN NHÂN DAN QUAN BAC TỪ LIÊM,

THÀNH PHO HÀ NOI VÀ KIÊN NGHỊ HOÀN THIEN PHÁP LUAT 44

2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về phiên tòa sơ thâm dân sự tại Tòa án nhân

dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội ...- 2-5-2 25s 2+£e£sz£ezxd 44 2.1.1. Tình hình xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành

phố Hà Nộii...-¿- ¿+52 +SEk+EEEEE121E1121511111111111111111 111.1111111 1e 111 xe 44

2.1.2. Những khó khăn, vướng mắc khi tiễn hành phiên tòa sơ thâm dân sự tại Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phô Hà Nội ...--.- 50 2.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về phiên

tòa sơ thấm dân sự tại TAND quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội... 59

2.2.1. Kiến nghị xây dựng pháp luật về phiên tòa sơ thâm dân sự... 59 2.2.2. Kién nghi bao dam thuc hién phap luat vé phién toa so thâm dân sự... 64

KET LUẬN CHUONG 2...--- 2 -St+SSEk 1 EE 2111511211111 11 1111111 tk. 69 KẾT LUẬN ...-- 5-5-5 SE E1 1E 1 11118112111111111111111111 1111111111. 70 DANH MỤC TÀI LIEU THAM KHẢO...-- 2-5 2+c+csz£+Eerzxered 72

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài:

Trong điều kiện nền kinh tế - xã hội nước ta hiện nay, hoàn thiện hệ

thống pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng dân sự (TTDS) nói riêng là một nhu cầu khách quan nham đáp ứng yêu cầu trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự đang ngày càng gia tăng cả về số lượng cũng như tính chất phức

<small>tạp của từng loại vụ án. Quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật TTDS</small>

nhằm nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án, đảm bảo cho việc giải quyết các

<small>vụ án dân sự được nhanh chóng, chính xác, cơng minh và đúng pháp luật.</small>

Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 ra đời thay thế BLTTDS năm 2004 là bước ngoặt đối với sự phát triển của pháp luật TTDS Việt Nam. Bộ luật này quy định khá đầy đủ và toàn diện các nguyên tắc cơ bản trong

TTDS; trình tự thủ tục khởi kiện các vụ án dân sự; trình tự thủ tục giải quyết

các vụ án dân sự tại Tòa án; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan và người tiễn hành tố tụng cũng như quyền và nghĩa vụ của các chủ thé

tham gia tơ tụng. Phiên tịa sơ thấm trong tố tụng dân sự được quy định tai Chương XIV BLTTDS năm 2015. Phiên tòa sơ thâm là hoạt động tố tụng điển hình, đặc trưng nhất của TTDS. Trường hợp hịa giải khơng thành, Tịa án sẽ mở phiên tòa sơ thâm dé xét xử giải quyết tranh chấp. Phiên tòa sơ thắm là hoạt động tố tụng điển hình, thé hiện tập trung nhất đặc trưng của hình thức

tổ tụng Tòa án. Phiên tòa sơ thầm được tiễn hành với các thủ tục sau: Chuẩn bị khai mạc phiên tòa sơ thấm, thủ tục bắt đầu phiên tòa sơ thẩm, tranh tụng

tại phiên tòa sơ thâm.

Mặc dù là Bộ luật mới ra đời, có sự kế thừa các quy định trước đó và

được Quốc hội thơng qua, song một số quy định về PTSTDS trong thực tiễn áp dụng còn gặp nhiều vướng mắc, bất cập và chưa hợp lý, làm cho quá trình

xét xử sơ thấm gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vu án cũng như kéo dài thời gian giải quyết, chưa đáp ứng được tiến trình cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TU ngày 02/01/2002 về một

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

49/NQ-TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 do Bộ Chính trị ban hành. Nghị quyết đã chỉ rõ cần: “Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hon vi tri, quyền hạn, trách nhiệm của người tiễn hành tố fụng và người tham gia tô tụng theo hướng bảo đảm tính cơng khai, dân chủ, nghiêm minh, nâng cao chất lượng tranh tung tại các phiên tòa xét xử, coi đây là

khâu đột phá của hoạt động tr pháp ”. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành BLTTDS

cho thấy vẫn cịn nhiều bất cập, trong đó có các quy định liên quan đến

PTSTDS. Một số quy định về phiên tòa sơ thầm chưa cụ thé, chưa thực sự

phù hợp với thực tiễn xét xử dẫn đến việc hiểu và áp dụng tại các Tịa án là

khơng thống nhất, địi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu làm sáng rõ. Mặt khác, do pháp luật về PTSTDS còn nhiều điểm mới nên việc tuân thủ các quy định của

BLTTDS về van đề này ở một số Tòa án chưa thật sự triệt dé... Chính điều này là một trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng: Các vụ án tranh chấp về

dân sự, kinh doanh thương mại, hơn nhân và gia đình để quá thời hạn luật định vẫn diễn ra nhiều; tỷ lệ các bản án về kinh doanh thương mại, dân sự bị hủy, sửa vẫn còn rất nhiều; một số bản án kinh doanh thương mại, dân sự <small>tuyên khơng rõ ràng gây khó khăn cho cơng tác thi hành án.</small>

Chính vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu các quy định về PTSTDS nhằm phân tích, đánh giá đúng các điều luật, tạo điều kiện cho việc nhận thức và áp

dụng trên thực tế một cách thống nhất, đồng bộ và đạt hiệu quả cao. Đồng

thời, việc nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật

về PTSTDS tại một Tòa án địa phương cụ thé, qua đó tim ra những ton tai,

bat cập của các quy định trên, đưa ra những giải pháp hữu hiệu đóng góp vào

q trình xây dựng pháp luật cũng như áp dụng pháp luật là hết sức cần thiết. Với nhận thức như vậy, học viên đã lựa chọn đề tài “Phiên toa sơ thẩm dân

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

sự từ thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân quận Bac Từ Liêm, thành phố Hà Nội" làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Kế thừa BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bố sung một số điều của

BLTTDS năm 2011, BLTTDS năm 2015 đã có nhiều sửa đơi căn bản, tồn diện nhằm thé chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp, cụ thé hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức TAND năm 2014 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014; đảm bảo tính

đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật; khắc phục những vướng mắc,

bất cập từ thực tiễn công tác giải quyết các vụ án tranh chấp dân sự. Tuy

nhiên, BLTTDS năm 2015 bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/7/2016, nên chưa

có một hội nghị tổng kết hay hội thảo khoa học nhằm nêu ra những ton tại,

vướng mắc trong quá trình áp dụng. Trong quá trình xây dựng BLTTDS, thời gian qua đã có một số cơng trình nghiên cứu giải quyết cơ sở lý luận, thực tiễn cho những van dé của TTDS liên quan đến PTSTDS. Sách chuyên khảo:

Bình luận Khoa học BLTTDS năm 2015 do PGS.TS Trần Anh Tuan chủ biên; Bình luận khoa học BLTTDS năm 2015 do TS. Bùi Thi Huyền chủ

Một số cơng trình nghiên cứu của một số tác giả dé cập đến các van dé liên quan đến PTSTDS như: Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà

Nội, 2008 “Phiên tòa dân sự sơ thâm — Những van dé lý luận và thực tiễn”

của Bùi Thị Huyền; Luận án nghiên cứu đến những van đề về lý luận, thực

tiễn của phiên tịa dân sự sơ thấm. Trên các tạp chí khoa học pháp lý, một sỐ tác giả cũng đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau của pháp luật về PTSTDS như:Công bố lời khai của đương sự, người tham gia tố tụng khác trong phần thủ tục tranh luận thuộc phần tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ

thâm, tác giả Nguyễn Trung Tín (TANDTC, số 14/2017); Một vài trao đôi về phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa dân sự sơ thâm theo quy định của BLTTDS năm 2015, tác giả Bùi Văn Kim (Kiểm sát. Số 5/2016), Bản chất

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

hoặc tập trung phần thủ tục hỏi, tranh luận và đánh giá được thực tiễn áp dụng các quy định về PTSTDS. Đây là cơng trình nghiên cứu đầu tiên của học viên về PTSTDS, hi vọng răng trên cơ sở tham khảo những tài liệu có liên quan được viết trong thời gian qua, đề tài sẽ có những đóng góp nhất định trong việc xây dựng và hồn thiện pháp luật TTDS, đáp ứng yêu cầu của hoạt động

<small>cải cách tư pháp.</small>

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

<small>3.1. Mục đích nghiên cứu</small>

Việc nghiên cứu các quy định về PTSTDS nhằm phân tích, đánh giá các điều luật tạo điều kiện cho việc nhận thức và áp dụng trên thực té một

cách thống nhat, đồng bộ và đạt hiệu quả. Qua đó, tìm ra những ton tại, bat

cập các quy định của pháp luật từ thực tiễn thực hiện tại địa phương, đưa ra <small>những giải pháp hữu ích đóng góp vào q trình xây dựng hoàn thiện quy</small> định của pháp luật về PTSTDS. Đồng thời nêu thực tiễn thực hiện quy định về PTSTDS tại TAND quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, qua đó đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về PTSTDS.

3.2. Mục đích cụ thể

Việc nghiên cứu đề tài là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy

định của pháp luật về PTSTDS theo tinh than cải cach tư pháp. Từ đó mục

đích cụ thể của đề tài là giải quyết về mặt lý luận các khái niệm thuộc phạm vi

nghiên cứu của đề tài cũng như các vấn đề có liên quan. Trên cơ sở phân tích,

<small>đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành, nêu lên thực trạng của việc áp</small> dụng pháp luật trong quá trình giải quyết các tranh chap dân sự tại PTSTDS. Trên cơ sở đó, từ thực tiễn áp dụng pháp luật tại địa phương đưa ra những giải

pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật TTDS về PTSTDS.

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

<small>3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu</small>

Đề thực hiện được mục đích nêu trên, việc nghiên cứu có nhiệm vụ giải quyết những van dé cơ bản sau:

- _ Nghiên cứu làm rõ những van đề lý luận cơ bản về PTSTDS;

- Phân tích làm rõ các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về PTSTDS và thực tiễn thực hiện. Từ đó, chỉ ra những điểm mới, tiến bộ của pháp luật Việt Nam về PTSTDS.

- Phân tích và đánh giá về thực tiễn thực hiện về PTSTDS để chỉ ra

những hạn chế, bất cập cần được hoàn thiện

- Luận giải về những yêu cầu hoàn thiện và thực hiện pháp luật Việt

Nam về PTSTDS và đề xuất các giải pháp cụ thể nhăm hoàn thiện và thực

hiện pháp luật về PTSTDS.

4. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng là những van dé lý luận chung PTSTDS, các quy định của

pháp luật TTDS về PTSTDS và thực tiễn thực hiện của Tòa án. PTSTDS là một đề tài có nhiều nghiên cứu, do giới hạn của luận văn thạc sỹ, đề tài

nghiên cứu phạm vi về một số van dé lý luận PTSTDS như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của PTSTDS. Các quy định của BLTTDS về PTSTDS và thực tiễn thực hiện chúng tại TAND quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội giải

quyết các năm gan day. Phap luat TTDS Viét Nam hién hanh dang hién htru

cac quy dinh về: Hoan phiên tòa, su có mặt cua Kiểm sát viên và thủ tục tiễn hành PTSTSDS. Với cách tiếp cận này, tác giả xác định đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy phạm pháp luật điều chỉnh quá trình diễn ra PTSTDS.

<small>5. Pham vi nghiên cứu</small>

Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, đề tài chi đi sâu nghiên cứu

các quy định về PTSTDS theo quy định của BLTTDS mà không nghiên cứu

về thủ tục phiên họp giải quyết việc dân sự, khơng nghiên cứu về phiên tịa sơ thâm giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn, cũng không nghiên cứu về <small>giai đoạn chuân bị cho việc mở phiên tòa sơ thâm. Luận văn chỉ đê cập đên</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

thực tiễn thực hiện và áp dụng pháp luật về PTSTDS tại TAND quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội từ tháng 4 năm 2014 đến tháng 5 năm 2018.

<small>6. Phương pháp nghiên cứu</small>

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác — Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật. Quá trình nghiên cứu, dé tai sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phan tích tổng hợp, phương pháp so sánh, chứng minh, phương pháp thống kê, sử dụng các kết quả thơng kê của ngành Tịa án và Viện kiểm sát dé hoàn thành

<small>chương 2 của luận văn.</small>

7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thé sử dụng làm tài liệu tham

<small>khảo cho các cơ quan hữu quan trong q trình nghiên cứu, hồn thiện pháp</small>

luật về PTSTDS.

Luận văn cũng có thể sử dụng như là một tài liệu tham khảo trong công

<small>tác nghiên cứu, giảng dạy Luật TTDS tại các cơ sở dao tạo cán bộ pháp luậtvà trong công tác xét xử của các cán bộ Tịa án.</small>

Luận văn góp phần nâng cao chất lượng tiễn hành PTSTDS của TAND quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

8. Bồ cục của luận văn

Kết cau của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 4 mục.

Chương 1: Những van dé chung về phiên tòa sơ thẩm dân sự 1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của phiên tòa sơ thâm dân sự 1.2. Quy định của pháp luật hiện hành về phiên tòa sơ thâm dân sự

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về phiên tòa sơ thẩm dân sự tại Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội và kiến nghị hoàn

<small>thiện pháp luật</small>

2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về phiên tòa sơ thẩm dân sự tại Tòa án

nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

2.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật tại Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

Trong toàn bộ các thủ tục được Tòa án tiến hành trong giai đoạn xét xử sơ thâm vụ án dân sự thì thủ tục tiến hành PTSTDS có tầm quan trọng đặc biệt, quyết định đến kết quả giải quyết các vụ án dân sự. Vì vậy, việc xác định và làm rõ được khái niệm PTSTDS là cơ sở quan trọng dé tìm hiểu các vẫn đề lý luận về phiên tòa, từ đó giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ và tồn diện về

PTSTDS, PTSTDS có thể được xem xét ở những góc độ khác nhau, có thê là một thủ tục tố tụng hoặc là một giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án dân

sự tại Tịa án cấp sơ thâm.

1.1.1. Khái niệm phiên tòa sơ thẩm dân sự

“Phiên tòa”, theo Từ điển tiếng Việt, là lần họp để xét xử của Tòa

an.'“Phién” là lần mà mỗi người theo thứ tự làm cùng một loại việc như người trước và sau mình dé bao đảm sự liên tục, cịn “Toa” được hiểu là Tịa

án (nói tắt), ra Tịa, Toa án mở phiên xét xử công khai.? Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất thì phiên tịa là một phiên xét xử của Tịa án. Dưới góc độ pháp lý, “phiên toa” đã được giải thích trong các từ điển luật học của nhiều

quốc gia cũng có những nét tương đồng.

Trong Từ điển luật học Việt Nam, phiên tòa được hiểu “Jà hình thức hoạt động xét xử của Tịa án” hoặc theo từ điển Pháp — Việt, pháp luật — <small>hành chính, phiên tịa là phiên xét xử của Tòa án xét xử các tội phạm, các</small>

tranh chấp. Thành phần có Chủ tọa phiên tịa là Thâm phán chun nghiệp, có các HTND. Phiên tịa xét xử cơng khai, mọi người đều có quyền tham dự.

<small>!Viện ngơn ngữ học (2005): Tờ điển tiếng Việt, NXb. Da Nẵng — Trung tâm Từ điển học, Ha Nội —Đà Nẵng, tr. 779</small>

<small>?Nguyễn Như Ý (2008), Đại tir điển Tiếng Việt, Nxb. Dai học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh3 Viện Khoa học pháp lý, bộ tư pháp (2006), Tir điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách Khoa — Nxb. Tư</small>

<small>pháp, Hà Nội, tr. 620.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

Trong trường hợp đặc biệt cần giữ gìn bí mật nhà nước hoặc giữ gìn đạo đức

xã hội thì Tịa án xét xử kín nhưng khi tuyên án phải công khai. Trong từ điển

<small>luật học Anh, phiên tịa có nghĩa là “Trial”. “Trial” có nghĩa là sự xét xử một</small>

vụ án dân sự hoặc hình sự trước Tịa án có thâm qun. Các phiên tịa phải

được tiến hành cơng khai. Theo một cách giải thích khác, “trial” có nghĩa là phiên xử tại Tịa án với sự tham gia của Tham phán hoặc Hội đồng hội thâm dé quyết định về vụ án.

Theo thạc sĩ Ngơ Thị Minh Ngọc thì phiên tịa được hiểu “/a một phiên họp đặc biệt và các trình tự của phiên họp này do pháp luật về to tụng quy

định chặt chẽ, mà ở đó HDXX sơ thẩm vụ án không thể tùy tiện thêm, bớt các <small>bước trong quá trình xét xử hoặc làm sai các trình tw này””. Trong giáo trìnhLuật TTDS Việt Nam của Trường Dai học Luật Hà Nội thì “Phiên toa so</small> thẩm vụ án dân sự là phiên xét xử vụ an dán sự lan đấu của Tịa án.”6

Sau khi hịa giải khơng thành hoặc đối với những vụ án dân sự pháp

luật quy định khơng được hịa giải hoặc khơng tiến hành hòa giải được, Tòa án phải tiến hành phiên xét xử vụ án dân sự. Phiên xét xử này được gọi là <small>PTSTDS.</small>

Tất cả các vụ án dân sự nếu đã phải đưa ra xét xử thì đều phải trải qua

việc xét xử tại phiên tòa sơ thâm. PTSTDS được tiến hành trong một thời

điểm, thời gian nhất định. Tại phiên tòa sơ thâm tập trung các hoạt động tố tụng của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng như Thâm phán, HTND, Thư ký Tòa án, đương sự và người bảo vệ quyền lợi của

<small>đương sự v.v... HDXX thực hiện việc xét xử qua việc nghe các bên đương sự</small>

<small>“Bùi Thị Huyền (2013), Phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự - Những van dé ly luận và thực tiễn, Nxb.Chính trị quốc gia — sự thật, Hà Nội, tr. 16.</small>

<small>> Ngô Thị Minh Ngọc (2000), Thi tục xét xử các vụ án dân sự tại phiên toa sơ thẩm, Luận văn thạc</small>

<small>sĩ Luật học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, tr. 11</small>

<small>° Trường Dai học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật to tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Công an</small>

<small>nhân dân, Hà Nội, tr. 277</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

trình bày, tranh luận; kiểm tra, xác minh các tài liệu, chứng cứ của vụ án một

cách toàn diện và khách quan; áp dụng đúng pháp luật quyết định giải quyết vụ án. Khác với việc hòa giải vụ án Tòa án chỉ tập trung vào những van đề cơ bản, ở phiên tòa sơ thâm, Tòa án phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án. Theo Điều 15 BLTTDS năm 2015, việc xét xử của Tịa án được tiễn hành kịp thời, cơng bằng và cơng khai. Vì vậy, mọi hoạt động tố tụng ở phiên tòa của các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng phải được cơng khai hóa, mọi người đều có quyền tham dự phiên tịa. Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ

bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân theo yêu cầu

<small>chính đáng của đương sự thì Tịa án xét xử kín nhưng phải tun án cơng</small>

<small>Từ phân tích nêu trên, tác giả xin đưa ra khái niệm PTSTDS là phiên</small>

xét xử cơng khai lần đầu của Tịa án với sự tham gia của những người tham

gia tô tụng theo những nguyên tắc và thủ tục nhất định do pháp luật quy định nhằm giải quyết tranh chap vụ án dân sự.

1.1.2. Đặc điểm của phiên tòa sơ thẩm dân sự

PTSTDS là hoạt động của cơ quan xét xử được điều chỉnh bởi Luật tơ <small>chức Tịa án nhân dân (TAND) và pháp luật TTDS. Chính vì vậy, nó cũng có</small>

những đặc điểm của phiên tịa sơ thẩm nói chung như: Thành phan HĐXX có

<small>sự tham gia của HTND; trình tự, thủ tục xét xử tuân theo trình tự xét xử sơ</small>

thâm; đối tượng xét xử thuộc thâm quyền xem xét lần đầu tiên của Tịa án cấp sơ thâm; sự có mặt đầy đủ của các bên đương sự và những người có liên quan đến việc giải quyết vụ án (phiên tịa phúc thâm chỉ có mặt những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị); bản án, quyết định tại phiên tịa sơ

thâm có thê bị kháng cáo, kháng nghị...

Ngồi ra, PTSTDS có đặc điểm sau:

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

Đặc điểm thứ nhất, PTSTDS là phiên xét xử của Tòa án để xét xử lan đâu một vụ án dân sự.

Các hoạt động tô tụng trong các giai đoạn như khởi kiện, thụ lý, chuẩn bị xét xử sơ thâm là tiền đề và chuẩn bị tất cả các điều kiện cần để bảo đảm cho việc xét xử vụ án được khách quan, công bằng. Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án sơ thâm bị Tòa án cấp trên hủy để xét xử lại theo thủ tục chung thì tồn bộ các hoạt động tố tụng trước đó bị hủy và việc giải quyết vụ án dân sự sẽ được chuẩn bị và xét xử lại từ giai đoạn thu lý vụ án.

PTSTDS là nơi diễn ra các hoạt động tố tụng của riêng cơ quan xét xử

trên cơ sở đơn khởi kiện của đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp dân sự. Nếu như việc mở phiên tịa sơ thâm hình sự là kết quả của quá trình điều tra, truy tố thì việc mở PTSTDS lại xuất phát từ ý chí của các bên đương

sự sau khi vụ án khơng giải quyết được thơng qua việc hịa giải.

Đặc điểm thứ hai, PTSTDS được tiễn hành cơng khai với sự có mặt của

tat cả những người tham gia tô tụng.

Đề đảm bảo cho việc bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của các đương su Và VIỆC giải quyết vụ án dân sự được khách quan và đúng pháp luật thì

PTSTDS phải được tiễn hành với sự có mặt của tất cả những người tham gia

tố tụng. Vì vậy, tất cả những người tham gia tố tụng đều được Tòa án triệu tập

tham gia PTSTDS. Tòa án chỉ xét xử vắng mặt họ trong trường hợp có căn cứ do pháp luật quy định, lúc đó lời khai hay tài liệu do người vắng mặt cung cấp

cho Tòa án phải được cơng bố cơng khai tại phiên tịa. Điều này nhăm giúp cho tất cả các đương sự đều có cơ hội trình bày yêu câu, đưa ra lý lẽ, lập luận của mình và đảm bảo quyền được tranh tụng tại phiên tịa một cách cơng khai. Đặc điểm thứ ba, tại PTSTDS, trên cơ sở kết quả tranh tụng hoặc giải quyết công khai yêu cau của các bên đương sự, Tòa án ra phán quyết về vụ

<small>án dán sự.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

Vị trí, vai trị của các đương sự tại phiên tòa thể hiện xu hướng dân chủ trong hoạt động tư pháp, tôn trọng quyền yêu cầu và tự định đoạt của họ trong

<small>quá trình xét xử, ý chí và sự tự nguyện của các đương sự luôn được tôn trọng</small>

và xem xét trước tiên. Quyết định tại phiên tòa là sự phán xét của Tịa án

nhưng có thê đơn giản là ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Kết quả

của PTSTDS không nhất thiết phải bằng một bản án được tuyên tại phiên tịa

mà có thé là Quyết định cơng nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên

tòa. Tại PTSTDS, trên cơ sở kết quả tranh tụng hoặc giải quyết cơng khai u cầu của các bên đương sự, Tịa án ra phán quyết về giải quyết toàn bộ vụ án dân sự hoặc những van dé còn tranh chấp giữa các bên đương sự.

Ngoài những đặc điểm chung của phiên tịa sơ thẩm trên, PTSTDS cịn có những đặc điểm riêng khác với phiên tịa sơ thẩm hình sự, phiên tịa so

thâm hành chính. Để làm rõ những đặc điểm riêng này, chúng ta cần phân biệt một số nội dung sau:

* PTSTDS được tiễn hành trên cơ sở việc thực hiện quyên yêu cẩu Tòa án bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của đương sự và để giải quyết những yêu

câu của đương sự.

<small>Việc xét xử của Tòa án là một trong những biện pháp Nhà nước thực</small>

hiện dé bảo vệ quyền và lợi ích hợp của các chủ thé. Đối với việc giải quyết

vụ án hình sự là giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước và người thực hiện hành vi phạm tội, do đó phiên tịa sơ thẩm hình sự được tiến hành trên cơ sở

các quyết định của cơ quan tiến hành tổ tụng. Còn việc giải quyết vụ án dân

sự là giải quyết các quyền và nghĩa vụ dân sự thường liên quan đến cá nhân

đương sự và trong một số trường hợp có liên quan đến lợi ích cơng cộng, lợi ich của Nhà nước, nên dé có việc giải quyết vụ án và có PTSTDS thì trước hết

là phải có u cầu Tịa án bảo vệ quyền lợi, ích hợp pháp của đương sự.

Trong suốt quá trình tố tụng nếu đương sự khơng rút u cầu, khơng có căn

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

cứ dé tạm đình chỉ giải quyết vụ án và các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về tồn bộ nội dung vụ án thì PTSTDS phải được mở. Vì vậy, đặc điểm của PTSTDS nói riêng là được tiến hành trên cơ sở việc thực hiện quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích của đương sự.

* Phạm vi xét xử và diễn biến của PTSTDS phụ thuộc vào quyền tự quyết định và định đoạt của đương sự.

Khi các đương sự đã thực hiện quyền khởi kiện, họ có quyền tự quyết định về việc tự tham gia t6 tụng hay ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng, họ tự quyết định về phạm vi, nội dung, mực độ yêu cầu khởi kiện. Trách nhiệm của Tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của đương sự, trừ một số trường hợp ngoại lệ. Do đó, Tịa án khơng thé tự xác định phạm vi xét xu tại PTSTDS mà dựa vào yêu cầu được đưa ra tại phiên tịa của đương sự. Cịn đơi với lĩnh vực hình sự, phạm vi xét xử tại phiên tòa so thầm dựa trên nội dun quyết định truy tố của Viện kiếm sát cùng cấp đối với các bị

can về tội danh và khung hình phạt.

*Tại PTSTDS, các bên đương sự có qun bình dang trong việc cung cap chứng cứ và chứng mình yêu cẩu của minh.

Trong tố tụng hình sự, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc vỀ các

cơ quan tiễn hành tố tung; bi cáo có quyền nhưng khơng buộc phải chứng

minh mình là vơ tội. Vì vậy, tại phiên tịa sơ thấm hình sự, nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành t6 tụng. Tuy nhiên, trong

TTDS, các đương sự là người trong cuộc nên hơn ai hết, họ là người hiểu rõ nhất sự việc, đưa ra yêu cầu và liên quan đến lợi ích của chính họ nên họ phải cung cấp cho Tòa án các chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Vì vậy, hoạt động chứng minh tại PTSTDS trước hết thuộc trách nhiệm của các đương sự; các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tịa án

<small>và chứng minh cho u câu của mình là có căn cứ và hợp pháp.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

Về co bản, PTSTDS có những đặc điểm giống với phiên tịa sơ thẩm hành chính. Tuy nhiên, do bản chất của phiên tịa sơ thâm hành chính là giải quyết các tranh chấp giữa cá nhân, cơ quan, tổ chức với các co quan Nhà nước về các quyết định hành chính, hành vi hành chính của các cơ quan Nhà nước nên tính chất bình đăng giữa các đương sự trong phiên tịa sơ thâm hành

chính khơng được triệt để như PTSTDS.

1.1.3. Ý nghĩa của phiên tòa sơ thẩm dân sự

PTSTDS trước hết phản ánh rõ chức năng xét xử của Tòa án. Kết quả của PTSTDS là sự thê hiện cụ thê vai trò, nhiệm vụ của Tòa án trong việc duy

<small>trì trật tự pháp luật XHCN, bảo vệ công lý, giúp cho các quan hệ dân sự phát</small> triển ôn định và lành mạnh, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các

cá nhân, tổ chức.

Ban án, quyết định tại phiên tòa sơ thẩm khi có hiệu lực pháp luật phải

được mọi chủ thé trong xã hội tôn trọng, các cá nhân, tô chức có nghĩa vụ

chấp hành phải nghiêm chỉnh chấp hành. Nội dung bản án, quyết định xác

định quyền và nghĩa vụ cho các bên đương sự và có giá trị pháp lý làm cơ sở

cho việc thi hành án, từ đó khơi phục lại các qun và lợi ích của các đương

Hoạt động xét xử của Tòa án ở tại phiên tòa sơ thấm là dé thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan xét xử, thực hiện đường lối, chính sách của

Đảng và Nhà nước. Nếu hoạt động này được tiến hành tốt sẽ làm tăng thêm

tác dụng của cơng tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật. Ngược lại, nếu

phiên tịa sơ thẩm tiến hành khơng tốt, có nhiều sai sót thì kết quả của cơng

tác giáo dục sẽ bị hạn chế, gây ảnh hưởng xấu, làm cho mọi người thiếu tin

<small>tưởng vào hoạt động xét xử của Tòa án.”</small>

<small>7 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật tơ tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Công an</small>

<small>nhân dân, Hà Nội, tr. 277</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

<small>Thông qua hoạt động xét xử tại PTSTDS, những người tham gia phiên</small>

tịa nói riêng và quần chúng nhân dân nói chung có điều kiện nắm bắt những kiến thức pháp luật, nhận thức được vai trò của pháp luật trong việc điều

<small>chỉnh các quan hệ dân sự, qua đó giúp cho họ khi tham gia các quan hệ pháp</small>

<small>luật có những xử sự phù hợp với các quy định của pháp luật.</small>

PTSTDS cịn có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động lập pháp. Tại PTSTDS, những người tiến hành tố tung và tham gia tô tụng kiểm tra, phân tích đánh giá tồn diện các u cầu, chứng cứ, tài liệu, đồng thời, phân tích các quy định của pháp luật nội dung và pháp luật tố tung dé ra phán quyết về giải quyết vụ án. Do đó, thực chất hoạt động xét xử tại phiên tịa sơ thâm là hoạt động của những người tiến hành tổ tụng về đánh giá các tình tiết, chứng cứ, sự kiện và áp dụng pháp luật dé ra phán quyết về vụ án dân sự.Š

Ngoài ra, PTSTDS là nơi cơng dân thực hiện qun tự do dân chủ nói

chung cũng như các quyền và nghĩa vụ trong pháp luật tố tụng nói riêng, thé

hiện sự bình đăng của mọi công dân trước pháp luật, quyền được bào chữa,

biện hộ, quyền được dùng chữ viết tiếng nói của dân tộc mình... khắng định quyền dân chủ của cơng dân trong lĩnh vực tư pháp, khang định ban chất dan

<small>chủ của Nhà nước ta.</small>

1.2. Quy định của pháp luật hiện hành về phiên tòa sơ thẩm dân sự

1.2.1. Những quy định chung về phiên tịa sơ thẩm dân sự

Q trình giải quyết vu án dân sự có thé trải qua các giai đoạn tơ tung

khác nhau, trong đó xét xử sơ thâm tại phiên tòa là giai đoạn quan trọng nhất.

Theo quy định của luật TTDS, phiên tòa sơ thâm sẽ được tiến hành với sự

tham gia của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tô tụng theo đúng thời gian, địa điểm được xác định trong quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tuy

<small>®Bui Thị Huyền (2013), Phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự - Những van dé lý luận và thực tiễn, Nxb.Chính trị quốc gia — sự thật, Hà Nội, tr. 37 - 38.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

nhiên, tac giả không nghiên cứu về tat cả các quy định chung về PTSTDS mà

chỉ nghiên cứu một số vấn đề sau.

1.2.1.1. Sự có mặt cua Kiểm sát viên

Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tổ tụng thực hiện kiểm sát các hoạt

động TTDS theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Viện kiểm sát sẽ kiêm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự và thi hành án dé dam bảo cho việc giải quyết các vụ án dân sự và thi hành án dân sự kip

<small>thời, đúng pháp luật.</small>

Theo quy định tại Điều 21 BLTTDS năm 2015, vị trí, vai trị của Viện kiểm sát trong việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS như

sau: Viện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm

cho việc giải quyết vụ án dân sự kip thời, đúng pháp luật; Viện kiểm sát tham

gia các phiên hop sơ thâm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thấm đối với

những vụ án do Tòa án tiễn hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tai sản cơng, lợi ích cơng cộng, qun sử dung đất, nhà ở hoặc có đương sự

là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn

chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ

hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này thì Viện Kiểm sát cùng cấp tham gia phiên tòa.

Tại Điều 232 BLTTDS năm 2015 quy định: “/. Kiểm sdt viên được

Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân cơng có nhiệm vụ tham gia phiên tịa; nếu Kiểm sát viên vắng mat thì HDXX van tiễn hành xét xử, khơng hỗn

<small>phiên toa.</small>

2. Trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi tại phiên tịa hoặc khơng thể tiếp tục tham gia phiên tịa xét xử, nhưng có Kiểm sát viên dự khuyết thì người này

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

được tham gia phiên tòa xét xử tiếp vụ án nếu họ có mặt tại phiên tịa từ dau”.

Như vậy, BLTTDS năm 2015 quy định Viện kiểm sát tham gia PTSTDS trong trường hợp pháp luật cho phép. Tại khoản 1 Điều 232 BLTTDS hiện hành quy định những vụ án vắng mặt Kiểm sát viên thì Tịa án

khơng phải hỗn phiên tịa. Đây là điểm mới của BLTTDS năm 2015 so với

BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bố sung năm 2011, quy định này hoàn toàn hợp lý bởi theo Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm

2014 thì Viện kiểm sát vừa có quyền giám sát trực tiếp, vừa có quyền giám sát gián tiếp. Trong TTDS, Viện kiểm sát có mặt tại phiên tòa sơ thâm trước

hết là trách nhiệm, nghĩa vụ để giám sát việc tuân theo pháp luật, tuy nhiên chỉ bắt buộc có mặt trong một SỐ trường hợp. Vì vậy, việc quy định mới tại

BLTTDS năm 2015 nhằm nâng cao trách nhiệm của Viện kiểm sát cũng như

việc hạn chế việc hỗn phiên tịa, tránh việc kéo dài thời hạn tố tụng, ảnh hưởng đến quyên và lợi ích hợp pháp của đương sự, đồng thời ảnh hưởng đến

<small>hiệu quả xét xử của Tòa án.</small>

Từ các quy định trên tác giả nhận thấy: Về cơ bản BLTTDS năm 2015

vẫn giữ nguyên các trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thâm theo quy định của BLTTDS năm 2004, song mở rộng thêm các trường hợp cụ thê quy định tại Điều 21 BLTTDS năm 2015. Với ý nghĩa đảm bảo cho các quy định của pháp luật dân sự và TTDS được chấp hành một cách nghiêm chỉnh

và thống nhất, thiết nghĩ việc BLTTDS hiện hành quy định theo hướng mở rộng về sự có mặt của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thâm trong giai đoạn hiện nay là thực sự cần thiết, khẳng định ngày một rõ nét hơn về vai trò của Viện kiểm sát trong công cuộc đấu tranh bảo vệ cơng lý, cơng bằng và lẽ phải.

1.2.1.2. Hỗn phiên tịa sơ thẩm dân sự

<small>Thứ nhát, về căn cứ hỗn phiên toa</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

<small>BLTTDS 2015 không quy định các trường hợp hỗn phiên tịa thành</small>

một điều luật mà quy định rải rác tại các điều luật tại khoản 2 Điều 56, khoản 2 Điều 62, khoản 2 Điều 84, Điều 227, khoản 2 Điều 229, khoản 2 Điều 230,

khoản 2 Điều 231 và Điều 241 của BLTTDS 2015. Cụ thể như sau:

Tại phiên tịa, việc thay đơi Thâm phán, Hội thấm nhân dân, Thâm tra viên, Thư ký Tòa án do Hội đồng xét xử quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi. Hội đồng xét xử thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa số. Trường hợp phải thay đổi Tham phán, Hội thâm nhân

dân, Thâm tra viên, Thư ký Tịa án thì Hội đồng xét xử ra quyết định hỗn

phiên tịa. Chánh án Tịa án quyết định cử Thâm phán, Hội thâm nhân dân,

Tham tra viên, Thu ký Tòa án thay thế người bị thay đổi. Nếu người bị thay

đổi là Chánh án Tịa án thì thâm quyền quyết định được thực hiện theo quy

định tại khoản 1 Điều này.

Tại phiên tòa, việc thay đổi Kiểm sát viên do Hội đồng xét xử quyết

định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi. Hội đồng xét xử thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa số.

Trường hợp phải thay đổi Kiểm sát viên thì Hội đồng xét xử ra quyết định hỗn phiên tịa. Việc cử Kiểm sát viên thay thế Kiểm sát viên bị thay đổi

do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định. Nếu Kiểm sát viên bị thay đơi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định.

Tại phiên tịa, phiên họp, việc thay đơi người giám định, người phiên

dịch do Thâm phán, Hội đồng xét xử, Hội đồng giải quyết việc dân sự quyết

định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi. Hội đồng xét xử, Hội

đồng giải quyết việc dân sự thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa

Trường hợp phải thay đổi người giám định, người phiên dịch thì Tham phán, Hội đồng xét xử, Hội đồng giải quyết việc dân sự ra quyết định hoãn phiên tòa, phiên họp. Việc trưng cầu người giám định khác hoặc thay người

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

phiên dịch khác được thực hiện theo quy định tại Điều 79 và Điều 81 của Bộ <small>luật này.</small>

Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của

họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tịa; nếu có người văng mặt thì Hội đồng xét xử phải hỗn phiên tịa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Trường hợp người làm chứng vắng mặt thì Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiễn hành xét xử hoặc hỗn phiên tịa.

Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử trong trường hợp người làm

chứng văng mặt nhưng trước đó họ đã có lời khai trực tiếp với Tòa án hoặc

gửi lời khai cho Tòa án. Chủ toạ phiên tịa cơng bồ lời khai đó.

Hội đồng xét xử quyết định hỗn phiên tịa nếu việc vắng mặt của người làm chứng tại phiên tòa gây khó khăn, ảnh hưởng đến việc giải quyết <small>khách quan, toàn diện vụ an.</small>

Trường hợp người giám định văng mặt thì Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử hoặc hỗn phiên tịa.

Trường hợp người phiên dịch văng mặt mà khơng có người khác thay thé thì Hội đồng xét xử quyết định hỗn phiên tịa.

Khi có người tham gia tố tụng văng mặt tại phiên tòa mà khơng thuộc <small>trường hợp Tịa án phải hỗn phiên tịa thì chủ tọa phiên tịa phải hỏi xem có</small>

ai đề nghị hỗn phiên tịa hay khơng; nếu có người đề nghị thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định theo thủ tục do Bộ luật này quy định và có thể chấp

nhận hoặc khơng chấp nhận; trường hợp khơng chấp nhận thì phải nêu rõ lý <small>do.</small>

Như vậy, so với BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011,

BLTTDS năm 2015 đã bỏ căn cứ vắng mặt Kiểm sát viên nhằm hạn chế việc

hỗn phiên tịa, tránh trường hợp kéo dài thời hạn tố tụng, ảnh hưởng đến quyên và lợi ich của các đương sự, đồng thời ảnh hưởng đến hiệu quả xét xử

<small>của Tòa án.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

Thứ hai, về thời điểm “hỗn phiên tịa”

“Hỗn phiên tòa” phát sinh vào thời điểm trước khi bắt đầu phiên tịa sơ thâm. Tịa án chỉ có thé hỗn phiên tịa khi có những căn cứ được quy định tại

Điều 233 BLTTDS năm 2015 như đã nêu ở phần căn cứ nói trên. Theo khoản

2 Điều 235 và 239 BLTTDS năm 2015, khi tiến hành thủ tục bắt đầu phiên tịa, néu có các căn cứ hỗn phiên tịa, HDXX sẽ thảo luận, thơng qua theo da số tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản. Do đó, việc hỗn phiên tịa được diễn ra tại phần thủ tục bắt đầu phiên tịa, khi đó nội dung vụ án chưa được xem xét giải quyết và thuộc thâm quyền của HĐXX.

Thứ: ba, về thời hạn “hỗn phiên toa”

Thời hạn “hỗn phiên tịa” sơ thẩm khơng được quá 1 tháng, ké từ ngày ra quyết định hỗn phiên tịa. Đối với phiên tịa xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn thì thời hạn hỗn hiên tịa khơng q 15 ngày, kê từ ngày ra quyết định hỗn phiên tịa (khoản 1 Điều 233 BLTTDS năm 2015). Tuy nhiên dé dam

bảo cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, đảm bảo việc mở lại phiên

tòa theo đúng quy định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích cho các đương sự thì

sau khi quyết định hỗn phiên tịa, Tịa án cần có kế hoạch mở lại phiên tịa

trong thời gian sớm nhất mà khơng nhất thiết phải để đến 01 tháng như Luật <small>đã quy định.</small>

Thnk tư, về hình thức “hỗn phiên tịa”

Việc “hỗn phiên tịa” phải ra Quyết định hỗn phiên tịa bằng văn bản

và Quyết định hỗn phiên tịa phải được Chủ tọa phiên tịa thay mặt HDXX

ký tên và thơng báo cơng khai tại phiên tịa; đối với người văng mặt thì Tịa

án gửi ngay cho họ quyết dinh đó, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp (khoản 3 Điều 233).

Quyết định hỗn phiên tịa có các nội dung chính sau: Ngày, tháng, <small>năm ra quyết định; Tên Tòa án và họ tên những người tiên hành tô tụng; vụ án</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

được đưa ra xét xử; lý do của việc hỗn phiên tịa; thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa (khoản 2 Điều 233 BLTTDS năm2015). Tuy nhiên, do người vắng mặt tại phiên tòa nên Tịa án phải tống đạt, thơng báo trực tiếp hoặc niêm yết quyết định hỗn phiên tịa cho họ theo thủ tục được quy định tại các điều, từ Điều 170 đến Điều 181 BLTTDS năm 2015. Nếu không tống đạt, thong báo trực tiếp được thì Tịa án phải niêm yết cơng khai quyết định hỗn theo quy định tại Điều 179 BLTTDS hiện hành, thời hạn niêm yết các văn bản tố tụng là mười lim ngày kế từ ngày niêm yết.

<small>Từ phân tích nêu trên, Tác giả đưa ra đánh giá như sau: Việc quy định</small>

về thâm quyền hỗn phiên tịa thuộc thẩm quyền của HDXX có tác dụng tránh

<small>việc hỗn phiên tịa tùy tiện, khơng đúng các căn cứ do pháp luật quy định.</small>

Thời hạn hoãn phiên tịa tối đa khơng q 01 tháng, đối với phiên tồ xét xử thơng thường, kể từ ngày ra quyết định hỗn phiên tịa. Vì vậy, thời gian để

tống đạt, niêm yết quyết định hỗn phiên tịa cho người vắng mặt có thé kéo dài 01 tháng. Do đó, thời hạn hỗn phiên tịa theo quy định của Điều 233

BLTTDS năm 2015 nhằm đảm bảo cho Tịa án có đủ thời gian can thiết để

triệu tập đương sự đến tham gia phiên tòa tiếp theo.

Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy, đa số trường hợp việc hỗn phiên

tịa khơng được thực hiện tại phiên tịa mà Thâm phán tự quyết định hỗn

<small>trước khi mở phiên tịa. Các lý do hỗn trong trường hợp này thường là đương</small>

sự thơng báo trước sẽ khơng đến phiên tịa vào ngày, giờ theo quyết định đưa

vụ an ra xét xử hoặc theo giấy triệu tập, HTND có việc đột xuất khơng tham

gia xét xử được. Thực tế này đang được TAND quận Bắc Từ Liêm cũng như

các Tòa án địa phương khác áp dụng và dé hợp thức hóa việc hỗn phiên tịa, Tịa án khơng ra quyết định mà chỉ thơng báo miệng, khơng phản ánh trong

hồ sơ nên Tịa án cấp trên có kiểm tra hay Viện kiểm sát có kiểm sát hồ sơ

cũng khó có thé phát hiện ra việc vi phạm pháp luật tố tụng. Cách giải quyết

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

này là có lợi cho đương sự có u cầu, thuận tiện cho Tịa án và tiết kiệm được chi phí tố tụng. Tuy nhiên, cách giải quyết này lại không bảo đảm được quyền lợi của những người tham gia tố tụng khác, ảnh hưởng đến tính minh bạch của thủ tục tố tụng.

1.2.2. Thủ tục tiễn hành phiên tòa sơ thẩm dân sự

1.2.2.1. Bắt dau phiên tòa <small>Khai mạc phiên tòa</small>

Sau khi các bước chuẩn bị khai mạc phiên tòa được tiến hành. Thâm

phán- Chủ tọa phiên tòa tiến hành thủ tục khai mạc phiên tịa. "Day là thi tuc

mang tính chất hành chính nhưng bắt buộc phải thực hiện trước khi HĐXX tiễn hành xét xử vụ án". Việc khai mạc phiên tòa được thực hiện như sau:

Chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra

xét xử. Trước khi Chu tọa khai mạc phiên tòa, Thư ký Toa án ơn định trật tự trong phịng xử án; kiểm tra và xác định sự có mặt, vắng mặt của những

người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tịa án, nếu có người vắng mặt thì phải làm rõ lý do; sắp xếp chỗ ngồi cho các đương sự, nếu có người làm chứng thì sắp xếp chỗ ngồi cho người làm chứng: phổ biến nội

quy phiên tịa. Thủ tục này có mục đích nhằm kiểm tra sự có mặt của những

người tham gia tổ tụng theo giấy triệu tập của Tịa án và ơn định trật tự của

phiên tòa, thể hiện tinh trang nghiêm của phiên tòa. Khi HDXX bước vào phòng xử án, Thư ký Tòa án yêu cầu tất cả mọi người trong phịng xử án

đứng dậy, sau đó Chủ tọa phiên tòa tuyên bố khai mạc phiên tòa. Sau khi khai

mạc, Chủ tọa phiên tòa đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử. Theo nguyên tắc,

thì kế từ thời điểm Chủ tọa phiên tòa đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử thì

việc giải quyết vụ án thuộc quyền hạn của HĐXX.

<small>°Vụ Công tác lập pháp (2004), Những van dé cơ bản của Bộ luật dân sự, Nxb. Tư pháp, Hà Nội</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và kiểm tra căn cước của đương sự, người tham gia tố tụng khác. Trên cơ sở kết quả báo cáo của Thư ký Tòa án về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tổ tụng thì Chủ tọa phiên tịa kiểm tra lại sự có mặt của họ và kiểm tra căn cước của đương sự. Dé đảm bảo cho việc giải quyết được đúng đắn, xét xử đúng đối tượng thì Chủ tọa phiên tòa kiểm tra căn cước của các đương sự thông qua việc hỏi để đương sự trả lời trực tiếp về họ tên, tuổi, địa chi nơi cư trú của mình. Việc kiểm tra căn cước của đương sự nhằm đối chiếu lại lời trình bày của họ với tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Chủ tọa phiên tịa phơ biến quyền, nghĩa vụ của các đương sự và của những người tham gia tố tụng khác. Theo BLTTDS hiện hành, quyền và nghĩa vụ nói chung của đương sự được quy định từ điều 70 đến điều 74. Đây

là quyền, nghĩa vụ của các đương sự khi tham gia tố tụng ở tất cả các giai

đoạn tố tụng, vì vậy, Chủ tọa chỉ lựa chọn, pho bién những quyền và nghĩa vụ

của đương sự tại PTSTDS và các quyên, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo thi hành bản án, quyết định sơ thâm. Quyền và nghĩa vụ của những người

tham gia tố tụng là cơ sở để họ tham gia vào quá trình giải quyết vụ án và bảo

vệ quyền lợi của mình một cách tốt nhất. Việc Chủ tọa phổ biến quyền và

nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng giúp họ hiểu rõ hơn về quyền và <small>nghĩa vụ của mình tại phiên tòa.</small>

Chủ tọa phiên tòa giới thiệu họ, tên những người tiến hành tổ tụng,

người giám định, người phiên dịch. Trong quyết định đưa vụ án ra xét xử đã

ghi rõ họ tên của những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch nhưng tại phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa vẫn phải giới thiệu về họ

tên của họ. Bởi lẽ, hoạt động xét xử của những chủ thé này có tinh chất quyết <small>định đên tính chính xác, khách quan của bản án, quyết định cho nên đơi với</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

họ ngồi u cầu về chun mơn, nghiệp vụ thì u cầu về sự vô tư, khách quan khi làm nhiệm vụ là rất quan trọng. BLTTDS hiện hành cũng đã quy định rất rõ những trường hợp mà người tiến hành tổ tụng, người giám định,

người phiên dịch phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu có người

yêu cầu thay đôi họ tại các Điều 52,53, 54, 55, 60 và 61. Đây là những trường

hợp có nhiều khả năng làm ảnh hưởng đến sự vô tư, khách quan khi giải quyết

vụ án. Do đó, thủ tục nhăm đảm bảo cho những người tham gia tố tụng và Kiểm sát viên thực hiện quyền yêu cầu thay đổi những người tiễn hành tố

<small>tụng, người giám định và người phiên dịch.</small>

Dé đảm bao tính khách quan của người làm chứng và ràng buộc trách <small>nhiệm của người làm chứng, người giám định, người phiên dịch thì BLTTDS</small>

năm 2015 bổ sung quy định: Yêu cầu người làm chứng cam kết khai báo đúng

sự thật, nếu không khai đúng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trừ

trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên; Yêu cầu người giám

định, người phiên dịch cam kết cung cấp kết quả giám định chính xác, phiên

dịch đúng nội dung cần phiên dịch. Trong TTDS, người làm chứng, người

giám định, người phiên dịch là những người tham gia tố tụng khác, họ khơng

có qun và lợi ích trực tiếp trong vụ án. Tuy nhiên, họ lại có vai trị rất quan

trọng trong việc hỗ trợ Tịa án và các đương sự xác định sự thật khách quan

của vụ án và bảo vệ được các quyên và lợi ích hợp pháp. Vì vậy, họ cần ý

thức rõ trách nhiệm của mình trước pháp luật, trước Tịa án khi tham gia tố

Như vậy, các quy định về thủ tục bắt đầu phiên tòa của BLTTDS năm 2015 rất chi tiết và cụ thé. Với quy định của BLTTDS năm 2015 về thủ tục bắt đầu phiên tịa thì vai trò của Thâm phán — Chủ tọa phiên tòa là rất lớn. Tất

cả các hoạt động của Thâm phán tại thủ tục này nhằm đảm bảo cho việc quản <small>lý vụ án của Tòa án được chặt chẽ, đảm bảo cho việc xét xử được đúng đôi</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

tượng, đúng thủ tục t6 tụng và những người tham gia tô tụng được biết rõ các quyền và nghĩa vu của mình tại PTSTDS. Do tính chất quan trọng của việc khai mạc phiên tịa nên khơng cho phép tiến hành khai mạc nhiều phiên tòa

một lần, làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của đương sự.

Về cơ bản, TAND quận Bắc Từ Liêm đã áp dụng đúng các quy định của pháp luật về thủ tục bắt đầu phiên tịa. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, thì thực tế, thì thực tế “do có nhiều vụ án phức tạp, đương sự gây khó khăn nên có tinh trạng phải hỗn phiên tịa nhiều lần, kéo theo việc bổ sung phiên tịa ngồi kế hoạch... Việc xét xử văng mặt đương sự tại phiên tòa nhiều

<small>trường hợp không đúng quy định của pháp luật”!?.</small>

Giải quyết yêu câu thay đổi người tiến hành to tụng, người giảm định,

<small>người phiên dịch</small>

Hoạt động xét xử của những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch có tính chất quyết định đến tính chính xác, khách quan của

bản án, quyết định dân sự sơ thâm cho nên đối với họ ngồi u cầu về chun mơn, nghiệp vụ thì u cầu về sự vơ tư, khách quan khi làm nhiệm vụ là rất quan trọng.Trong trường hợp có người yêu cầu thay đổi người tiễn hành

tố tụng, người giám định, người phiên dịch thì HĐXX phải xem xét, quyết

định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi. HDXX thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa số. Trong trường hợp phải thay đổi

người tiến hành tô tụng, người giám định, người phiên dịch thì HDXX ra

quyết định hỗn phiên tịa. Quyết định hỗn phiên tịa được Chủ tọa phiên tịa

thay mặt HĐXX ký tên và thơng báo cơng khai cho những người tham gia tố

tụng biết. Trường hợp không chấp nhận thì phải nêu lý do (Điều 240

<small>BLTTDS năm 2015).</small>

<small>1Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội: Báo cáo rút kinh nghiệm giải quyết các vụ án dân sự, hơnnhân và gia đình của Tịa án nhân dân quận, huyện do Tịa án nhân dân thành phơ Hà Nội hủy theothủ tục phúc thâm, Hà Nội, 2005, tr.4</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

Xem xét, quyết định hỗn phiên tịa khi có người vắng mặt

Theo quy định tại Điều 241 BLTTDS hiện hành, khi có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa mà thuộc trường hợp Tòa án phải hỗn phiên tịa thì HDXX xem xét và quyết định hỗn phiên tịa. Nếu những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tịa mà khơng thuộc trường hợp Tịa án buộc phải hỗn phiên tịa (như vắng mặt người làm chứng, người phiên dịch, người giám định) thì Chủ tọa phiên tịa phải hỏi xem có ai đề nghị hỗn phiên tịa hay khơng: nếu có người đề nghị thì HĐXX xem xét quyết định và có thể

chấp nhận hoặc không chấp nhận, trường hợp không chấp nhận thì phải nêu

rõ lý do. Quyết định hỗn phiên tịa phải được HĐXX thảo luận, thơng qua theo đa số tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản. Ngoài ra, trước khi bắt đầu thủ tục hỏi tại phiên tòa. Trong trường hợp cần thiết, Chủ tọa

phiên tịa có thé cách ly những người làm chứng với nhau hoặc người làm

chứng với các bên đương sự để đảm bảo tính khách quan trong q trình xét

xử (Điều 242).

Xem xét việc thay đổi, bồ sung, rút yêu cau

Thay đổi, b6 sung yêu cầu của đương sự là một nội dung của nguyên tắc quyền định đoạt và tự định đoạt của đương sự. Khoản 1 Điều 244

BLTTDS năm 2015 quy định: “HPXX chấp nhận việc thay đổi, bồ sung yêu

cau của đương sự nếu việc thay đổi, bồ sung yêu cau của họ không vượt quá

phạm vi yêu cau khởi kiện, yêu cau phản tố hoặc yêu cau độc lập ban đấu ”. Tuy nhiên BLTTDS năm 2015 chưa có quy định cụ thể như thế nào là

“yêu cầu ban đầu” cũng không quy định các trường hợp được coi là vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu. Nội dungquy định của điều luật chưa rõ ràng, cụ thé cho nên dẫn đến việc một điều luật có nhiều cách hiểu, quan điểm

khác nhau nên việc áp dụng pháp luật không được thống nhất, tùy nghi, đồng

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

thời gitra các cơ quan tiến hành tố tụng như Tòa án, Viện kiểm sát cũng chưa có sự thống nhất quan điểm giải quyết.

Về van đề u cầu ban đầu thì có quan điểm cho răng, yêu cầu ban đầu là yêu cầu được thé hiện ở đơn khởi kiện, đơn phản tố hoặc đơn yêu cầu độc lập. Quan điểm khác thì cho rằng, yêu cầu ban đầu cùng quan hệ pháp luật tranh chấp được đưa ra trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Để áp dụng pháp luật một cách thống nhất, thì cần có văn bản hướng dẫn chi tiết quy định xác định “yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban

đầu” tại khoản 1 Điều 244 BLTTDS năm 2015 là yêu cầu được xác định công khai tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, cơng khai chứng cứ và hịa

giải cuối cùng được thể hiện ở phần quyết định trong biên bản phiên họp kiếm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hịa giảicủa Tịa án về việc

chấp nhận, khơng chấp nhận các yêu cầu của đương sự.!!

Về việc nhận thức đối với cụm từ “không vượt quá phạm vi” yêu cầu ban đầu cũng còn nhiều quan điểm khác nhau. Có ý kiến cho rằng, “khơng vượt q phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu

nếu không làm xuất hiện thêm đương sự mới, không làm phát sinh thêm quan

hệ tranh chấp”. Quan điểm khác lại cho rằng, “không bi coi là vượt quá phạm

vi yêu cầu ban đầu nếu việc thay đổi, bố sung yêu cầu của đương sự tại phiên tòa được thực hiện trong giới hạn quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định

trong yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu mà không làm phát sinh quan hệ pháp luật mới. Trường hop thay đổi, b6 sung yêu cầu

của đương sự tại phiên tòa mặc dù vượt quá phạm vi yêu cau ban đầu nhưng nếu được các đương sự khác đồng ý thì HĐXX có thể chấp nhận”.!? Đề khắc

<small>"Cao Xuân Long (2018), “Một số bat cập trong xem xét việc đương sự thay đôi, bố sung yêu cầu</small>

<small>tại phiên tòa dan sự sơ thâm và giải pháp khắc phục”, Tap chí Tịa án nhân dân (11), tr. 19— 20.Cao Xuân Long (2018), “Một số bat cập trong xem xét việc đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầutại phiên toa dân sự sơ thẩm và giải pháp khắc phục”, Tap chí Tịa án nhân dan,(11), tr. 19 — 20.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">

phục van dé này, dé không còn nhiều quan điểm khác nhau về điều luật này thì Hội đồng Tham phán TANDTC sớm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành BLTTDS năm 2015, khoản 1 Điều 244 để bảo đảm áp dụng pháp luật thống

<small>Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự</small>

Hòa giải là sự thỏa thuận giữa các bên đương sự về việc giải quyết vụ án dân sự. Việc đương sự thỏa thuận, thương lượng giải quyết tranh chấp trong mọi giai đoạn của q trình TTDS ln được nhà nước khuyến khích. Bởi khi các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án thì mâu thuẫn của các đương sự cũng được giải quyết triệt dé va thi hành án thuận lợi. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thâm, hòa giải là trách nhiệm bắt buộc của Tòa án đối với hầu hết các vụ án dân sự, trừ trường hợp khơng được hịa giải quy định tại Điều 206 BLTTDS năm 2015 va trường hợp khơng hịa giải được quy định tại Điều 207 BLTTDS năm 2015.

Đối với các giai đoạn tiếp theo, Tịa án khơng hịa giải mà chỉ tạo điều kiện để các bên tự hòa giải bằng cách hỏi các đương sự có thỏa thuận được

với nhau về giải quyết vụ án hay không. Vi vậy, Điều 246 BLTTDS năm

<small>2015 quy định tại phiên tòa, Chủ tọa phiên tịa hỏi các đương sự có thỏa thuận</small>

với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án hay khơng. Việc Tịa án hỏi các đương sự có thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án thực chất là Tòa án

kiểm tra xem các đương sự có tự hịa giải được với nhau hay khơng. Nếu các <small>đương sự tự thỏa thuận được với nhau và thỏa thuận đó là tự nguyện, khơng vi</small>

phạm diéu pháp luật cam va đạo đức xã hội thì Tịa án sẽ cơng nhận sự thỏa thuận đó. BLTTDS năm 2004 quy định nếu các đương sự tự thỏa thuận với

<small>nhau và thỏa thuận đó là tự nguyện, khơng frái pháp luật và đạo đức xã hội</small> thì Tịa án sẽ cơng nhận sự thỏa thuận đó. Bản chất thỏa thuận của đương sự <small>vê việc giải quyết vụ án là một dạng giao dich dân sự. Vì thê, Tịa án chỉ cơng</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">

nhận giao dịch đó nếu thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nên nội dung của thỏa thuận đó phải thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực

<small>của giao dịch dân sự.</small>

Từ quy định trên tác giả nhận thấy: quy định về “Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự” tại Điều 246 BLTTDS năm 2015 là điểm mới nhằm bảo đảm sự tương thích với các quy định của pháp luật dân sự về điều kiện có

<small>hiệu lực của giao dịch dân sự. Tuy nhiên, BLTTDS năm 2015 không quy định</small>

cách giải quyết trong trường hợp các đương sự chỉ thỏa thuận giải quyết được

một phần nội dung vụ án nên sẽ dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau trong thực tiễn xét xử. Ngoài ra, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau

về việc giải quyết vụ án khi tranh tụng thì HDXX có được áp dụng Điều 246

BLTTDS năm 2015 để ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự không hay vẫn phải tiếp tục ra ban án dé công nhận sự thỏa thuận của các

đương sự là van đề mà BLTTDS năm 2015 không quy định cụ thé.

<small>1.2.2.2. Tranh tụng tại phiên tòa</small>

Thủ tục tranh tụng tại PTSTDS được quy định từ Điều 247 đến Điều 263 BLTTDS hiện hành. Thủ tục tranh tụng được tiễn hành tuần tự theo các

bước sau: Trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; hỏi để xác định yêu cầu của đương sự và về sự thỏa thuận của đương sự; các bên đương sự trình bày về nội dung vụ án và chứng cứ chứng

minh cho yêu cầu của mình; hỏi để làm rõ những vẫn đề mà đương sự trình

bày chưa rõ hoặc có mâu thuẫn, cơng bố tài liệu của vụ án, xem xét vật

chứng.Mục đích của tranh tụng là nhằm bảo đảm sự bình dang về quyền và

nghĩa vụ của các chủ thé tham gia TTDS, bên cạnh đó nhờ có hệ thống những quy định về tranh tụng hết sức chặt chẽ mà các chủ thê có thể tự mình hoặc thơng qua người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trình bày ý kiến,

<small>đưa ra những chứng cứ, tài liệu, lập luận đê chứng minh cho yêu câu của</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">

minh là có căn cứ. Trên cơ sở của tranh tụng sẽ giúp cho HDXX giải quyết vụ

<small>án được khách quan, tồn diện và chính xác.</small>

Điều 247 BLTTDS năm 2015 quy định như sau: “/. Tranh tung tại phiên tòa bao gom việc trình bày chứng cứ, hỏi, doi đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ dn dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dung dé giải quyết yêu cầu của các

<small>đương sự trong vu an.</small>

2. Việc tranh tụng tại phiên tòa được tiễn hành theo sự điễu khiển của

<small>Chủ tọa phiên tòa.</small>

3. Chủ tọa phiên tịa khơng được hạn chế thời gian tranh tụng, tạo diéu kiện cho những người tham gia tranh tung trình bay hết ý kiến nhưng có qun u cau họ dừng trình bày những y kiến khơng có liên quan đến vụ án

<small>dân sự `.</small>

Như vậy, BLTTDS năm 2015 đã quy định rất chi tiết nội dung của tranh tụng từ việc trình bày chứng cứ cho đến việc phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án. Đồng thời, quy định rất rõ nội dung, trình tự thủ tục

tranh tụng đều phải tuân theo sự điều khiển của Chủ tọa phiên tịa. Trong q

trình tranh tụng thì các chủ thể của TTDS phải tranh tụng trên cơ sở dân chủ, bởi đã tranh tụng là phải bình đăng và trình tự, thủ tục phải rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các đương sự khi tham gia TTDS.

Thứ nhất, việc trình bày của đương sự, người bảo vệ quyên và lợi ích

hợp pháp của đương sự (Diéu 248 BLTTDS):

Về cơ bản, kết cấu và nội dung của Điều này được kế thừa từ quy định cũ của BLTTDS năm 2004. Tuy nhiên, quy định tại khoản 3 Điều 248 BLTTDS năm 2015 có sự thay đổi đáng ké như sau: “Tại phiên tòa, duong sự, người bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của đương sự chỉ có quyên bồ sung chứng cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 96 của Bộ luật này dé chứng

</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">

minh cho yêu cau, dé nghị của mình”. Đối chiéu với quy định tại khoản 4 Điều 96 BLTTDS năm 2015 thì những chứng cứ, tài liệu mà trước đó Tịa án khơng yêu cầu đương sự giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thâm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thâm, phiên họp giải quyết

<small>việc dân sự. Quy định như vậy, thực sự hop lý bởi những chứng cứ, tai liệu</small>

nêu trên là hoàn toàn khách quan, đương sự không biết hoặc không nhận thức được nên khơng kip thời giao nộp cho Tịa án dé đưa vào hồ sơ vụ án. Việc

quy định như vậy là phù hop va bảo đảm được quyên lợi của các đương sự khi tham gia tô tụng mà không gây cản trở cho hoạt động xét xử của Tòa án.

Tht hai, về việc hỏi tại phiên tòa (từ Điều 249 đến Diéu 253 BLTTDS):

Điều 249 BLTTDS năm 2015 quy định rất rõ ràng về thứ tự và nguyên tac hỏi tại phiên tịa, trong đó ngun đơn, người bảo vệ quyên và lợi ich hợp

pháp của nguyên đơn hỏi trước, sau đó đến bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp của bị đơn, người có qun lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những

người tham gia tô tụng khác, Chủ tọa phiên tòa, HTND, Kiểm sát viên tham

<small>gia phiên tòa. Nội dung các câu hỏi phải rõ ràng, nghiêm túc, không trùng lặp,</small> không lợi dụng việc hỏi và trả lời để xâm phạm danh dự, nhân phẩm của những người tham gia tố tụng.

Về nội dung hỏi của các đương sự cơ bản được kế thừa từ quy định của

BLTTDS năm 2004. Tuy nhiên, tại khoản 5 Điều 253 BLTTDS năm 2015 đã

bồ sung quy định “Đương sự, người bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của đương sự hỏi người làm chứng sau khi được sự dong ý của Chủ tọa phiên toa”. Việc b6 sung quy định này cũng là hợp lý, bởi nguyên tắc của tranh

tụng là bình đăng, trong đó các đương sự có quyền hỏi người làm chứng dé <small>làm sáng tỏ các tình tiêt của vụ an.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">

Đánh giá chung về thực tiễn áp dụng thủ tục hỏi tại PTSTDS có thê

thấy các Thâm phán của TAND quận Bắc Từ Liêm đã thực hiện tốt việc hỏi

tại phiên tòa nên chất lượng xét xử các loại vụ án được bảo đảm. Tuy nhiên

vẫn còn một số phiên tòa thủ tục hỏi vẫn được tiến hành theo thói quen nên khơng có phần các đương sự tự trình bày. Có một số trường hợp, “HDXX

thực hiện việc hỏi còn nặng nề, mang tính chất mệnh lệnh như xét hỏi tại phiên tịa hình sự, nhiều khi lại tỏ thái độ lộng quyên, thiếu tôn trọng các bên

đương sự, đưa ra các câu hỏi đã hàm y mớm câu trả lời. Một số trường hop

<small>khác thì ngược lại, HDXX lại tạo khơng khí dân chủ quá trớn như các đương</small>

sự tranh nhau trả lời, đương sự nhiều khi cướp lời của HDXX, Luật sư va

Kiểm sát viên tranh nhau hỏï”!3. Phố biến nhất là việc các đương sự vừa trình

bày, Thâm phán vừa hỏi xen vào. Đa số các trường hợp, ngoài Chủ tọa phiên

tịa ra, các HTND hau như khơng tham gia vào việc hỏi hoặc khơng nắm rõ

các tình tiết và chứng cứ của vụ án nên câu hỏi không đi đúng vào nội dung

cần hỏi, không làm sáng tỏ được tình tiết, chứng cứ quan trọng trong vụ án, hỏi lặp lại những vẫn đề mà đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp của

đương sự đã trình bày... Bên cạnh đó, do trình độ của một số HTND cịn hạn

chế về kiến thức pháp lý nên có trường hợp các câu hỏi của HTND chủ yếu

mang tính giáo dục đạo đức, tuyên truyền pháp luật. Có trường hợp thì

<small>HDXX khơng xem xét chứng cứ cũng như khai thác lời khai của các nhân</small> chứng một cách khách quan, không cách ly người làm chứng theo Điều 242 BLTTDS 2015 dẫn đến làm sai lệch việc đánh giá chứng cứ của vụ án.

Tiủử ba, việc tạm ngừng phiên tòa (Diéu 259 BLTTDS):

Xét xử là hoạt động tố tụng và tư duy nên dé bảo đảm cho HDXX va những người tham gia tố tụng dé dang theo dõi được diễn biến cũng như các

<small>1Nguyễn Hai An: “Thực tiễn tranh tụng các phiên tòa dân sự và một số vấn đề đặt ra”, Kỷ yếu hộithảo: Vân dé tranh tụng trong tô tụng dân sự, do Viện Khoa học pháp lý — Bộ tư pháp tô chức, HaNội, 2004, tr.4</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">

tình tiết của vụ án và giải quyết được dứt điểm từng vụ án thì việc xét xử ở phiên tòa phải được tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ. Các thành viên của HĐXX phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, phải xét xử xong dứt điểm từng vụ án một rồi mới được chuyên sang xét xử vụ án khác, không được phép làm thủ tục khai mạc phiên tòa chung cho nhiều vụ án, hoặc tuyên án cùng một lúc cho nhiều vụ án. Tuy nhiên, có những trường hợp sau khi kết thúc bước thủ tục khai mạc phiên tòa, chuyên sang thủ tục hỏi, rồi bắt đầu đi vào giải quyết phần nội dung vụ án có những lý do khác nhau dẫn đến phiên tịa khơng thể tiếp tục được, trong trường hop đó HDXX phải tam

<small>ngừng phiên tịa.</small>

Căn cứ tạm ngừng phiên tịa: HDXX có quyền quyết định tạm ngừng phiên tịa khi có một trong sáu căn cứ sau được quy định tại Khoản 1 Điều

<small>259 BLTTDS năm 2015.</small>

<small>Hình thức và thủ tục tạm ngừng phiên toa: Việc tạm ngừng phiên toaphải được ghi vào biên bản phiên tòa.</small>

<small>Thời hạn tạm ngừng phiên toa: Thời hạn tạm ngừng phiên tòa là không</small>

quá 01 tháng, kế từ ngày HDXX quyết định tạm ngừng phiên tòa. Hết thời

hạn này, nếu lý do dé tạm ngừng phiên tịa khơng cịn thì HDXX tiếp tục tiến

hành phiên tòa; nếu lý do để tạm ngừng phiên tịa chưa được khắc phục thì

HĐXX ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. HDXX phải thông báo bằng văn ban cho những người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát cùng

Đối với việc gia hạn thời gian tạm ngừng phiên tòa, nội dung này cũng

đã được quy định hướng dẫn tại khoản 2 Điều 13 Thông tư liên tịch số

<small>02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016: “2. Trường hợp</small> HĐXX đã quyết định tạm ngừng phiên tòa và thời han tạm ngừng dưới 01

tháng: hết thời hạn này mà Tòa án quyết định tiếp tục tạm ngừng phiên tịa vì

</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">

lý do tạm ngừng phiên tịa chưa được khắc phục thì Tịa án thơng báo ngay băng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc tiếp tục tạm ngừng phiên tòa. Thời hạn tối đa của việc tạm ngừng phiên tòa là không quá 01 tháng kế từ

ngày HDXX quyết định tạm ngừng phiên tòa”.

Thứ tư, việc phát biểu, tranh luận, đối đáp (Từ Diéu 260 đến Diéu 263

<small>BLTTDS năm 2015):</small>

Khoản 1 Điều 260 BLTTDS năm 2015 đã quy định rất chỉ tiết về trình tự phát biểu khi tranh luận, về co bản khơng có nhiều thay đơi so với quy định

tại Điều 232 BLTTDS năm 2004, chỉ bổ sung quy định “Các đương sự khi đối đáp phải tuân theo sự điêu khiển của Chủ tọa phiên tòa và khi xét thấy

can thiết, HDXX có thể yêu câu các đương sự tranh luận bồ sung về những vấn dé cụ thể dé làm căn cứ giải quyết vụ dn”. Việc bỗ sung quy định này là

cần thiết, tuy nhiên về kết câu điều luật nên xây dựng trong khoản khác riêng biệt cho phù hợp. Bản chất của tranh luận là sự đối đáp giữa các bên đương sự

về chứng cứ, lý lẽ và quan điểm về việc giải quyết vụ án dân sự. Do đó, Điều

260 BLTTDS năm 2015 quy định, khi tranh luận người bảo vệ quyên và lợi

ich hợp pháp của đương sự phát biểu trước, sau đó đương sự bé sung ý kiến. Trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khơng có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì họ tự mình trình bày khi

tranh luận. Quy định này nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của tranh luận

và đề cao vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Trong trường hợp, các bên đương sự có ý kiến khác nhau về yêu cầu,

đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án thì theo

sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa các đương sự đối đáp với nhau. Nội dung tranh luận là những vấn đề còn mâu thuẫn giữa các bên đương sự. Vì vậy,

Chủ tọa phiên tịa điều khiển việc đối đáp của các bên đương sự chỉ tập trung <small>vào những vân đê mâu thuân và giải quyết nội dung vụ án.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">

Cũng tại khoản 3 của Điều này quy định: “Truong hợp vắng mặt một trong các đương sự và người tham gia to tụng khác thì Chủ tọa phiên tịa phải cong bố lời khai của ho dé trên cơ sở đó các đương sự có mặt tại phiên tịa tranh luận và đối đáp”. Day là quy định mới, đảm bảo nguyên tắc tranh tụng triệt dé, trong đó qun và lợi ích hợp pháp của các đương sự khi tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Đồng thời, mọi chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều phải được xem xét một cách khách quan, đầy đủ, tồn diện và cơng khai tại phiên tịa. Tuy nhiên, điều luật này lại

khơng quy định rõ thời điểm cơng bố lời khai nên vẫn cịn có nhiều quan

điểm, cách hiểu về thời điểm cơng bồ lời khai.

Phát biểu của các bên khi tranh luận chính là việc các bên thé hiện quan

điểm của mình về đánh giá chứng cứ, đánh giá yêu cầu, từ đó đưa ra phương án giải quyết vụ án được quy định tại Điều 261 BLTTDS năm 2015. Dé HĐXX có thể chấp nhận yêu cầu của mình thì các bên đương sự phải chứng minh cho yêu cầu của mình là đúng đắn, có cơ sở. Do đó, khi khởi kiện và trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, các đương sự phải thu thập, cung cấp

choTòa án các chứng cứ, tài liệu và các chứng cứ này đã được làm rõ tại phần hỏi của phiên tòa. Trên cơ sở các chứng cứ đã được kiểm tra và hỏi tại phiên tịa, tại phần tranh luận, thơng qua các quy định của pháp luật, các đương sự

<small>đưa ra những lý lẽ, lập luận chứng minh cho HĐXX, đương sự phía cịn lại và</small> những người tham gia tô tung thay yêu cầu và sự phản đối yêu cầu của minh

là đúng đắn và đương sự phía bên kia phải có nghĩa vụ đối với u cầu của

mình, nghĩa vụ cụ thể là như thế nào.

Tại Điều 262 BLTTDS năm 2015 quy định về việc phát biểu của Kiểm sát viên, quy định này có sự thay đổi đáng ké so với quy định của BLTTDS

năm 2004. Trước đây, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa chỉ được phát biéu về

tố tụng của vụ án nhưng theo quy định hiện nay Kiểm sát viên phát biểu ý

</div>

×