Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.64 MB, 41 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
HÀ NỘI – 2023
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">67 <sup>Nguyễn Thị </sup><sub>Phương Linh</sub> Chương II (2.1) 68 Trần Gia Linh Chương II (2.2)
1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài...9
1.2. Hiệp định đầu tư quốc tế...9
1.2.1. Khái niệm... 9
1.2.2. Phân loại...9 1
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">1.3 Tác động của hiệp định đầu tư quốc tế đối với thu hút FDI...10
Chương II: Hiệp định CPTPP và tác động của nó đến thu hút FDI vào Việt Nam. ... 13
2.1. Giới thiệu về hiệp định...13
2.1.1. Bối cảnh hình thành và mục tiêu của hiệp định...13
2.1.2. Các nội dung cơ bản của hiệp định...14
2.1.3. Phạm vi điều chỉnh của hiệp định CPTPP...17
2.2. Tác động của hiệp định đến thu hút đầu tư FDI vào Việt Nam...17
2.2.1. Thực trạng thu hút FDI vào Việt Nam trước khi có hiệp định...17
2.2.2. Thực trạng thu hút FDI vào Việt Nam sau khi có hiệp định:...21
2.2.3. Tác động của Hiệp định CPTPP tới thu hút FDI tại Việt Nam:...26
2.2.4. Đánh giá tính hiệu quả của hiệp định đối với việc thu hút FDI vào Việt Nam...30
2.2.5 Dự báo tác động của hiệp định CPTPP trong thời gian tới...32
Chương III: Kết luận và khuyến nghị...33
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Tổng vốn FDI đăng ký, FDI thực hiện và số dự án đăng ký mới vào Việt Nam giai đoạn 2010-2018 (tỷ USD). Bảng 2: Tổng hợp số liệu về tổng vốn FDI qua các năm và sự tăng
trưởng FDI qua các năm.
Bảng 3: FDI từ Mexico vào Việt Nam giai đoạn 2016-2021 Bảng 4: FDI từ Canada vào Việt Nam giai đoạn 2016-2021.
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1: Tổng vốn FDI đăng ký, FDI thực hiện và số dự án đăng ký mới vào Việt Nam giai đoạn 2010-2018. (tỷ USD). Hình 2: Cơ cấu đối tác thuộc CPTPP đầu tư vào Việt Nam (lũy kế
đến 20/12/2018)
Hình 3: Biểu đồ đánh giá của các doanh nghiệp về tác động của hiệp định CPTPP.
3
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">DANH MỤC VIẾT TẮT CPTPP Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình
Dương
FTA Hiệp định thương mại tự do FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế
UNCTAD Hội nghị của Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển IIAs Hiệp định đầu tư Quốc tế
BITs Hiệp định đầu tư song phương MAI Hiệp định đầu tư đa phương DTTs Các hiệp định tránh đánh thuế 2 lần TPP Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương ISDS Giải quyết tranh chấp đầu tư nhà nước UNCITRA
Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại Quốc tế AEC Cộng đồng kinh tế ASEAN
M&A Sáp nhập và mua bán
NCIF Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
UNCAC Công ước Liên hợp quốc về Chống tham nhũng
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">LỜI CẢM ƠN
Trước hết, nhóm chúng em muốn gửi lời cảm ơn đến cơ Nguyễn Thị Thanh. Trong quá trình học tập mặc dù đã gặp khơng ít khó khăn, tuy nhiên nhờ có sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của cơ, nhóm chúng em đã lĩnh hội được những kiến thức bổ ích, mới mẻ và có hướng đi đúng đắn trong bài thảo luận này.
Ngoài ra, cũng muốn gửi lời cảm ơn đến các các bạn trong nhóm ln giúp đỡ và hỗ trợ nhau trong quá trình tìm kiếm nguồn tài liệu, cố gắng làm việc đúng tiến độ và nhiệm vụ được phân chia để hoàn thành tốt bài thảo luận này.
Do còn hạn chế, thiếu hiểu biết chuyên sâu về kiến thức và các kỹ năng, bài thảo luận của nhóm chúng em khó tránh khỏi những sai sót. Với tinh thần cầu tiến, mong muốn tiến bộ, nhóm chúng em rất mong nhận được những lời nhận xét, góp ý tận tình từ cơ để bài thảo luận được hoàn thiện hơn.
Xin cảm ơn Cơ và các bạn!
5
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">LỜI CAM ĐOAN
Nhóm 7 chúng em xin cam đoan:
- Dưới sự hướng dẫn của giảng viên Nguyễn Thị Thanh, những nội dung trong bài thảo luận đều do các thành viên trong nhóm thực hiện.
- Các kiến thức trình bày do chúng em thu nhập nhờ sự hỗ trợ, tham khảo từ các tư liệu, giáo trình liên quan đến đề tài nghiên cứu. Khơng có sự sao chép y ngun các tư liệu trước đó.
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế tồn cầu hóa hiện nay, để phát triển việc hợp tác kinh tế quốc tế giữa các quốc gia, ngồi những hiệp định đã có thì một số nước vẫn tham gia vào những hiệp định mới mong muốn mở cửa hợp tác và phát triển rộng hơn nữa, trong đó khơng thể khơng nhắc đến Hiệp định Đối tác tồn diện và Tiến bộ xun Thái Bình Dương. Hiệp định Ðối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là một trong những hiệp định thương mại lớn gỡ bỏ các rào cản thương mại giữa 11 nền kinh tế tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam. Việt Nam tham gia ký hiệp định này chính là một bước cụ thể hóa chiến lược về đa phương hóa và đa dạng hóa các mối quan hệ hợp tác quốc tế, biểu hiện cho một trình độ mới của Việt Nam trong quá trình hội nhập với khu vực và quốc tế.
Tính đến nay, Việt Nam đã tham gia được năm năm. Trong năm năm này nhiều cam kết của CPTPP đã được triển khai trên thực tế, những kết quả cũng đã phản ánh thông qua các số liệu thống kê vĩ mô về thương mại, đầu tư giữa Việt Nam với các đối tác CPTPP, và các dữ liệu về công tác cải cách thể chế thực thi cam kết CPTPP ở Việt Nam. Là thỏa thuận thương mại tự do ( FTA) thế hệ mới có quy mơ lớn nhất mà Việt Nam từng tham gia, hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương ( CPTPP) được xem là cột mốc có tính bước ngoặt trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế theo chiều sâu của Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, hiệp định CPTPP sẽ giúp phát triển chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, từ đó gia tăng sự phát triển bền vững của nền kinh tế các nước thành viên, đồng thời thúc đẩy việc ứng dụng thương mại điện tử và công nghệ số vào các hoạt động sản xuất kinh doanh để phục hồi nhanh chóng sau khi đại dịch Covid -19. Với các cam kết bao gồm nhiều lĩnh vực và mức độ tự do hoá mạnh hơn phần lớn các FTA đã có của Việt Nam, CPTPP được dự báo sẽ tạo ra nhiều tác động tích cực cả về kinh tế và thể chế cho Việt Nam.
Cùng với các FTA khác, CPTPP sẽ tiếp tục góp phần tạo ra sức hút riêng của Việt Nam trong thu hút dòng vốn FDI dịch chuyển từ các nước vào Việt Nam đặc biệt là từ các đối tác trong hiệp định đồng thời cải thiện những hạn chế còn tồn tại cũng như cải thiện chất lượng dòng vốn FDI vào Việt Nam. Trong bối cảnh trên nhóm chúng em quyết định chọn đề tài: Hiệp định đối tác tồn diện và tiến bộ xun Thái Bình Dương (CPTPP) và tác động của nó đối với thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Việc nghiên cứu những tác động CPTPP đến đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng qt và hiểu rõ hơn về hiệp định này, đồng thời sẽ đưa ra được những hướng đi đúng đắn cho Việt Nam trong tương lai. Mục tiêu của bài nghiên cứu là: hệ thống những thông tin về hiệp định đối tác tồn diện và tiến bộ xun Thái Bình Dương CPTPP; tìm hiểu những tác động của CPTPP đối với thu hút
7
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và dự báo một số tác động của hiệp định trong thời gian tới , đồng thời đề xuất các khuyến nghị.
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">
1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.
Theo Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), FDI là một hoạt động đầu tư mang tính dài hạn nhằm thu về những lợi ích và sự kiểm soát lâu dài bởi một thực thể (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) của một đất nước trong một doanh nghiệp (chi nhánh ở nước ngồi) ở một nước khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế ấy.
Định nghĩa FDI được quốc tế chấp nhận rộng rãi nhất hiện nay do IMF và UNCTAD đưa ra dựa trên khái niệm về cán cân thanh tốn.
Tóm lại, FDI (Foreign Direct Investment) là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một quốc gia đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm sốt dự án đó.
1.2. Hiệp định đầu tư quốc tế. 1.2.1. Khái niệm.
Hiệp định đầu tư quốc tế (IIAs – International Investment Agreements): là thỏa thuận giữa các nước đề cập tới các vấn đề liên quan tới đầu tư quốc tế nhằm điều chỉnh các hoạt động này (trong đó về cơ bản là FDI) và các quy định được các bên thiết lập có ảnh hưởng tới nhà đầu tư khi đầu tư vào một quốc gia. Hiệp định đầu tư Quốc tế thường được áp dụng đối với hoạt động đầu tư trên lãnh thổ của một quốc gia do các nhà đầu tư của quốc gia khác tiến hành, các quy định mà chúng thiết lập có ảnh hưởng đến nhà đầu tư khi tiến hành đầu tư tại quốc gia khác, nước chủ đầu tư và nước chủ nhà nơi hoạt động đầu tư diễn ra.
IIAs thường tập trung vào các nội dung như đãi ngộ, xúc tiến và bảo hộ đầu tư quốc tế, giải quyết tranh chấp, các quy định thâm nhập và hoạt động.
9
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">1.2.2. Phân loạin
Xét về các vấn đề được điều chỉnh thì các Hiệp định đầu tư quốc tế được chia làm 2 nhóm chính:
Các hiệp định quốc tế chỉ dành cho đầu tư, gồm 3 cấp độ:
+ Hiệp định đầu tư song phương (Bilateral Investment Treaties - BITs): là một thỏa thuận giữa 2 quốc gia liên quan đến việc thúc đẩy và bảo vệ các khoản đầu tư trên lãnh thổ của nhau. Phần lớn IIA là BIT.
+ Hiệp định đầu tư khu vực (regional investment agreements): là hiệp định được ký kết giữa một số nước trong cùng một khu vực. Thường gắn liền với tiến trình hội nhập kinh tế ở các khu vực.
+ Hiệp định đầu tư đa phương (Multilateral Agreement on Investment, MAI): là hiệp định được ký kết giữa các chính phủ của một nhóm nước với nhau. Rất khó để đạt được sự nhất trí giữa số lượng lớn các quốc gia, với các lợi ích và chính sách khác nhau về FDI, khiến cho MAI khó được thơng qua.
Các thỏa thuận quốc tế khác có liên quan/điều khoản về đầu tư:
+ Các thỏa thuận song phương trong các lĩnh vực liên quan đến đầu tư: hiệp định tránh đánh thuế hai lần (DTTs)...
+ Các thỏa thuận song phương hoặc khu vực điều chỉnh các lĩnh vực rộng, trong đó có đầu tư: hiệp định thương mại tự do FTA…
+ Các thỏa thuận đa phương về các lĩnh vực cụ thể và liên quan đến đầu tư. Hiến chương Năng lượng, Hiến định TRIMS (Agreement on Trade - Related Investment Measures), Hiệp định GATS.
1.3 Tác động của hiệp định đầu tư quốc tế đối với thu hút FDI.
IIA có thể tác động đến dịng vốn FDI thơng qua việc cải thiện các thành phần riêng lẻ trong khuôn khổ của chính sách và thể chế cho FDI ở nước sở tại, từ đó góp phần cải thiện mơi trường đầu tư.
Và dưới đây là một số cơ chế để đánh giá tác động của chúng đối với thu hút FDI.
Bảo hộ FDI:
IIA thúc đẩy FDI bằng cách góp phần tạo ra môi trường pháp lý ổn định và thuận lợi cho đầu tư. Bên cạnh đó, IIAS có thể giải quyết cụ thể vấn đề “obsolescing bargaining” (thương lượng lỗi thời).
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">Mặc dù rủi ro bị trưng thu hoàn toàn tương đối thấp nhưng rủi ro tước quyền trưng thu gián tiếp vẫn chưa biến mất và có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau. IIA giải quyết vấn đề này bằng cách bắt buộc nước sở tại phải bồi thường nếu do hành động đó của chính phủ mà nhà đầu tư nước ngoài trên thực tế bị tước quyền sở hữu.
IIA bằng cách đặt cơ chế giải quyết tranh chấp bên ngoài hệ thống trong nước của nước sở tại, có thể thay thế cho chất lượng thể chế kém. Nói cách khác, IIA ở một mức độ nào đó có thể cung cấp một đường tắt để đạt được độ tin cậy về chính sách trên trường quốc tế (Hallward Driemeier 2003).
Tầm quan trọng của IIA cũng trở nên rõ ràng khi so sánh mức độ bảo vệ của hiệp ước với thời kỳ trước IIA. Trước khi IIA được ký kết, các nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm sự bảo vệ của “luật đầu tư quốc tế” đã gặp phần lớn các điều khoản phân tán của hiệp ước, một số tập quán đáng nghi ngờ và các nguyên tắc chung gây tranh cãi trong luật (Salacuse và Sullivan 2005: 69-70).
Nếu một dự án FDI được tài trợ một phần bằng vốn cổ phần và một phần bằng nợ, như trường hợp điển hình của các dự án của cơ sở hạ tầng hoặc khai thác mỏ lớn, thì các ngân hàng gia hạn tín dụng cho các dự án đó sẽ thường xuyên yêu cầu mua bảo hiểm rủi ro chính trị hoặc tự mua bảo hiểm đó với số tiền hạn chế. Do đó, bảo hiểm này có thể phục vụ nhiều nhà đầu tư như một sự thay thế cho BIT trong các khía cạnh liên quan đến rủi ro chính trị, đặc biệt là ở những quốc gia của nhà đầu tư khơng có BIT.
Cuối cùng, một danh mục đặc biệt của IIA - các hiệp định tránh đánh thuế 2 lần ( hay còn gọi là “hiệp ước tránh đánh thuế hai lần – DTT ) giải quyết mối lo ngại của các nhà đầu tư nước ngoài rằng họ có thể sẽ phải chịu thuế đối với cùng 1 khoản thu nhập ở cả nước sở tại.
Tự do hóa FDI:
Liên quan đến tác động của IIAS đối với tự do hóa đầu tư thì nếu như trước đây tự do hóa FDI theo định hướng IIA chủ yếu chỉ hạn chế vấn đề đối với tài nguyên thiên nhiên và dịch vụ. Ngược lại, hiện nay các hiệp định khơng chỉ mở cửa cho đầu tư nước ngồi trong các vấn đề đó và cả trong lĩnh vực sản xuất. Ở Hoa Kỳ và các BIT của Canada, những ngoại lệ về dịch vụ như vậy thường được đưa vào một phụ lục của hiệp ước (cái gọi là “danh sách phủ định”).
Tính minh bạch, khả năng dự đốn và tính ổn định:
IIA thiết lập các nghĩa vụ ràng buộc đối với tất cả các cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại. Điều này khiến cho các cơ quan có thẩm quyền hành động một cách mạch lạc không nhũng nhiễu đối với các nhà đầu tư nước ngoài về vấn đề thủ tục hay liên quan đến các chính sách quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài.
11
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">IIAs tăng cường tính minh bạch vì các quy tắc cơ bản để bảo vệ và đối xử với các nhà đầu tư được nêu rõ trong mọi tài liệu ràng buộc về mặt pháp lý. Các hiệp định IIAs cũng nêu rõ các nghĩa vụ của các bên ký kết.
IIAs thúc đẩy khả năng dự đốn và tính ổn định của các quy tắc đầu tư khi chúng được thiết lập các nghĩa vụ quốc tế mang tính ràng buộc về mặt pháp lý mà nước sở tại không được đơn phương đi lệch hướng. Điều này được đảm bảo thông qua các thủ tục giải quyết tranh chấp giữa các nhà nước và nhà đầu tư quốc tế.
Đối với các nhà đầu tư, họ mong tính chất ổn định, rõ ràng trong chính sách FDI ở các nước sở tại, điều này giúp các nhà đầu tư tránh những ảnh hưởng xấu, thậm chí làm hỏng các kế hoạch kinh doanh hiện có. Trong các thị trường hoặc ngành cơng nghiệp được quản lý chặt chẽ hoặc chính phủ có mức đầu tư lớn, các nhà đầu tư nước ngồi thường tìm kiếm lời hứa của chính phủ trong hợp đồng đầu tư để đảm bảo khả năng dự đốn và tính ổn định của các thơng số chính. Trong cuộc cạnh tranh và các ngành ít được quản lý hơn, các nhà đầu tư nước ngoài phải dựa vào luật pháp và quy định chung của nước sở tại, thành tích và danh tiếng chung của nước đó về khả năng dự đốn và tính ổn định của các chính sách quan trọng đối với FDI.
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">2.1. Giới thiệu về hiệp định.
2.1.1. Bối cảnh hình thành và mục tiêu của hiệp định.n
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương gọi tắt là Hiệp định CPTPP, là một hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới. CPTPP bao gồm 11 nước thành viên là: Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam. Cùng với EVFTA, CPTPP là một FTA có phạm vi và mức độ cam kết rộng và cao nhất của Việt Nam từ trước tới nay.
Bối cảnh hình thành hiệp định:
Khởi đầu, Hiệp định TPP có 4 nước tham gia là Brunei, Chile, New Zealand, Singapore tại Auckland, Niu Di-lân.
Ngày 22 tháng 9 năm 2008, Hoa Kỳ tuyên bố tham gia vào P4 nhưng đề nghị không phải trong khuôn khổ Hiệp định P4 cũ, mà các bên sẽ đàm phán một Hiệp định hoàn toàn mới, gọi là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Ngay sau đó, các nước Australia và Peru cũng tuyên bố tham gia TPP.
Năm 2009, Việt Nam tham gia TPP với tư cách là quan sát viên đặc biệt. Sau 3 phiên đàm phán, Việt Nam chính thức tham gia Hiệp định này nhân Hội nghị Cấp cao APEC tổ chức từ ngày 13 đến ngày 14 tháng 11 năm 2010 tại thành phố Yokohama (Nhật Bản).
Cùng với quá trình đàm phán, TPP đã tiếp nhận thêm các thành viên mới là Malaysia, Mexico, Canada và Nhật Bản, nâng tổng số nước tham gia lên thành 12.
Trải qua hơn 30 phiên đàm phán ở cấp kỹ thuật và hơn 10 cuộc đàm phán ở cấp Bộ trưởng, các nước TPP đã kết thúc cơ bản toàn bộ các nội dung đàm phán tại Hội nghị Bộ trưởng tổ chức tại Atlanta, Hoa Kỳ vào tháng 10 năm 2015. Ngày 04 tháng 02 năm 2016, Bộ trưởng của 12 nước tham gia Hiệp định TPP đã tham dự Lễ ký để xác thực lời văn Hiệp định TPP tại Auckland, New Zealand.
Tuy nhiên, vào ngày 30 tháng 01 năm 2017, Hoa Kỳ đã chính thức tuyên bố rút khỏi Hiệp định TPP. Trước sự kiện này, các nước TPP cịn lại đã tích cực nghiên
13
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">cứu, trao đổi nhằm thống nhất được hướng xử lý đối với Hiệp định TPP trong bối cảnh mới.
Tháng 11 năm 2017, tại Đà Nẵng, Việt Nam, 11 nước còn lại đã thống nhất đổi tên Hiệp định TPP thành Hiệp định CPTPP với những nội dung cốt lõi.
Ngày 08 tháng 3 năm 2018, các Bộ trưởng của 11 nước tham gia Hiệp định CPTPP đã chính thức ký kết Hiệp định CPTPP tại thành phố Xan-ti-a-gô, Chile.
Đối với Việt Nam, Hiệp định có hiệu lực từ ngày 14 tháng 01 năm 2019. Mục tiêu của hiệp định:
Mục tiêu chính của CPTPP là tăng cường hợp tác kinh tế cũng như các chính sách, quy định thương mại giữa các quốc gia, thơng qua đó tiến tới xóa bỏ các loại thuế quan và rào cản thương mại đối với hàng hóa, dịch vụ xuất, nhập khẩu giữa các nước thành viên, nhằm tăng cường thương mại và đầu tư, thúc đẩy sáng kiến, đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và lợi ích xã hội. Ngồi ra, CPTPP sẽ còn thống nhất nhiều luật lệ, quy tắc chung giữa các nước, như sở hữu trí tuệ, chất lượng thực phẩm, hay an tồn lao động, … Bên cạnh đó, CPTPP còn giúp thắt chặt hơn mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia tham gia hiệp định, thông qua các biện pháp giảm (thậm chí là loại bỏ hoàn toàn trong một số trường hợp) các hàng rào thuế quan giữa các nước, giúp tăng cường trao đổi hàng hóa và dịch vụ.
2.1.2. Các nội dung cơ bản của hiệp định
Hiệp định CPTPP gồm 07 Điều và 01 Phụ lục. Hiệp định CPTPP có quy định về mối quan hệ với Hiệp định TPP trước đây (đã được 12 nước gồm Australia, Brunei, Canada, Chile, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam ký ngày 06 tháng 2 năm 2016 tại New Zealand) cũng như xử lý các vấn đề khác liên quan đến tính hiệu lực, rút khỏi hay gia nhập Hiệp định CPTPP. Bao gồm:
Điều 1: Tích hợp Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương Điều 2: Tạm đình chỉ thực hiện một số điều khoản
Điều 7: Các lời văn xác thực
Về cơ bản, Hiệp định CPTPP giữ nguyên nội dung của Hiệp định TPP (gồm
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">nghĩa vụ để bảo đảm sự cân bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của các nước thành viên trong bối cảnh Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp định TPP. 20 nhóm nghĩa vụ tạm hỗn này bao gồm 11 nghĩa vụ liên quan tới chương Sở hữu trí tuệ, 2 nghĩa vụ liên quan đến chương Mua sắm của Chính phủ và 7 nghĩa vụ cịn lại liên quan tới 7 chương là Quản lý hải quan và Tạo thuận lợi Thương mại, Đầu tư, Thương mại dịch vụ xun biên giới, Dịch vụ Tài chính, Viễn thơng, Mơi trường, Minh bạch hóa và Chống tham nhũng. Tuy nhiên, toàn bộ các cam kết về mở cửa thị trường trong Hiệp định TPP vẫn được giữ nguyên trong Hiệp định CPTPP.
Chương 9 - Đầu tư của hiệp định CPTPP bao gồm 02 nhóm nội dung chính: - Các ngun tắc chung trong đối xử của nước nơi nhận đầu tư trong CPTPP với nhà đầu tư đến từ các nước CPTPP khác: Các nguyên tắc (tiêu chuẩn ứng xử) này có thể được xếp thành 02 nhóm: một là các nguyên tắc mở cửa và bảo hộ đầu tư nói chung, hai là các nguyên tắc bảo đảm các quyền lợi cơ bản của nhà đầu tư. Chương này cũng nêu các ngoại lệ đối với các nguyên tắc này (trong đó có những hạn chế về mở cửa thị trường).
- Các cam kết liên quan tới thủ tục giải quyết tranh chấp đầu tư giữa Nhà đầu tư nước ngoài với Nhà nước nơi nhận đầu tư trong CPTPP
Các nguyên tắc về đầu tư:
(i) Nhóm các nguyên tắc mở cửa thị trường, xóa bỏ rào cản đầu tư.
(ii) Nhóm các nguyên tắc nhằm đảm bảo các quyền lợi cơ bản của nhà đầu tư. (iii) Các bảo lưu và ngoại lệ được CPTPP thừa nhận trong đối xử với nhà đầu tư nước ngoài
Mở cửa đầu tư: Trong CPTPP, các Thành viên cam kết mở cửa đầu tư theo phương thức chọn - bỏ (khác với phương thức mở cửa kiểu chọn - cho trong WTO). Theo Chương 9 này, các Thành viên cam kết sẽ mở cửa các lĩnh vực đầu tư theo đúng các nguyên tắc nêu tại Chương 9 ngoại trừ các hạn chế đối với đầu tư trong các lĩnh vực nêu tại các Danh mục các biện pháp khơng tương thích, quy định tại Phụ lục I và Phụ lục II của CPTPP (mỗi nước sẽ có 01 Danh mục riêng).
- Phụ lục I: bao gồm các biện pháp không tương thích đang áp dụng tại thời điểm CPTPP có hiệu lực mà mỗi nước CPTPP sẽ được tiếp tục áp dụng.
- Phụ lục II: bao gồm các biện pháp không tương thích mà nước Thành viên CPTPP được phép áp dụng mà khơng có hạn chế gì về thời gian (hiện tại hay tương lai) và cách thức (thuận lợi hơn hay khó khăn hơn).
Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước và Nhà đầu tư nước ngoài (ISDS): (i) Phạm vi và điều kiện khởi kiện ISDS
15
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">- Chủ thể được quyền khởi kiện (Nguyên đơn): Nhà đầu tư CPTPP Nhà đầu tư CPTPP có quyền khởi kiện nhân danh mình hoặc nhân danh doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư CPTPP sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp. Tuy nhiên, nếu nhà đầu tư CPTPP là cá nhân có quốc tịch Việt Nam và cư trú thường xuyên tại một nước CPTPP thì khơng có quyền kiện Nhà nước Việt Nam theo cơ chế này.
- Chủ thể bị kiện (Bị đơn) là các Cơ quan Nhà nước Việt Nam cấp trung ương, địa phương hoặc bất kỳ chủ thể nào (các doanh nghiệp Nhà nước hoặc chủ thể nào khác), khi thực thi chức năng của Chính phủ do các Cơ quan Nhà nước Việt Nam cấp trung ương hoặc địa phương ủy quyền.
- Căn cứ để khởi kiện là Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ của mình theo quy định tại Chương Đầu tư của CPTPP và Nguyên đơn phải chịu tổn thất hoặc thiệt hại vì lý do hoặc xuất phát từ vi phạm này của Bị đơn. Bằng cam kết trong CPTPP, các nước CPTPP được coi là đã chấp thuận việc có thể bị khởi kiện bởi các nhà đầu tư CPTPP ra Trọng tài theo cơ chế ISDS của CPTPP một cách tự động. Và vì vậy một vụ việc có thể được khởi xướng chỉ bằng yêu cầu kiện ra Trọng tài đơn phương của nhà đầu tư mà không cần có văn bản chấp thuận cụ thể nào của Nhà nước bị kiện.
Mục này cũng quy định về thời hiệu khởi kiện 3,5 năm kể từ ngày Nguyên đơn biết hoặc bắt buộc phải biết về vi phạm của Bị đơn và biết về thiệt hại, tổn thất liên quan. Song song với kiện theo cơ chế ISDS, Nguyên đơn vẫn có quyền thực hiện các khiếu nại, khiếu kiện đề nghị áp dụng biện pháp tạm thời (nhưng khơng phải là kiện địi bồi thường thiệt hại) ra Tòa án hay cơ quan hành chính của Nước nơi nhận đầu tư.
(ii) Thủ tục tố tụng ISDS
So với các cơ chế ISDS từng được đưa vào các FTA trước đây trên thế giới, CPTPP được cho là đã bổ sung theo hướng tăng tính minh bạch của q trình tố tụng, mở rộng diện tham gia ý kiến bình luận và hạn chế tình trạng lạm dụng việc đi kiện.
Theo đó, cơ quan giải quyết tranh chấp bao gồm Trọng tài ICSID, Trọng tài theonguyên tắc tố tụng UNCITRAL hoặc bất kỳ thiết chế hoặc quy tắc trọng tài nào mà Nguyên đơn và Bị đơn thống nhất được với nhau.
Về thủ tục khởi kiện, để khởi kiện, trước hết Nguyên đơn và Bị đơn phải tìm cách giải quyết tranh chấp thơng qua tham vấn, đàm phán trực tiếp hoặc qua các chủ thể trung gian hòa giải trên cơ sở yêu cầu tham vấn chính thức bằng văn bản của Nguyên đơn gửi Bị đơn. Chỉ khi sau 6 tháng kể từ ngày Bị đơn nhận được yêu cầu tham vấn mà tranh chấp khơng thể được giải quyết theo cách nói trên thì lúc này Nguyên đơn mới có thể khởi kiện ra Trọng tài quốc tế theo ISDS.
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">Thủ tục tố tụng theo quy chế ISDS được quy định trong Chương Đầu tư của CPTPP và sẽ áp dụng bắt buộc cho tất cả các tranh chấp giải quyết theo Cơ chế được cho là đã bổ sung một số điểm nhằm tăng cường tính minh bạch của quy trình, tính khách quan của trọng tài và hạn chế các khiếu kiện vô lý (chỉ khiếu kiện để dọa/gây sức ép đối với Nhà nước nơi nhận đầu tư). Từ góc độ Nhà nước nơi nhận đầu tư, mặc dù cơ chế trong CPTPP có một số yêu cầu tố tụng ràng buộc khơng thật có lợi cho Việt Nam, so với các Hiệp định bảo hộ thương mại đầu tư (có chứa cam kết ISDS), CPTPP với những cam kết chi tiết về tố tụng được cho là hiệu quả hơn trong việc ngăn chặn tình trạng lạm dụng kiện ISDS để gây sức ép cho Nhà nước hoặc trọng tài quốc tế không đáp ứng các u cầu về tính khách quan, quy trình thiếu chặt chẽ, ...
U2.1.3. Phạm vi điều chỉnh của hiệp định CPTPP.
Nếu như các hiệp định thương mại trước đây chỉ chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ, cắt giảm thuế quan, cơ chế giải quyết tranh chấp thì CPTPP có phạm vi điều chỉnh rộng hơn. CPTPP, một mặt tiếp tục cụ thể hóa các quy định về thương mại, thuế quan; mặt khác, bổ sung nhiều quy định cho một số lĩnh vực phi thương mại mới, như đầu tư trực tiếp, tiêu chuẩn lao động, môi trường, phát triển bền vững.... Với những nội dung mới này, CPTPP được đánh giá là một FTA thế hệ mới có tham vọng, toàn diện và sâu rộng.
Đối với chương 9 - Đầu tư, các cam kết trong Chương Đầu tư (ngoại trừ một số cam kết được nêu rõ phạm vi khác) đều chỉ áp dụng cho nhà đầu tư và Khoản đầu tư của nhà đầu tư đến từ các nước Thành viên CPTPP khác. Đối với Việt Nam thì phạm vi này được hiểu như sau:
- Nhà đầu tư CPTPP được hiểu là nhà đầu tư (Nhà nước, doanh nghiệp hoặc công dân) của một nước CPTPP khác đang hoặc đã thực hiện đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, trường hợp nhà đầu tư CPTPP nhưng thuộc các trường hợp sau đây sẽ bị loại trừ, không được hưởng các quyền theo CPTPP:
+ Được sở hữu hoặc kiểm soát bởi một Nhà nước, tổ chức hay cá nhân của một nước không phải thành viên CPTPP
+ Được sở hữu hoặc kiểm soát của tổ chức, cá nhân Việt Nam.
+ Khơng có hoạt động kinh doanh đáng kể ở bất kỳ nước CPTPP nào ngoại trừ Việt Nam.
- Khoản đầu tư của nhà đầu tư CPTPP được hiểu là bất kỳ khối tài sản nào mà nhà đầu tư CPTPP sở hữu hoặc kiểm soát một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, có tính chất đầu tư (bao gồm các đặc tính như cam kết dành một khoản vốn, với mục đích thu lợi nhuận và suy đốn là có rủi ro) ở Việt Nam. Khoản đầu tư này bắt buộc phải tồn tại tại hoặc sau thời điểm CPTPP có hiệu lực với Việt Nam. Như vậy với các
17
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">khoản đầu tư của các nhà đầu tư CPTPP đã thực hiện nhưng đã kết thúc hoặc chấm dứt trước khi CPTPP có hiệu lực với Việt Nam sẽ khơng được hưởng các quyền theo quy định của CPTPP.
2.2. Tác động của hiệp định đến thu hút đầu tư FDI vào Việt Nam.
2.2.1. Thực trạng thu hút FDI vào Việt Nam trước khi có hiệp định.n
Với lợi thế cạnh tranh về mơi trường đầu tư thơng thống, mơi trường chính trị ổn định, mơi trường kinh tế vĩ mơ phát triển ổn định, nguồn nhân lực dồi dào với chi phí thấp hơn so với nhiều thị trường khác. Việt Nam là một trong những quốc gia hấp dẫn với nhà đầu tư nước ngồi, điển hình là theo dữ liệu của ngân hàng thế giới (WB) vào năm 2022 nước ta đã vượt 108 leo lên vị trí thứ 28 thế giới và thứ 3/10 nước ASEAN so với số liệu năm 1986. Nhờ các lợi thế đó, dòng vốn FDI vào Việt Nam những năm gần đây có xu hướng tăng lên, đặc biệt là sau khi Việt Nam tham gia vào các hiệp định thương mại cũng như đầu tư song và đa phương.
Hình 1. Tổng vốn FDI đăng ký, FDI thực hiện và số dự án đăng ký mới vào Việt Nam giai đoạn 2010-2018. (tỷ USD).
</div>