Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (136.12 KB, 21 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<small>Phần I: Mở đầu</small>
<small>1. Lý do chọn đề tài</small>
<small>1. Mục đích nghiên cứu đề tài</small>
<small>2. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu3. Kết cấu của đề tài</small>
<small>Phần II: Nội dung</small>
<small>Chương 1: Nguồn gốc quá trình hình thành</small>
<small>1.2.3. Quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc</small>
<small>Chương 2: Nguyễn Ái Quốc chuyển bị những điều kiện về tư tưởng, chính trị và tổ chức choviệc thành lập Đảng Cộng sản</small>
<small>2.1.Về tư tưởng2.2.Về tổ chức2.3.Về chính trị</small>
<small>Chương 3: Hội nghị thành lập Đảng và vai trò của Nguyễn Ái Quốc đến sự thành lập Đảng3.1. Hội nghị hợp nhất sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam.</small>
<small>3.2. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng – định hướng ban đầu mà Người đã đặt ra cho</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><small>Chương 4: Suy nghĩ của bản thân về công lao của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với sự ra đờicủa Đảng ta</small>
Phần III: Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">1. Lý do chọn đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng của cách mạng Việt Nam, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối chính trị, về con đường cứu nước, cứu dân, thống nhất đất nước, thoát khỏi ách áp bức của thực dân, phong kiến, thoát khỏi bần cùng, lạc hậu. Chính đường lối này là cơ sở đảm bảo cho sự tập hợp lực lượng và sự đoàn kết, thống nhất của tồn dân tộc có chung tư tưởng và hành động để tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại giành những thắng lợi to lớn sau này. Đây cũng là điều kiện cơ bản quyết định phương hướng phát triển, bước đi của cách mạng Việt Nam trong suốt 75 năm qua.
Những thành công mà Đảng ta đã đạt được ngày hơm nay có sự đóng góp rất lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Chính Người đã chuẩn bị các điều kiện về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn và truyền bá khuynh hướng vô sản cho tầng lớp thanh niên yêu nước Việt Nam. Và cũng chính Người đã thống nhất 3 tổ chức cộng sản để thành lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam như hôm nay.
Ngày nay, nhân dân Việt Nam đặc biệt là thế hệ trẻ chúng em đã và đang trực tiếp hưởng thụ những thành quả của cách mạng, từ sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng, đồng thời nhận thấy vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Do vậy chúng em lựa chọn đề tài trên làm đề tiểu luận của mình.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Là cơng dân của một đất nước xã hội chủ nghĩa, chịu sự dìu dắt của Đảng cộng sản, chúng ta phải nắm vững được tư tưởng đúng đắn của Đảng không ngừng nâng cao hiểu biết về Đảng, vai trò của Đảng, quá trình thành lập Đảng đặc biệt là vai trò to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với quá trình thành lập Đảng.
3. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam khơng cịn là vấn đề mới , mà đây là vấn đề có lịch sử nghiên cứu từ rất lâu và cũng được sự quan tâm của nhiều tác giả, nhiều cơ quan, tổ chức… và đến nay vấn đề này cũng được công bố rộng rãi. Như vậy đây là vấn đề mang tính phổ biến và khơng cịn là mới. Vì vậy chúng ta cần chọn cách tiếp cận phân tích trực tiếp để làm nổi bật lên ý nghĩa to lớn của Nguyễn Ái Quốc đối với Đảng.
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">4. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của tiểu luận gồm 4 chương:
Chương 1:<small>Nguồn gốc quá trình hình thành</small>
<small>Chương 2: Nguyễn Ái Quốc chuyển bị những điều kiện về tư tưởng, chính trị và tổ chức choviệc thành lập Đảng Cộng sản</small>
<small>Chương 3: Hội nghị thành lập Đảng và vai trò của Nguyễn Ái Quốc đến sự thành lập ĐảngChương 4: Suy nghĩ của bản thân về công lao của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với sự ra đờicủa Đảng ta</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">1.1.1. Chủ nghĩa Mác
Chủ nghĩa Mác ra đời năm 1840, ông nghiên cứu xã hội tư bản và khẳng định rằng sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan. Ở phương Tây, cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và vơ sản diễn ra quyết liệt, tiêu biểu có các phong trào: công nhân dệt Li-ông Pháp (1831-1834), công nhân Xiledi Đức (1844), phong trào Hiến chương Anh (1838-1848). Các phong trào này đều bị thất bại do thiếu tổ chức, thiếu sự liên kết và khơng có lý luận soi đường.
Mác đưa ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là lật đổ chủ nghĩa tư bản, xác lập chế độ xã hội chủ nghĩa.
Năm 1848 Mác tuyên bố: Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, đưa ra quy luật ra đời của Đảng cộng sản: chủ nghĩa xã hội khoa học và phong trào công nhân.
1.1.2. Chủ nghĩa Lênin
Bối cảnh lịch sử: chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, hệ thống thuộc địa ra đời trên khắp thế giới, mâu thuẫn dân tộc ngày càng trở nên gay gắt. Tất yếu: “sẽ không có một phong trào vững chắc nếu khơng có Đảng vững chắc lãnh đạo, hãy cho tôi một tổ chức của những người cộng sản, tôi sẽ làm đảo lộn cả nước Nga này”
Lênin chỉ rõ: Đảng cộng sản bao gồm Chủ nghĩa Mác và phong trào công nhân 1.1.3. Quốc tế Cộng sản
Đảng cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công nhân.
1.2. Cơ sở thực tiễn
<b>1.2.1. Cách mạng trong nước</b>
Năm 1858 thực dân Pháp xâm lược nước ta. Ngày 6-6-1884, triều đình Nguyễn ký hiệp ước Patơnốt thừa nhận sự thống trị của thực dân Pháp, chia nước ta thành 3 kỳ với 3 chế độ chính trị khác nhau, vừa xây dựng hệ thống chính quyền thuộc địa , vừa duy trì chính quyền phong kiến và tay sai làm chỗ dựa. Mọi quyền hành đều
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">trong tay người Pháp, với âm mưu thâm độc thực hiện chính sách chia để trị , chính sách ngu dân, chính sách độc quyền về kinh tế, ra sức vơ vét tài nguyên bóc lột sức lao động rẻ mạt của người bản xứ. Điều này chứng thức thuế khóa nặng nề, vơ lý. Trước những áp bức bóc lột dã man của thực dân Pháp , nhân dân ta đã liên tiếp nổi dậy cầm vũ khí chống bọn cướp nước. Nhưng tất cả những cuộc đấu tranh đỏ đều không giành được thắng lợi. Giai cấp địa chủ phong kiến mà tiêu | biểu là triều đình nhà Nguyễn đã bất lực và hèn nhát nhanh chóng đầu hàng thực dân Pháp và trở thành phản động , phản bội lại lợi ích của dân tộc. Phong trào chống Pháp theo ý thức hệ phong kiến: phong trào Cần Vương đã thất bại khi cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng chấm dứt năm 1896, phong trào khởi nghĩa nơng dân n Thế của Hồng Hoa Thám kéo dài 30 năm cũng không giành được thắng lợi. Nguyên nhân là do thiếu đường lối đúng, thiếu một tổ chức cách mạng có khả năng dẫn dắt dân tộc đến thắng lợi. Thời kỳ đấu tranh chống ngoại xâm trong khuôn khổ tư thức hệ tư tưởng phong kiến đã chấm dứt. Cuộc đấu tranh của nhân dân ta rơi vào tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước, về giai cấp lãnh đạo cách mạng . Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Việt Nam cũng như một số nước phương Đông khi đã ít nhiều chịu sự chi phối của ý thức hệ tư sản. Đặc biệt cách mạng, cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc (1911) đã có tác động nhất định tới phong trào yêu nước ở Việt Nam, làm dấy lên ở nước ta một phong trào yêu nước rộng rãi theo khuynh hướng tu sản nhưng đều thất bại . Tiêu biểu là phong trào của cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Chu Trinh, phong trào Duy Tân của vua Duy Tân. Điều này chứng tỏ sự bất lực của giai cấp tư sản Việt Nam , rằng giai cấp tư sản Việt Nam không đủ khả năng giương cao ngọn cờ lãnh đạo đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi . 1.2.2. Cách mạng thế giới
Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi, nhà nước của liên minh công – nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Bơnsơvích Nga ra đời, chứng tỏ q trình hiện thực hóa của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời mở đầu một thời đại mới “thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc”. Cuộc cách mạng này cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, nêu tấm gương sáng trong việc giải phóng các dân tộc bị áp bức ở các nước thuộc địa. Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: Cách mạng Tháng Mười như tiếng sét đã đánh thức nhân dân châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỷ nay.
Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) ra đời gắn với vai trò sáng lập của Lênin. Sự xuất hiện của Quốc tế III thúc đẩy hơn nữa sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin được công bố tại Đại hội II Quốc tế cộng sản (1920) chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa, mở ra con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức trên lập trường cách mạng vô sản. Đối với Việt Nam, Quốc tế cộng sản có vai trị quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">Quốc nhấn mạnh “An Nam muốn làm cách mệnh thành cơng, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”.
1.2.3. Q trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc
Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành rời bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn)ra đi tìm đường cứu nước.
Trên lộ trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã nhìn thấy và nghiên cứu được những vấn đề hết sức có ý nghĩa trong việc giải phóng dân tộc qua các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới.
· Người nhận ra sâu sắc những hạn chế của các nhà yêu nước đương thời. Mặc dù khâm phục lịng u nước nhưng Người khơng đồng ý đi theo con đường cứu nước của họ. Và ở đây Nguyễn Ái Quốc đã vượt qua hạn chết của tầm nhìn để tìm cho dân tộc mình một con đường cứu nước khác.
· Người đã thấy được cách mạng dân chủ tư sản không thể đưa lại độc lập và hạnh phúc thực sự cho nhân dân các nước nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng.
· Đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, đi theo Quốc tế Cộng sản.
Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc trở lại Pháp. Khi cách mạng Tháng Mười Nga thành cơng, Người tham gia các hoạt động chính trị sôi nổi. Và vào tháng 6, Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt nhóm người yêu nước Việt Nam tại Pháp gửi “Bản yêu sách 8 điểm”đến Hội nghị Vécxai, nhằm tố cáo chính sách của Pháp và địi Chính phủ Pháp thực hiện các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân ỉộc Việt Nam. Dù khơng được chấp nhận nhưng nó cũng đã gây tiếng vang với nhân dân Pháp và các nước thuộc địa của Pháp.
Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ khảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Người vô cùng phấn khởi và tin tưởng, vì Luận cương đã chỉ rõ cho Người ỉhấy con đường đề giải phóng dân tộc mình.
“Luận cương đến Bác Hồ và người đã khóc. Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin” (Người đi tìm hình của nước - Chế Lan Viên)
Tháng 12-1920, Người đến với chủ nghĩa Mác- Lênin, tán thành Quốc tế thứ ba, đặt cách mạng giài phóng dân tộc trong quỹ đạo cách mạng vô sản, trở thành một trong
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">những nhà sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam.
Và từ đây, Nguyễn Ái Quốc đã nhận ra: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.
Như vậy, đã thấy Nguyễn Ái Quốc khác với các nhà yêu nước đương thời, Người có một phương pháp nghiên cứu độc lập, tự chủ, sáng tạo, đem lý luận đối chiếu với thực tiễn, lấy mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội làm tiêu chuẩn đánh giá các học thuyết, tiếp thu kinh nghiệm cách mạng thế giới có chọn lọc.
Tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc đã được thể hiện nổi bật trong việc vận dụng học thuyết Mác- Lênin, vạch ra đường lối cứu nước đúng đắn cho dân tộc ta.
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">Do cách mạng thuộc địa không được quan tâm đúng mức nên Nguyễn Ái Quốc đã đi sâu nghiên cứu, tham gia vào các diễn đàn, viết báo,... để tuyên truyền về vấn đề thuộc địa và cách mạng thuộc địa.
Cuối năm 1917, Người lao vào cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Pháp, tham gia Đảng xã hội Pháp, lập ra Hội những Người Việt Nam yêu nước với tờ báo ‘Việt Nam hồ kí' để tuyên truyền giáo dục Việt Kiều ở Pháp.
Năm 1922, Người làm chủ nhiệm chủ bút cho báo “Người cùng khổ" để vạch trần chính sách đàn áp bóc lột dã man của chủ nghĩa đế quốc, góp phần vào việc thức tỉnh các dân tộc bị áp bức đứng lên tự giải phóng. Song song đó, viết nhiều bài đăng trên báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp, báo Đời sống cơng nhân của Tổng Liên đồn Lao động Pháp.
Đến năm 1923, Nguyễn Ái Quốc rời Pháp đi Matxcova để tham dự Hội nghị
Quốc tế nông dân, đồng thời trực tiếp học tập nghiên cứu kinh nghiệm Cách mạng tháng 10 Nga và chủ nghĩa Mác - Lênin. Người có nhiều bài cho các báo “Sự thật' (là cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng Sản Liên Xơ) và tạp chí “Thư tín Quốc tế’ của Quốc tế Cộng sản.
Qua các bài báo, tạp chí, Nguyễn Ái Quốc đã góp phần quan trọng vào việc tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp ở các thuộc địa, đồng thời tiến hành tuyên truyền tư tưởng Mác - Lênin, xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa những người cộng sản và nhân dân lao động. Đây là thời gian Người thu thập tư liệu cho tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”.
Năm 1924, Người tham dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản ở Liên Xô và các đại hội của Quốc tế công hội, Quốc tế Phụ nữ, Quốc tế Thanh niên,... Và nhất là Đại hội lần V, đã có bản báo cáo rất quan trọng về dân tộc và thuộc địa; làm sáng tỏ và phát triển một số luận điểm quan trọng của Lênin về bản chất chủ nghĩa thực dân và nhiệm vụ của các Đảng Cộng Sản trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, đấu tranh giải phóng dân tộc các ở thuộc địa.
“Bản án chế độ thực dân Pháp” (năm 1925) mặc dù bị nhà cầm quyền Pháp tìm mọi cách ngăn chặn, cấm đốn, các sách báo nói trên vẫn được bí mật truyền về Việt Nam vạch rõ âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc, từ đó khơi dậy tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc để đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược; "Chủ nghĩa tư bản là
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">một con đỉa có một cái vịi bám vào giai cấp vơ sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vịi thơi thì cái vòi còn lại kia sẽ tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra".
Đây là sự chuẩn bị về tư tưởng, lý luận cho sự thành lập Đảng, có ý nghĩa rất quan trọng. Vì giống như Lênin đã nói” Khơng có lý luận cách mệnh, thì khơng có cách mệnh, vận động ... Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong" (Trích hỏi đáp mơn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam _ NXB Đại học Quốc gia 2010).
2.2. Về tổ chức
Với sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc cùng một số chiến sĩ cách mạng ở nhiều nước thuộc địa của Pháp thành lập Hội Hên hiệp thuộc địa năm 1921 nhằm tập hợp tất cả những người ở thuộc địa sống trên đất Pháp đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Và cũng thông qua hội này để truyền bá chủ nghĩa Mác -Lênin đến các dân tộc thuộc địa. Đến ngày 11/11/1924, Người tới Quảng Châu. Tại đây, Người cùng các nhà cách mạng Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ,... sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức (9/7/1925) đã nêu bật được tầm quan trọng của vấn đề đoàn kết dân tộc trên thế giới.
Và bước chuẩn bị có ý nghĩa quyết định về mặt tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản VN chính là Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên. Hội được Nguyễn Ái Quốc thành lập vào tháng 6-1925 với cơ quan tuyên truyền của Hội là tờ báo Thanh niên. Sau khi thành lập, Hội đã mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và lý luận giải phóng dân tộc cho những người trong tổ chức nhằm thúc đầy sự phát triển phong trào cách mạng Việt Nam. Chống lại những đường lối dân tộc chủ nghĩa hẹp hòi tiểu tư sản. Hội đã giáo dục và giác ngộ nhiều người yêu nước chân chính theo con đường Hồ Chí Minh, đào tạo và rèn luyện họ thành những chiến sĩ cách mạng trung thành, làm nòng cốt trong việc thành lập Đảng Cộng sản sau này.
Truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh vào trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước gắn liền với xây dựng các tổ chức cơ sở của Hội ở nhiều trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng.
Từ năm 1925 - 1927, Người mở nhiều lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu, đào tạo nên đội ngũ cán bộ cho cách mạng Việt Nam. Những bài giảng ở đây của Người đã được tập hợp thành cuốn “Đường kách mệnh”.
</div>