Tải bản đầy đủ (.docx) (16 trang)

Tiểu Luận - Di Tích Lịch Sử Và Danh Thắng - Đề Tài - Điện Ngọc Hoàng ( Chùa Phước Hải)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.62 MB, 16 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<i><b>I.Giới thiệu tổng quát</b></i>

<i>1. Nhân vật Ngọc Hồng</i>

Ngọc Hồng thượng đế chúa tể Thiên Đình, có chức vị cao nhất ở trên trời, nơi đó ơng là đấng chí tơn cũng như Hồng đế đối với loài người vậy. Nhưng do ảnh hưởng của tư tưởng hiện đại đã làm ông mất đi một phần nào uy danh chỉ cịn được gọi đơn giản là Ơng trời, nhưng khơng làm mất hẳn cái tính chất tinh thần cá thể của ông. Giáo lý đạo Lão thừa nhận ông là Đấng tối cao ngự trị trên thế giới của những người bất tử. Trong tôn giáo Trung Hoa, người ta nhận thấy có sự

dung hợp giữa Ngọc Hoàng Thượng Đế và vị thần Indra của người Ấn Độ, điều này được giải thích rằng có sự giống nhau giữa chức năng của họ. Trong Đạo giáo, ông được xem như là vị thần tối thượng của tôn giáo bình dân hiện đại.

Ơng trời thấy hết, nghe hết và quyết định tất cả, ơng rất cơng bình, ông bảo hộ và giúp đỡ những người tốt, và trừng phạt những kẻ xấu, thường là ngay trong cuộc sống ở trên thế gian này. Cái ân đức toàn trí của ơng khơng bỏ sót một ai, bởi vì ông cố giữ sao cho “ mỗi người đều được hưởng một phần ân huệ của ơng”. Ơng là chúa tể của vịm trời thiên giới mà ơng cai quản với sự phụ tá của các quan chức trên trời như Nam Tào, Bắc Đẩu, Tứ đại Kim Cương,…Ông uỷ quyền cho các Hoàng đế dưới trần vâng mệnh của ông để cai trị cõi dương gian hay là thế giới của những người sống, và trao cho Địa tạng hay Diêm vương cai quản cõi âm giới. Dân chúng xem ông như là một người đã đạt đến cái địa vị tột cùng sau khi đã trải qua trăm kiếp đầu thai tu hành khổ hạnh. Mỗi lần đầu thai thốt kiếp thì đức hạnh của ơng càng thêm nhiều và cuối cùng ông đã lên được ngôi Trời.

Ông đã đặt ra một trật tự cố định cho sự vận hành của thế giới, âm và dương là hai yếu tố tạo thành sự tiếp nối của mùa, đem lại sự lạnh và nóng, những gì cần thiết để nuôi sống con người. Dưới quyền của ông là cả một bộ máy cai trị phức tạp với vô số những

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

viên chức tuyển chọn trong số những vong hồn của những người đã chết: đó là vong hồn của người có đức độ đang nắm giữ các chức vụ ở trên trời, trông coi trực tiếp các công việc ở thế gian tức là cuộc sống trên mặt đất này, kể cả loài người và loài vật. Đền thờ Ngọc Hoàng thượng đế toạ lạc tại số 37- phường Đa Kao- quận 1- Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản của tất cả những người nhập cư.

<i>2. Lịch sử hình thành Điện Ngọc Hoàng</i>

Chùa Ngọc Hoàng hay Điện Ngọc Hoàng là một ngôi chùa của người Hoa, do ông Lưu Minh đứng ra quyên tiền xây cất vào năm Canh tý ( căn cứ vào niên biểu ghi trên hai trụ đá của cửa chùa là Canh tý 1900). Năm 1906 chùa làm lễ lạc thành và đặt tên là Ngọc Hoàng Điện.

Trước kia người Pháp gọi là Pagode de Lemperour de Jade a ĐaKao và người Việt thì gọi là chùa Ngọc Hoàng. Năm 1981 chùa gia nhập vào Thành hội Phật Giáo, đổi tên là Phước Hải tự. Dù vậy người ta vẫn quen gọi là chùa Ngọc Hồng.

Chùa có ba đời trụ trì: vị khai sơ là Thiền sư Thích Huệ Ân, kế tiếp là Thiền sư Thích Tự Quảng và hiện nay là Hồ thượng Thích Vĩnh Khương tục danh là Trà Văn Siêu.

Trên con đường Mai Thị Lựu, số 73, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi toạ lạc của Điện Ngọc Hồng hay cịn gọi là chùa Ngọc Hoàng hay chùa Phước Hải. Đây là một ngôi chùa nhỏ nhưng hằng ngày thu hút rất nhiều khách tham quan và cũng là điểm hấp dẫn cho khách nước ngoài khi mua các sản phẩm du lịch.

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

tên Lưu Minh đặt ra, có nghĩa là nơi

thờ thần Hồng, ngơi chùa vốn được xây dựng từ năm 1892. Lối kiến trúc hoàn toàn theo lối của người Hoa, với nhiều hoa văn họa tiết được xây dựng bằng gạch xưa, mái lợp ngói âm dương với nhiều màu sặc sỡ. Được xây dựng từ năm 1892 và trải qua 16 năm sau mới được khánh thành là Ngọc Hồng Điện. Theo sử sách ghi lại thì kiến trúc ban đầu được ông Lưu Minh (người Quảng Đông) xây dựng để thờ cúng cho việc làm ăn thuận lợi sau này đến năm 1982 chùa được hòa thượng Thích Vĩnh Khương tiếp quản. Kể từ đó ngơi chùa đã thuộc về Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, trong tâm thức của người Việt thì ngơi chùa này mang sự linh thiêng cùng nhiều ấn tượng với tên gọi là Phước Hải Tự nhưng người dân quen gọi là chùa Ngọc Hoàng hơn.

Quang cảnh nguy nga cổ kính của chùa hiện ra giữa một khoảng không gian khoáng đạt. Đầu tiên là sân chùa hình chữ nhật rộng 40m, dài 80m; nối liền từ cổng chính vào đến của chùa là một con đường xi măng, hai bên trồng nhiều thuốc Nam. Với người

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

Việt, đây là ngôi chùa rất linh thiêng, được nhiều du khách chọn làm nơi ghé thăm. Sự rộng mở đón khách bất kể giờ nào của ngôi chùa để đặt chân đến nơi linh thiêng hàng trăm năm qủa là điều thú vị. Ẩn sau đó là từng nhân vật thần thánh siêu nhiên đã từng được nhắc. Đến để cầu tài lọc cầu bình an hay đơn giản chỉ là trải lịng mình nơi cửa Phật.

Du khách khi bước vào ngôi chùa này, sẽ thấy sự thích thú với hồ nước, hoa sen, nơi giữa sân, trong khói hương bay tỏa khắp sân trên ngơi chùa hàng trăm năm tuổi. Phía bên tay phải là nơi có hồ ni rùa, phần lớn rất nhiều rùa tập trung ở đây. Theo những người trong chùa thì rùa là con vật tượng trưng cho sự trường tho. Đây là một kiến trúc theo quan niệm Á Đơng “trước có nước, sau có núi”. Dưới bóng cây đa hàng trăm tuổi đã có từ thời mới thành lập như một minh chứng lịch sử của thời gian, phía dưới có miếu thờ Hộ pháp. Những chú chim bồ câu như làm sóng động cả khơng gian, trong tiếng vỗ cánh đành đạch bay xa của những chú chim bồ câu ta còn bắt gặp đâu đó tiếng kêu đùa của trẻ con đang nơ đùa trong sân chùa làm phá tan bầu khơng khí n lặng. Chùa theo bố cục “ nội tam ngoại

quốc”- bề ngoài là chữ Tam, bên trong là chữ Quốc. Ở giữa là hệ thống hạ điện, trung điện và thượng điện. Chung quanh là hành lang tạo nên một bầu khơng khí thanh tịnh, vừa uy nghi vừa kín đáo.

Lối kiến trúc bố trí theo nhiều bố cục khác nhau như bên ngoài là cổng tam quan nối dài vào đến nơi bái đường. Cổng tam quan khá nổi bật với hình sóng nước của hai con rồng theo tư thế “ lưỡng long tranh châu” trên trời cao. Bên cạnh nét trang trí đồ vật và hình nhân, phần trang trí cho kiến trúc bên ngồi cũng sử dụng nhiều hoa lá làm tươi mát mái chùa. Những chiếc lồng đèn sắc đỏ Trung Hoa được treo trên cổng dẫn lối du khách đến nơi chiêm bái đầu tiên. Chùa Ngọc Hồng có tổng cộng trên 300 tượng thờ,

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

được phân bố trong ba gian thờ, mỗi gian nhà thờ là một tác phẩm kiến trúc mỹ thuật mang nét đặt sắc giữa thiên - địa. Gian lớn nhất là tiền điện nằm ở giữa, sau đó là trung điện và chánh điện. Gian ở giữa nối liền với cổng vào, đây là gian thờ các bậc thiên tướng và Ngọc Hoàng, theo thứ tự từ ngồi vào trong gồm có: Thổ địa bên trái cửa vào, Môn Quan bên phải cửa vào và Phật Dược Sư đặt ở giữa chánh điện.

Chùa có một lối kiến trúc khá đặc biệt. Toàn bộ khung cửa chính đều được làm bằng đá thủng. Hai trụ đứng có khắc hai câu đối thiếp vàng:

“ Tích tụ huyền phương trấn áp tham thiên địa Thiện quả chân tâm chính đạo trấn càn khơn” Phía trên cửa có bức bao lam bằng

gỗ chạm khắc nhiều hình tượng mơ tả cảnh thiên đình, ở giữa có ghi ba chữ “ Tử Tiêu Điện”. Trên bức bao lam có một mặt dựng cao, ở đỉnh có gắn rồng chầu mặt trời và các tượng nhỏ bằng sứ tráng men trong rất ngoạn mục. Sau tấm mặt dựng có ba tồ nhà gồm 12 mái lợp ngói rất

cơng phu: trên là ngói cổ, cỡ to, ở đầu mũi có trang trí nổi hình lá đề, lớp dưới là ngói hình vng. Nóc chùa được xây dựng từ thấp đến cao, cuối cùng nổi lên cao nhất là bình phong trên nóc nội điện, đánh dấu điểm chót của bố cục kiến trúc.

Bước vào bên trong, phải trải qua hai cánh cửa bằng gỗ, rất dày và được chạm nổi rất tỉ mỉ: cánh bên phải chạm cảnh “ Sinh Long bàn thoại khí” và cảnh bên trái chạm cảnh “ Hoạt hổ trang Thanh uy”.

Ở hai bên cửa, phía bên phải có bàn thờ Mơn quan Thần và bên trái có bàn thờ Thổ địa Thần. Cả hai khám thờ đều được chạm trỗ cơng phu. Qua khỏi cửa chính vào tới cửa

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

phụ ở bên trong có hai cánh cửa cũng được chạm trổ hình nổi: cánh bên phải chạm cảnh “ Diệu pháp” và cánh bên trái chạm cảnh “ Thần thơng”.

Đứng ở đây nhìn vào sẽ thấy ngay bàn thờ phật, trên là tượng Phật Dược sư lộng trong lịng kín được làm bằng gỗ cây gõ đỏ. Là một loại gỗ các tên gọi khác như hổ bì, cà te là lồi thực vật mọc tại một số nước Đông Nam Á như: Thái Lan, Việt Nam, Campuchia,Lào và Myanma.

Cây gỗ lớn, vỏ màu xám trắng, sần sùi nhiều. Phân cành thấp. Lá kép lơng chim chẵn, phiến lá chét hình trái xoan, đầu có mũi lồi tù, đi gần trịn. Hoa tự hình chùm, hoa lưỡng tính, tràng hoa màu trắng, có 1 cánh, hình trịn có móng dài. Quả đậu hình bao kính. Vỏ quả khi chín hố gỗ màu đen. Hạt hình trụ có cạnh, vỏ hạt cứng màu đen, dây rốn cứng màu vàng nhạt.

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

Gỗ gõ đỏ rất đẹp, màu đỏ nhạt hoặc đỏ thẫm, có chỗ nổi vằn đen giống da hổ, nên có nơi cịn gọi là cây Hổ bì. Gỗ cứng, rất bền, thường được dùng đóng bàn ghế, giường tủ, đồ chạm trổ cao cấp. Những u gỗ trên thân có vân xốy rất đẹp, gọi là gỗ "nu mật" hay gỗ lúp, dùng đóng đồ đạc cao cấp, được bán theo kilôgram.

Cây gõ đỏ sinh trưởng chậm, ưa sáng, phân bố trong rừng thường xanh hoặc rừng nửa rụng lá, mọc trên đất bằng hoặc sườn thoát nước, tầng đất sâu, thành phần cơ giới của đất trung bình.

Ngồi tượng Phật Dược sư cịn có hình Phật Thích Ca, tượng Phật A Di Đà cùng tượng Chuẩn Đề quan âm và Thế Chí bồ tát. Thêm nữa là tượng Thích ca sơ sinh đặt cạnh bộ Tam thế vừa nêu trên.

Phía trên có một bức hồnh phi lớn ghi bốn chữ: “Trạch cập đồng quần”, hai bên bàn thờ có hai câu đối được khắc trên cột:

“ Bình Trung nhập toạ kiến tiên cảnh Môn ngoại đang đường kết thuận tâm”

Trong ánh sang mờ ảo của gian thờ Phật ta nhìn thấy bên phải có bức tượng Thanh Long Đại tướng quân và bên trái là tượng Phục hổ đại tướng quân. Hai pho tượng này cao gần 3m được tạc bằng giấy bồi, thiếp vàng trong rất oai phong.

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

Vào bên trong chính điện là Cung thờ Ngọc Hồng, du khách có thể thấy được vẻ uy nguy, khn mặt chữ điền bình thản, hai má cao và rộng, hai tay cầm cầm tịnh liễn, đầu đội mũ bình thiên, có Nam tào Bắc đẩu, quan văn quan võ đứng hầu hai bên, đây là pho tượng lớn nhất trong chùa. Bên trái là cung thờ Chuẩn Đề Quan Âm với chiếc áo vàng nhiều cánh tay còn bên phải là cung thờ Bắc Đế tức Huyền võ hoặc Trấn võ và Tứ đại kim quan, hòa thượng Đạo Minh, Bắc Phương Trấn Võ (vị vua trấn giữ phương Bắc, mô tả ông trong tư thế ngồi, chân tựa lên hai con vật: chân phải là rùa, chân trái là rắn - tượng trưng cho tà ma, u qi). Ngồi ra cịn có các tượng thờ khác như: Nam Tào, Bắc Đẩu, Hoa đà tiên sư,… Các tượng thờ ở đây đều bằng gỗ, một số ít làm bằng giấy bồi, có lẻ nơi đây là nơi duy nhất còn lại các bức tượng này.

Phía trên bàn thờ có hai

Đặc biệt ở hai bên bàn thờ Chuẩn Đề quan âm có hai câu đối mang rõ triết lý Phật giáo:

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

KHÁN HOA THẾ GIỚI TAM SONG THÂN XẠ PHÁ HỒNG TRẦN THẬP BÁT TÝ Hai bên bàn thờ Bắc Đế có hai câu đối mang rõ triết lý Lão giáo:

THÁI CỰC CHÂN VƠ CỰC

HUYỂN THIÊN CẢNH HỮU THIÊN Từ chính điện sang qua dãy phịng dài ở

phía tay trái. Nơi đây, ở gian ngồi cùng có bàn thờ Kim Hoa Thánh Mẫu, còn gọi là bà mẹ sanh. Ở hai bên tường có bày mỗi bên sáu pho tượng các bà bằng sành, cỡ nhỏ. Những người hiếm muộn thường tới đây cầu xin cho có con.

Cịn hai gian thờ nữa. Gian thứ nhì treo sáu bức tranh bằng gỗ chạm nổi. Gian thứ ba là Thập điện Diêm Vương: ở hai tường có

treo mỗi bên năm bức hình chạm nổi làm theo điều đã nói ở Kinh Địa Tạng bản quyền, phô bày những hình phạt ở âm ty để trừng phạt những kẻ gian ác. Gian này thì lúc nào cũng mờ ảo, có vẻ âm u lạnh lẽo nên người xem sẽ cảm thấy cảnh Thập Điện ấy có phần ghê sợ.

Rời điện thờ, đi lần theo con hẽm nhỏ ra sân sau, nơi đây có một bức tường mà khi bước qua cửa ngách đã nhìn thấy đó là di tích của Miết Đất Hộ xưa, chỗ thờ “ ông Đá”. Ở giữa bức tường có bốn chữ Hán: “ Quang chiếu cận viễn” và câu đối:

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

“ Dung thụ thần linh phủ lợi thế

Tướng quân oai dũng bảo khang ninh”

Từ sân sau trở ra, qua phía tay phải của chùa, vào căn phịng bên đó có cầu thang rất chắc chắn dẫn lên lầu. Phía trước có sân thượng khá rộng. Đứng ở đó có thể nhìn thấy tồn bộ mái chùa nhơ góc từ

thấp đến cao, có rồng, hồ lơ, hoa lá. Lân,…phủ theo các đầu mai. Vào phòng trong là điện thờ Phật, có tấm hồnh phi đề bốn chữ: Đại Hùng Bảo Điện.

Tại đây, bàn thờ giữa là thờ Phật Bà. Hai bên có hai câu đối:

“Nam Hải diêu phiến niệm từ hang tuỳ tế độ

Tây phương bất viễn nhất thành cứu khổ tức Thong Linh”

Có ba khám thờ, ở trước mỗi khám thờ đều có hình tượng Phật Di Đà. Khám ở giữa thờ bài vị Phật, Thánh, Tiên

Khám bên phải thờ Quan Đế và khám bên trái thờ Tây phương Đơng thổ lịch đại tổ sư. Chính giữa phịng, phía trên

có tấm hồnh phi ghi tên Tiên Phật Nho Tơng cho thấy có sự có mặt và hồ hợp giữa Phật, Lão, Nho. Bước xuống cầu thang, nhìn lại thấy một tấm hoành phi ghi: “ TU THÂN

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, Phật A Di Đà, Phật Thích Ca Mâu Ni, Đại Thế Chí Bồ Tát và Quan Thế Âm Bồ Tát.

<i>2. Các đối tượng thờ trong điện Ngọc Hồng</i>

Nói đến các đối tượng thờ trong điện Ngọc Hồng thì có rất nhiều sau đây tơi xin tóm tắt lại các đối tượng thờ trong điện từ ngoài vào trong và từ phải sang trái.

Từ ngoài cổng vào sân có miếu thờ Hộ pháp. Sau đó chúng ta vào chính điện. Đối tượng tờ tại chính điện:

chính điện, ta sang dãy phịng dài ở phía tay trái. Nơi đây, ở gian ngồi cùng có bàn thờ Kim Hoa Thánh Mẫu, còn gọi là bà mẹ sanh và 12 bà mụ.

Ở cuối gian phịng có ba khám thờ: khám ở giữa thờ Thành Hoàng, khám bên phải thờ Thái Thế thần và khám bên trái thờ Bảo thọ thần.

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

Rời điện thờ, đi lần theo con hẽm nhỏ ra sân sau, nơi đây có một nức tường mà khi nước qua của ngách đã nhìn thấy: đó là di tích của Miết Đất Hộ xưa, chỗ thờ “ơng đá”. Ở đó có một bàn thờ hai vị thần: Thần Thạch Long bên phải và Thần Bạch Hổ ở bên trái. Giữa hai vị thần ấy có một hịn đá có chữ “ Thái Sơn Thạch Cảm Đương”.

“Thái Sơn” là tên của một ngọn núi ở Trung Quốc . Núi Thái Sơn được coi trọng hơn cả vì tương truyền thần núi này thiêng nhất, từng được nhiều đời vua Trung Quốc lên tận đỉnh núi làm lễ gọi là phong thiện . Tần Thủy Hoàng từng từ Hàm Dương (nay là Tây An) vượt hàng trăm nghìn cây số, leo một nghìn năm trăm thước để đến đỉnh Thái Sơn tế lễ. Rồi các đời Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh, các hoàng đế Trung Hoa cũng thường đến đây cúng tế, như Hán Vũ Đế 8 lần, Thanh Càn Long 10 lần… Cho nên núi Thái Sơn còn là biểu tượng của sự thiêng liêng.

Đó là Thái Sơn. Cịn “Thạch cảm đương” thì lại có nguồn gốc khác . Nguyên thuở xưa, ở Trung Quốc con người thường coi những bất hạnh, những việc xảy ra ở ngoài ý muốn là do ma quỷ gây nên. Do vậy người ta cầu xin một sức mạnh siêu nhiên để khống chế ma quỷ, giúp tránh tai họa, từ đó xuất hiện sự sùng bái thần linh. “Thạch cảm đương” chính là thần được suy tơn để đáp ứng tâm lý cầu mong trừ yêu tà, cầu mong được may mắn của con người.

Tuy nhiên, ở Trung Quốc hiện vẫn còn lưu hành hai cách giải thích về chữ “Thạch cảm đương”: Đó là thuyết nhân vật lịch sử và thuyết tín ngưỡng vật thiêng.

Thuyết thứ nhất là căn cứ vào sách “Cựu Ngũ đại sử” chép là vua Hậu Đường và Mẫn Đế Lý Tông Huân biết một số đại thần có âm mưu giết Thạch Kính Đường là anh rể nên đã sai võ sĩ Thạch Cảm Đương tận lực chống đỡ và chết để cho Kính Đường thốt. (Thực ra Kính Đường là kẻ xấu, sau y cướp ngôi nhà Hậu Đường, trở thành Cao Tổ nhà Hậu Tấn làm vua từ năm 936 đến 944). Từ đó dân chúng phục Thạch Cảm Đương và khắc tên ông để trấn trạch, khu trừ ác quỷ.

Thuyết thứ hai thì cho rằng bia Thạch cảm đương chỉ là biểu hiện của sự sùng bái vật thiêng. Những người chủ trương thuyết này cũng dựa vào thư tịch cổ để bài bác

</div>

×