Tải bản đầy đủ (.docx) (30 trang)

Tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 20182023

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.07 MB, 30 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO</b>

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN=====000=====</b>

<b>BÀI TẬP NHĨM</b>

<b>MƠN ĐẦU TƯ QUỐC TẾ</b>

<i>Đề bài: FDI tác động đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn</i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b>LỜI MỞ ĐẦU...3</b>

<b>NỘI DUNG...4</b>

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)...4

1.Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài- FDI...4

2. Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế của một quốc gia...7

3. Cơ sở lý luận về tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế nước nhận đầu tư...9

II. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TÁC ĐỘNG TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2017-2022...10

1. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 2017-2022...10

2. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2017-2022...17

III. Giải pháp để Việt Nam thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài về cả số lượng và chất lượng cũng như đẩy mạnh tính lan tỏa của nguồn vốn này...25

1. Về hình thức thu hút đầu tư...25

2. Về thủ tục hành chính...25

3. Về thủ tục hải quan...26

4. Về chính sách thuế và ưu đãi tài chính...26

5. Về chính sách lao động và tiền lương...26

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>LỜI MỞ ĐẦU</b>

Việt Nam bắt đầu tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 1995 khi chính thức gia nhập ASEAN và sau tiến trình đàm phán nhiều khó khăn, chúng ta đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Với xu hướng chung của nền kinh tế thế giới là toàn cầu hóa, quốc tế hóa, địi hỏi mỗi quốc gia phải chủ động trong việc hội nhập quốc tế, nhằm phát huy những tiềm năng sẵn có, tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài. Nguồn vốn FDI là một nguồn lực hết sức quan trọng, đặc biệt không chỉ đối với các nước đang phát triển mà cả các nước công nghiệp phát triển. Đối với Việt Nam, sau hơn 30 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, với trình độ phát triển kinh tế chưa cao, khả năng tích lũy vốn cịn hạn chế thì bên cạnh nguồn vốn trong nước, nguồn vốn viện trợ nước ngồi thì nguồn vốn FDI là một nhân tố quan trọng và tích cực, tạo ra động lực mạnh mẽ đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Trong những năm gần đây, việc cạnh tranh trong thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, Việt Nam nhận thức được điều này và đã tập trung đẩy mạnh việc tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhằm khai thác một cách có hiệu quả nguồn lực trong nước, tiếp nhận khoa học công nghệ mới, học hỏi kinh nghiệm, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Cùng nhìn lại xu hướng vận động của FDI vào Việt Nam từ trước tới nay, ta thấy FDI qua từng năm có nhiều biến chuyển, cùng với đó là những tác động đáng kể tới tăng trưởng kinh tế nước ta. Vì vậy, nhóm chúng em thực hiện đề tài “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2017-2022”. Trong quá trình làm bài khơng thể tránh khỏi những thiếu sót mong cơ góp ý để bài tiểu luận của nhóm em được hoàn chỉnh hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơn cô!

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>NỘI DUNG</b>

<b>I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) 1.Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài- FDI</b>

<i><b>1.1. Khái niệm</b></i>

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngồi đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.

Khái niệm về FDI đã được nhiều tổ chức kinh tế quốc tế và một số quốc gia phát triển trên thế giới đưa ra nhằm nhằm mục đích giúp các quốc gia hoạch định chính sách kinh tế vĩ mơ về FDI, tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động tự do hoá thương mại và đầu tư quốc tế.

Quỹ tiền tệ thế giới (IMF - International Monetary Fund) định nghĩa: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư), không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư) với mục đích quản lý có hiệu quả và giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp tại nước tiếp nhận đầu tư”.

Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD – Organization for Economic Cooperation and Development): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp đó bằng cách: (1) thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; (2) mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; (3) tham gia vào một doanh nghiệp mới; (4) cấp tín dụng dài hàn (> 5 năm)”. OECD cũng đưa ra định nghĩa về FDI tương tự như IMF. Tuy nhiên, OECD có quan niệm rất rộng về nhà đầu tư nước ngoài. Theo quan điểm của OECD, nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài là một pháp nhân hoặc một thể nhân trong đó nhà đầu tư sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu hoặc có quyền biểu quyết.

Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO – World Trade Organization): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được tài sản ở một nước khác (nước tiếp nhập đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó”.

Hoa kỳ là một trong những nước tiếp nhận đầu tư và tiến hành đầu tư trực tiếp

<b>ra nước ngoài lớn nhất trên thế giới cũng đưa ra định nghĩa về FDI: “FDI là bất kỳ</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

dòng vốn nào thuộc sở hữu đa phần của công dân hoặc công ty của nước đi đầu tư có được từ việc cho vay hoặc dùng để mua sở hữu của doanh nghiệp nước ngoài”

Quan điểm về FDI của Việt Nam theo Luật đầu tư năm 2014: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền mặt hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư và quản lý hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định pháp luật khác có liên quan”.

Từ các quan điểm đã nêu ở trên, có thể hiểu vốn FDI là hình thức nhà đầu tư nước ngồi dịch chuyển tiền, cơng nghệ… từ nước này sang nước khác đồng thời nắm quyền quản lý, điều hành với mục đích thu được lợi ích kinh tế từ nước tiếp nhận đầu tư.

Các khái niệm đều nhấn mạnh đến mục tiêu thực hiện các lợi ích dài hạn của một chủ thể cư trú tại một nước, được gọi là nhà đầu tư trực tiếp thông qua một chủ thể khác cư trú ở nước khác, gọi là doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp. Mục tiêu lợi ích dài hạn địi hỏi phải có một quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp, đồng thời nhà đầu tư có một mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với việc quản lý doanh nghiệp này.

<i><b>1.2. Đặc điểm của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài</b></i>

Đầu tư trực tiếp nước ngồi có những đặc điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận theo cách phân loại ĐTNN cua nhiều tài liệu và theo quy định của luật pháp nhiều nước, FDI là đầu tư tư nhân.

Thứ hai, các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư.

Thứ ba, tỷ lệ góp vốn của các chủ đầu tư sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia dựa vào tỷ lệ này.

Thứ tư, chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi. Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, khơng có những ràng buộc về chính trị.

Thứ năm, thu nhập của chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức.

Thứ sáu là FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư thơng qua việc đưa máy móc, thiết bị, bằng phát minh, sáng chế, bí quyết kỹ thuật, cán bộ quản lý,... vào nước nhận đầu tư để thực hiện dự án.

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

<i><b>1.3. Phân loại các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngồi</b></i>

<i>1.3.1. Theo cách thức xâm nhập</i>

Theo tiêu chí này FDI được chia thành hai hình thức:

Đầu tư mới (greenfield investment): Chủ đầu tư nước ngồi góp vốn để xây dựng một cơ sở sản xuất, kinh doanh mới tại nước nhận đầu tư. Hình thức này thường được các nước nhận đầu tư đánh giá cao vì nó có khả năng tăng thêm vốn, tạo thêm việc làm và giá trị gia tăng cho nước này.

Sáp nhập và mua lại qua biên giới (Cross-border Merger & Acquisition) Chủ đầu tư nước ngoài mua lại hoặc sáp nhập một cơ sở sản xuất kinh doanh sẵn có ở nước nhận đầu tư.

<i>1.3.2. Theo quan hệ về ngành nghề, lĩnh vực giữa chủ đầu tư và đối tượng tiếpnhận đầu tư</i>

Theo tiêu chí này FDI được chia thành ba hình thức:

FDI theo chiều dọc (vertical FDI): nhằm khai thác nguyên, nhiên vật liệu (Backward vertical FDI) hoặc để gần gũi người tiêu dùng hơn thông qua việc mua lại các kênh phân phối ở nước nhận đầu tư (Forward vertical FDI). Như vậy, doanh nghiệp chủ đầu tư và doanh nghiệp nhận đầu tư nằm trong cùng một dây chuyền sản xuất và phân phối một sản phẩm cuối cùng.

FDI theo chiều ngang (horizontal FDI): hoạt động FDI được tiến hành nhằm sản xuất cùng loại sản phẩm hoặc các sản phẩm tương tự như chủ đầu tư đã sản xuất ở nước chủ đầu tư.

FDI hỗn hợp (conglomerate FDI): Doanh nghiệp chủ đầu í tư và doanh nghiệp tiếp nhận đầu tư hoật động trong các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau.

<i>1.3.3. Theo định hướng của nước nhận đầu tư</i>

Theo tiêu chí này FDI được chia thành ba hình thức:

FDI thay thế nhập khẩu: Hoạt động FDI được tiến hành nhằm sản xuất và cung ứng cho thị trường nước nhận đầu tư các sản phẩm mà trước đây nước này phải nhập khẩu. Các yếu tố ảnh hưởng nhiều đến hình thức FDI này là dung lượng thị trường, các rào cản thương mại của nước nhận đầu tư và chi phí vận tải.

FDI tăng cường xuất khẩu: Thị trường mà hoạt động đầu tư này nhắm tới không phải hoặc không chỉ dừng lại ở nước nhận đầu tư mà là các thị trường rộng lớn hơn trên tồn thế giới và có thể có cả thị trường ở nước chủ đầu tư. Các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến dòng vốn FDI theo hình thức này là khả năng cung ứng các yếu tố đầu vào với giá rẻ của các nước nhận đầu tư như nguyên vật liệu, bán thành phẩm.

FDI theo các định hướng khác của chính phủ: Chính phủ nước nhận đầu tư có thể áp dụng các biện pháp khuyến khích đầu tư để điều chỉnh dịng vốn FDI chảy vào

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

nước mình theo đúng ý đồ của mình, ví dụ như tăng cường thu hút FDI để giải quyết tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán.

<i>1.3.4. Theo định hướng của chủ đầu tư</i>

Theo tiêu chí này FDI được chia thành hai hình thức:

FDI phát triển (expansionary FDI): nhằm khai thác các lợi thế về quyền sở hữu của doanh nghiệp ở nước nhận đầu tư. Hình thức đầu tư này giúp chủ đầu tư tăng lợi nhuận bằng cách tăng doanh thu nhờ mở rộng thị trường ra nước ngồi.

FDI phịng ngự (defensive FDI): nhằm khai thác nguồn lao động rẻ ở các nước nhận đầu tư với mục đích giảm chi phí sản xuất và như vậy lợi nhuận của các chủ đầu tư cũng sẽ tăng lên.

<i>1.3.5. Theo hình thức pháp lý</i>

Tùy theo quy định của luật pháp nước nhận đầu tư, FDI có thể 'được tiến hành dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau. Ở Việt Nam, FDI được tiến hành dưới các hình thức pháp lý chủ yếu là:

Hợp đồng hợp tác kinh doanh: là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam trong đó quy định trách nhiệm chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà khơng thành lập pháp nhân mới.

Hình thức FDI này có sự tham gia của cả chủ đầu tư Việt Nam và chủ đầu tự nước ngoài. Điểm đặc biệt của hình thức này là khơng hình thành pháp nhân mới (các bên đối tác thực hiện quyền và nghĩa vụ của hợp đồng với tư cách pháp nhân cũ của mình). Hình thức này thường áp dụng đối với một số ngành kinh tế đặc biệt như viễn thơng, dầu khí,... hoặc chỉ áp dụng khi các chủ đầu tư nước ngoài thâm nhập vào một thị trường mới mà họ chưa biết rõ.

Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa hai bên hoặc nhiều bên, trường hợp đặc biệt có thể được thành lập trên cơ sở hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với chính phủ nước ngồi, để tiến hành đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam.

Trong hình thức FDI này, cũng có sự tham gia của cả chủ đầu tư Việt Nam và chủ đầu tư nước ngoài. Khác với hợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh hình thành pháp nhân mới ở Việt Nam và là pháp nhân Việt Nam.

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.

Hình thức này khơng có sự tham gia của chủ đầu tư Việt Nam. Cũng như hình thức liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cũng hình thành pháp nhân mới ở Việt Nam và là pháp nhân Việt Nam.

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<b>2. Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế của một quốc gia</b>

<i><b>2.1. Tăng trưởng kinh tế</b></i>

Tăng trưởng kinh tế là điểm khởi đầu của phát triển, xét cả về mặt lý luận và thực tiễn. Ở đây, tăng trưởng kinh tế được hiểu là việc tạo ra nhiều của cải hơn nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội. Tăng trưởng kinh tế thường được đo lường dựa trên các chỉ số như Tổng sản phẩm trong nước (GDP) và/hoặc Tổng sản phẩm quốc gia (GNP).

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một năm tài chính).

Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm). Tổng sản phẩm quốc dân bằng tổng sản phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng.

Tăng trưởng kinh tế cũng có thể được đo bằng nhiều chỉ số khác (như GDP trên đầu người, tỷ lệ thất nghiệp, chỉ số PCE,…) tùy thuộc vào quan điểm và mục đích sử dụng cho mỗi người hoặc tổ chức khác nhau.

Với các chỉ số này, tăng trưởng kinh tế chỉ đơn thuần đề cập đến gia tăng năng lực để tạo ra giá trị gia tăng thông qua các hoạt động kinh tế. Để đánh giá tăng trưởng kinh tế, GDP/GNP tính theo giá cơ sở của cùng một năm gốc (GDP/GNP thực) thường được quan tâm nhiều hơn do loại bỏ được biến động giá cả.

<i><b>2.2. Mơ hình tăng trưởng kinh tế</b></i>

Mơ hình tăng trưởng kinh tế là cách thức gia tăng sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế.

Mơ hình tăng trưởng kinh tế được chia làm 2 loại: Mơ hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng và Mơ hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu.

Mơ hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng: Là mơ hình giải thích sự phát triển kinh tế trong một nền kinh tế. Mơ hình này có đặc trưng cơ bản là tăng khối lượng sản xuất nhờ vào tăng trưởng vốn, lao động và tài nguyên thiên nhiên nhằm dẫn đến con đường nhanh nhất để mở rộng sản xuất, tạo việc làm và tăng thu nhập. Tuy nhiên mơ hình này cũng có những giới hạn như: nền kinh tế trì trệ, năng suất lao động thấp..

Mơ hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu: Là mơ hình sử dụng phương pháp tăng trưởng kinh tế dựa trên việc nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất, cải thiện công

nghệ và đào tạo nhân lực để tăng năng suất lao động và sức công nghệ. Mơ hình này tập trung vào nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và nâng cao đời sống của người dân thay vì tập trung vào mở rộng quy mơ sản xuất. Tuy nhiên, mơ hình

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

cũng cịn nhiều hạn chế, bởi vì nó khơng hồn tồn cân nhắc đến các yếu tố nhân văn và xã hội như sức khỏe, giáo dục và thể chất.

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

<i><b>2.3. Các loại mơ hình tăng trưởng kinh tế nổi tiếng</b></i>

<i>a) Mơ hình Harrod-Domar: Là mơ hình cho rằng tốc độ tăng trưởng của một nền kinh</i>

tế phụ thuộc vào tỷ lệ đầu tư và đòn bẩy kỹ thuật. Tức là, khi nền kinh tế đầu tư nhiều và sử dụng kỹ thuật tiên tiến hơn, tốc độ tăng trưởng sẽ tăng lên. Tuy nhiên, mơ hình này có một số giả định đơn giản hóa mối quan hệ giữa tích lũy tư bản (K) và tăng trưởng kinh tế (g) bỏ qua các yếu tố quan trọng như khấu hao, tiến bộ công nghệ nên bị chỉ trích khi áp dụng vào thực tiễn.

<i>b) Mơ hình Solo-Swan: Phát triển bởi Robert Solow và Trevor Swan năm 1956 đây là</i>

mơ hình tăng trưởng ngoại sinh được thiết lập từ nền kinh tế học tân cổ điển. Mơ hình này sử dụng để giải thích sự tăng trưởng kinh tế dài hạn của một quốc gia. Solo-Swan dựa trên ba yếu tố quan trọng là vốn, lao động và cơng nghệ, và giải thích tại sao nước giàu trở nên giàu hơn và nước nghèo trở nên nghèo hơn theo thời gian đồng thời cho thấy rằng tăng trưởng kinh tế dài hạn của một quốc gia phụ thuộc vào khả năng tích lũy vốn và sử dụng công nghệ hiệu quả để tăng năng suất lao động.

<i>c) Mơ hình tăng trưởng kinh tế với tiến bộ cơng nghệ: Mơ hình tăng trưởng kinh tế với</i>

tiến bộ công nghệ cho rằng, việc sử dụng công nghệ mới và tiên tiến sẽ thúc đẩy sự phát triển của kinh tế. Các nghiên cứu trên lĩnh vực này cũng chỉ ra việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển cơng nghệ mới sẽ đem lại lợi ích lớn trong tăng trưởng kinh tế. Mơ hình đề xuất các doanh nghiệp và chính phủ nên thúc đẩy sự tăng cường và ứng dụng công nghệ vào sản xuất và quản lý để đem lại hiệu quả kinh tế cao.

<i>d) Mơ hình tăng trưởng nội sinh: Các mơ hình tăng trưởng nội sinh có thể kể đến bao</i>

 Mơ hình học hỏi (Learning-by-doing model) của Kenneth J.Arrow (1962)  Mơ hình R&D (Research and Development Model)

 Mơ hình Mankiw-Romer-Weil  Mơ hình AK

 Mơ hình “ Học hay làm” (Learning-or-doing model)

<b> 3. Cơ sở lý luận về tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế nước nhận đầu tư.</b>

Đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm làm rõ tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến nền kinh tế. Hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng, đầu tư trực tiếp nước ngồi có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế nói chung.

Mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế được khẳng định trong các mơ hình tăng trưởng tân cổ điển. Mơ hình tân cổ điển cho rằng lao động và công nghệ là các yếu tố ngoại sinh trong khi vốn là nhân tố nội sinh. Theo đó, vốn có tác động quan trọng đến tăng trưởng kinh tế. Bởi vì là nhân tố nội sinh, FDI chỉ tác động đến tăng trưởng trong ngắn hạn, nhưng tăng trưởng kinh tế trong dài hạn bị ảnh hưởng bởi sự

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

tăng trưởng trong lao động và tiến bộ công nghệ. Ra đời vào những năm 1980, lý thuyết tăng trưởng nội sinh phê phán một số thiếu sót của mơ hình tăng trưởng tân cổ điển về các giả định rằng tốc độ cải tiến công nghệ là không đổi và tỷ suất lợi nhuận biên của vốn giảm dần, giả thuyết tăng trưởng nội sinh cho rằng công nghệ là yếu tố nội sinh. Trong khung phân tích này, FDI có tác động lớn hơn đến đầu tư trong nước. Cụ thể, lý thuyết này nhấn mạnh vào một số yếu tố thúc đẩy tăng trưởng như vốn nhân lực, các yếu tố ngoại tác và tác động lan tỏa công nghệ. Điều này cung cấp một số cơ sở giải thích về ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng kinh tế (Grossman, Helpman, 1991; Loungani, Razin, 2001). Ngoài ra, theo lý thuyết tăng trưởng nội sinh, FDI được hấp thụ thông qua chuyển giao công nghệ sẽ tạo ra các ngoại tác tăng năng suất và do đó thúc đẩy tăng trưởng.

<b>II. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TÁC ĐỘNG TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2017-2022</b>

<b>1. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 2017-2022</b>

<i><b>1.1. Quy mô</b></i>

Năm 2017 đánh dấu cột mốc 30 năm FDI vào Việt Nam, nước ta thu hút được 2.741 dự án với tổng vốn đăng ký đạt 37.100,6 triệu USD. Năm 2018 là năm duy nhất trong giai đoạn này FDI vào Việt Nam giảm so với năm trước, nhưng mức giảm cũng không đáng kể (giảm 732 triệu USD ứng với giảm 1,97%). Đến năm 2019, tổng số vốn FDI đăng ký đạt được là 38.951,7 triệu USD (chỉ thấp hơn năm 2008), còn số dự án và số vốn FDI thực hiện lại cao nhất kể từ khi dòng vốn này vào Việt Nam, với 4.028 dự án FDI và tổng số vốn thực hiện đạt 20.380 triệu USD.

Trong năm 2021, mặc dù dịch Covid -19 đang diễn biến phức tạp nhưng vốn FDI vào Việt Nam đạt 31,15 tỷ USD, tăng 9.2% so với năm 2020. Điều này cho thấy các nhà đầu tư nước ngồi đang đặt niềm tin rất lớn vào mơi trường đầu tư Việt Nam.

Tỷ lệ vốn FDI thực hiện trên vốn đăng ký ghi nhận kỷ lục đạt 82,3%, là mức tăng cao nhất của 9 tháng các năm từ 2018-2022. Điều này cho thấy các nhà đầu tư nước ngồi đang tin tưởng vào mơi trường đầu tư tại Việt Nam và sẵn sàng triển khai các dự án.

Tính đến ngày 20/3/2022, tổng số vốn đăng ký mới, vốn bổ sung, vốn góp và quyền mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt trên 8,9 tỷ USD, tương đương 87,9% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, vốn thực hiện của dự án đầu tư nước ngoài ước đạt 4,42 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2021.

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

<i><b>Bảng vốn đầu tư vào Việt Nam giai đoạn 2017-2022</b></i>

Với các số liệu trên ta có thể nhận thấy rằng kết quả thu hút FDI vào Việt Nam giai đoạn 2017-2022 đã thể hiện một phần xu hướng tăng giảm đầu tư toàn cầu, cả mức vốn đăng ký và mức vốn thực hiện đều đạt điểm cao nhất vào năm 2019, sau đó tăng giảm khơng đều cho đến năm 2022. Nguyên nhân của lượng vốn FDI vào Việt Nam giảm là do ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19 …

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

<i><b>1.2. Cơ cấu </b></i>

<i>1.2.1. Theo đối tác đầu tư</i>

<small> </small>

Tính lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 20/12/2022, đã có 141 quốc gia, vùng lãnh thổ có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam. Trong đó, đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký gần 81 tỷ USD (chiếm 18,5% tổng vốn đầu tư). Singapore đứng thứ hai với hơn 70,8 tỷ USD (chiếm 16,1% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo lần lượt là Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông, ...

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

<i>1.2.2. Theo ngành </i>

Tính lũy kế đến ngày 20/12/2022, cả nước có 36.278 dự án cịn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt 438,69 tỷ USD. Trong đó, ngành cơng nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với hơn 260,1 tỷ USD (chiếm 59,3% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo là các lĩnh vực kinh doanh bất động sản với gần 66,3 tỷ USD (chiếm 15,1% tổng vốn đầu tư); sản xuất, phân phối điện với hơn 38,3 tỷ USD (chiếm 8,7% tổng vốn đầu tư).

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

<i>1.2.3. Theo địa phương</i>

Tính lũy kế đến ngày 20/12/2022, các nhà ĐTNN đã có mặt ở toàn bộ 63 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó TP Hồ Chí Minh vẫn là địa phương dẫn đầu trong thu hút ĐTNN với hơn 55,8 tỷ USD (chiếm 12,7% tổng vốn đầu tư); tiếp theo là Bình

</div>

×