Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (380.56 KB, 25 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<i>Nghiên cứu: </i>
- Điều 612 BLDS 2015 (Điều 634 BLDS 2005); Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án Nhân dân Tối cao và các điều luật liên quan khác (nếu có);
- Bản án số 08/2020/DSST ngày 28/8/2020 của Tòa án Nhân dân thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc;
- Án lệ số 16/2017/AL của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
<b>Tóm tắt bản ánBản án số 08/2020/DSST ngày 28 tháng 8 năm 2020 của Tòa án Nhân dân Thành phố Vĩnh Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc về vụ việc “Tranh chấp thừa kế tài sản”.</b>
- Ngun đơn:
+Ơng Trần Văn Hịa, sinh năm 1949
+Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Tạ Ngọc Tồn, sinh năm 1975 và ơng Lê Thành Nhân, sinh năm 1993;
- Bị đơn:
+ Anh Trần Hoài Nam, sinh năm 1981; + Chị Trần Thanh Hương, sinh năm 1983; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Uỷ ban nhân dân phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, do ông Nguyễn Ngọc Thu - Chủ tịch là người đại diện theo pháp luật.
+ Anh Tạ Xuân Trinh, sinh năm 1978;
+ Người làm chứng: Chị Vũ Thị Thanh, sinh năm 1979.
- Nội dung bản án: Ngày 31/01/2017, bà Mai chết không để lại di chúc. Từ khi bà Mai chết, ơng Hịa quản lý, sử dụng 01 ngơi nhà 3 tầng, một lán bán hàng xây dựng năm 2006, làm trên diện tích đất 169,5m2 (diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 84m2). Ơng Hịa đem lán bán hàng cho anh Trinh thuê và diện tích phần sân trước nhà cho chị Thanh th. Ơng Hịa nhận tiền chế độ tử tuất của bà Mai và giao lại cho chị Hương cùng tiền phúng viếng cũng như do chị Hương đứng ra thanh tốn các chi phí mai táng và vẫn còn dư. phần tài sản chung được chia cho ơng Hịa một nửa và một nửa phần tài sản cịn lại của bà Mai thì chia cho những người thừa kế hàng thứ nhất (ơng Hịa, anh Nam và chị Hương). Ơng Hịa, do tuổi cao sức yếu, mong muốn sở hữu toàn bộ nhà đất và chia thừa kế tài sản cho anh Nam và chị Hương, dẫn đến sự tranh chấp này.
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">- Quyết định của Tòa án: Tịa án chấp nhận đơn kiện của ơng Hịa, chia tài sản thừa kế theo quy định của pháp luật. Ơng Hịa được hưởng một nửa tài sản chung và 1/3 tài sản riêng của vợ cùng với hai người con. Đối với phần đất chưa có Giấy chứng nhận u cầu sử dụng đất, ơng Hịa và anh Nam phải có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
<b>1.1. Ở Việt Nam, di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.</b>
<b>- Căn cứ Điều 612 BLDS 2015, Di sản là “bao gồm tài sản riêng của người chết, phần </b>
tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.
<b>- Căn cứ khoản 8 Điều 372 BLDS 2015, nghĩa vụ của cá nhân chấm dứt trong trường </b>
hợp cá nhân đó đã chết mà nghĩa vụ đó phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện. Vậy nên các di sản không bao gồm nghĩa vụ của người quá cố.
<b>1.2. Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản khơng? Vì sao?</b>
<b>- Căn cứ khoản 1 Điều 611, Điều 612 BLDS 2015, chia làm 2 trường hợp:</b>
+ Trường hợp 1: Di sản được thay thế bởi nguyên nhân khách quan như “không được biết trước, không lường trước được hậu quả xảy ra, nằm ngoài tầm kiểm soát của con người” và tác động vào di sản thừa kế làm nó bị hư hỏng, khiến cho xảy ra việc thay vào đó là di sản mới, di sản cũ khơng cịn giá trị hiện thực. Trường hợp này để đảm bảo quyền lợi của những người thừa kế tài sản mới thay thế cho di sản thừa kế đó sẽ có hiệu lực pháp luật, phần tài sản mới này sẽ được chia theo pháp luật.
+ Ví dụ: Bà T chết để lại di sản thừa kế là một ngôi nhà nhưng do tai nạn không lường trước được mà ngôi nhà bị bị hỏa hoạn, dẫn đến việc ngôi nhà đã cháy rụi, khơng cịn giá trị sử dụng. Trước thời điểm mở thừa kế, sẽ xây nên ngôi nhà khác để thay thế ngôi nhà của bà T, khi đó ngơi nhà sẽ được coi là di sản thừa kế mà bà T để lại và được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.
+ Trường hợp 2: Di sản được thay thế bởi nguyên nhân chủ quan như có sự tác động một phần hoặc hoàn toàn bởi yếu tố con người. Trường hợp này chia thành 2 mục đích để xác định. Nhằm chiếm đoạt toàn bộ di sản thừa kế cũ đó hoặc nhằm mục đích khác. Sự thay thế do tự bản thân cá nhân nào muốn thay thế hay đó là sự thay thế được sự đồng thuận bởi tất cả những người thừa kế và được pháp luật thừa nhận. Nếu nhằm mục đích chiếm đoạt toàn bộ di sản thừa kế ban đầu đồng thời thay thế bởi một tài sản
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">khác khi đó tài sản mới này sẽ không được coi là di sản thừa kế. Tại thời điểm mở thừa kế di sản được quy định cịn tồn tại thì di sản đó được chia theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên,nếu vì lý do chủ quan mà di sản thừa kế bị làm hư hỏng hoặc bị bán mà khơng có sự đồng ý của các đồng thừa kế thì giá trị phần di sản vẫn được coi là di sản thừa kế và người làm thất thoát di sản có trách nhiệm trả lại phần giá trị làm thất thoát để chia thừa kế.
<b>1.3. Để được coi là di sản, theo quy định pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố có cần phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.</b>
- <b>Theo điều 105 BLDS 2015, tài sản gồm có tiền; vật; giấy tờ có giá và quyền tài sản. </b>
Như vậy, quyền sử dụng đất là bất động sản, được xem là một loại tài sản theo quy định của pháp luật. Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản riêng của người chết hoặc phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác thì quyền sử dụng đất đó là di sản thừa kế.
<b>- Theo quy định của pháp luật đất đai 2013 có 03 căn cứ xác lập quyền sử dụng </b>
+ Người sử dụng đất được nhà nước giao đất, cho thuê đất;
+ Người sử dụng đất nhận chuyển quyền sử dụng đất thông qua các giao dịch dân sự hợp pháp.
+ Được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất.
- <b>Theo quy định tại điều 188 Luật đất đai 2013, người sử dụng đất thực hiện </b>
quyền thừa kế quyền sử dụng đất khi đảm bảo đủ các điều kiện sau đây: + Đất khơng có tranh chấp
+ Quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án. + Trong thời hạn sử dụng đất
+ Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
<b>- Vì vậy, theo quy định của luật đất đai 2013, quyền sử dụng đất được coi là di </b>
sản thừa kế hợp pháp nếu như thửa đất đó đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể là có một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất
<b>quy định tại điều 100 Luật đất đai 2013 hoặc khơng có giấy tờ theo điều 100 nhưng </b>
đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận chứng nhận quyền sử dụng đất theo điều 101 luật đất đai 2013
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10"><b>1.4. Trong Bản án số 08, Tồ án có coi diện tích đất tăng 85,5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bán án có câu trả lời?</b>
- Trong Bản án số 08, Tịa án xem xét việc diện tích đất tăng 85,5m2 mà chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản. Được thể hiện qua đoạn:
“Tại phiên tòa đại diện, Viện kiểm sát nhận định và lập luận cho rằng không được coi là di sản thừa kế… Gia đình ơng Hịa đã xây dựng ngơi nhà 3 tầng, sân và lán bán hàng trên một phần diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận; diện tích đất này được hộ ơng Hịa quản lý, sử dụng ổn định nhiều năm nay, các hộ liền kề đã xây dựng mốc giới rõ ràng, khơng có tranh chấp, khơng thuộc diện đất quy hoạch phải di dời, vị trí đất tăng nằm tiếp giáp với phía trước ngơi nhà và lán hàng của hộ ơng Hịa, giáp đường Nguyễn Viết Xn, đất thuộc diện được cấp giấy chứng nhận sau khi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, tiền thuế là 19.000.000đ/m2.
Do đó, đây vẫn là tài sản của ơng Hịa, bà Mai, chỉ có điều là đương sự phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, nếu không xác định là di sản thừa kế và phân chia thì sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Phần đề nghị này của đại diện Viện kiểm sát không được Hội đồng xét xử chấp nhận.”
<b>1.5. Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Toà án trong Bản án số 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.</b>
- Hướng xử lý của Toàn án là hợp lý và thuyết phục trong việc xử lý vấn đề liên quan đến diện tích đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
<b> - Theo: “Chủ sở hữu phải chịu rủi ro về tài sản thuộc sở hữu của mình, trừ Điều 162 của BLDS 2015 </b>trường hợp có thỏa thuận khác hoặc <b>BLDS 2015</b>, luật khác có liên quan quy định khác. Chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải chịu rủi ro về tài sản trong phạm vi quyền của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với chủ sở hữu tài sản hoặc <b>BLDS 2015</b>, luật khác có liên quan quy định khác. Vì thế phần diện tích đất 85,5m2 không thể coi là di sản do thiếu Giấy chứng nhận quyền sở hữu đất, Tòa án vẫn quyết định xem xét nó như là di sản thừa kế. Điều này là để bảo vệ quyền lợi của các bên được hưởng thừa kế trong tình huống cụ thể, khi phần đất này đã được sử dụng ổn định và không gây tranh chấp với các hộ liền kề.
- Tuy nhiên, trong trường hợp cụ thể này, khi phần đất đã được ơng Hịa sử dụng ổn định và khơng có tranh chấp với các hộ liền kề, việc coi nó là di sản thừa kế là hợp lý và bảo vệ quyền lợi của các bên được hưởng thừa kế.
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11"><b>Tóm tắt Án lệ số 16/2017/AL của Hội đồng thẩm phán TANDTC.</b>
- Nguyên đơn: Chị H1, chị N1, chị P, chị H2. - Bị đơn: Anh T.
- Nội dung: Ơng N qua đời mà khơng để lại di chúc. Bà G và anh T cùng nhau quản lý và sử dụng nhà đất của hai ông bà, bà G chuyển nhượng một phần cho ông K. Trước khi bà G qua đời, bà G để lại di chúc muốn chia một phần đất cho chị H1, nhưng anh T không đồng ý phân chia. Các nguyên đơn yêu cầu giải quyết phân chia di sản thừa kế theo di chúc.
- Quyết định của Tòa án: Hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm, sơ thẩm và giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc xét xử lại.
<b>1.6. Ở Án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m2 đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao?</b>
- Ở án lệ số 16/2017/AL, trong diện tích 398m2 đất, trong đó phần di sản của Phùng Văn N là 199m2. Bởi vì ơng N qua đời vào năm 1984 và việc chia thừa kế cũng được tính từ thời điểm này, nên phải chia ½ tổng diện tích đất cho cả hai vợ chồng. Tuy nhiên, phần đất mà bà G bán cho ông K là tài sản riêng của bà G, vì đã có sự đồng thuận của các người đồng thừa kế, do đó khơng được trừ vào di sản chung.
<b>1.7. Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ơng Phùng Văn K có được coi là di sản để chia khơng? Vì sao?</b>
- Năm 1991, bà Phùng Thị G chuyển nhượng cho Phùng Văn K diện tích 131 trong tổng diện tích 398 của thửa đất trên. Việc bà Phùng Thị G chuyển nhượng đất cho ông Phùng Văn K các con bà đều biết, nhưng khơng khơng ai có ý kiến phản đối gì. Nay khơng Phùng Văn K cũng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
<i><b>CSPL: Theo Điều 500 BLDS 2015:</b></i>
“Hợp đồng về quyền sử dụng đất là thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp quyền sử đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất’’.
- Vì vậy phần diện tích đất của ơng Phùng Văn K không phải là di sản để chia
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12"><b>1.8. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ơng Phùng Văn K.</b>
<b>- Hướng giải quyết của án lệ trên là hoàn toàn hợp lý.</b>
+ Thứ nhất năm 1984, ông Phùng Văn N mất không để lại thỏa thuận khác thi
<b>phần tài sản phải được phân chia dựa vào Điểm a khoản 1 Điều 650 BLDS 2015 căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 651 BLDS 2015 thì cung con ơng N thuộc hàng thì kế </b>
thứ nhất và được thừa hưởng di sản ông N để lại, cụ thể phần di sản này là phần tài sản chung của vợ chồng ơng( 398m đất). Do đó việc Tịa án xác định tài sản của ơng N trên là hồn tồn hợp lý.
+ Thứ hai sau khi ơng N mất bà G đã bán cho ông K 131m đất tông số 398m đất là tài sản chung của vợ chồng bà để bà lo cho cuộc sống các con. Hơn nữa việc mà các con bà G biết mà khơng có ý kiến gì thì các con của bà của đồng ý với việc chuyển nhượng. Hướng giải quyết của Tịa là hợp lý vì khơng chỉ bảo vệ quyền lợi thừa kế mà còn bảo vệ quyền lợi của người mua ngay tình là ơng K. Di sản của ơng N dù có bao gồm 131m đất đã bán cho ông K nhưng đã bị thay thế bằng khoản tiền mà ông K và bà G giao dịch. Số tiền đó được hình thành trên nền tảng di sản củ 131m đất và được sử dụng cho các đồng thừa kế. Trong trường hợp này các đồng thừa kế đều được hưởng lợi với số tiền trên nên có thể coi chia thừa kế ứng với phần di sản.
<b>1.9. Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng cho tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó có được coi là di sản đểchia khơng? Vì sao?</b>
- Nếu bà Phùng Thị G bán đất trên không để lo cuộc sống của các con mà dùng cho tiền đó cho cá nhân bà Phùng Thị G thì số tiền đó khơng được coi là di sản để chia. Tài sản chung của vợ chồng bà G và ông N là 398m2 đất, sau khi ông N mất, khơng để lại di chúc thì tài sản chung này sẽ được chia đôi là 199m2 đất theo quy định tại khoản
<i>2 Điều 66 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: “2. Khi có u cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đơi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế”. </i>
- Bà G, các con chung của 2 vợ chồng đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy
<i><b>định tại điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS 2015: “1. Những người thừa kế theo pháp </b></i>
<i>luật được quy định theo thứ tự sau đây: a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”. Nên đều được chia thừa </i>
<i><b>kế như nhau theo khoản 2 Điều 651 BLDS 2015: “2. Những người thừa kế cùng hàng </b></i>
</div>