Tải bản đầy đủ (.pdf) (22 trang)

Làm rõ quá trình nhận thức vềmô hình chủ nghĩa xã hội việt namtừ đại hội vii đến đại hội xii

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.25 MB, 22 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>VIETNAM NATIONAL UNIVERSITY HO CHI MINH CITYUNIVERSITY OF ECONOMICS AND LAW</b>

<b>LÀM RÕ QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VỀMƠ HÌNH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VIỆT NAM</b>

<b>TỪ ĐẠI HỘI VII ĐẾN ĐẠI HỘI XII</b>

<b>Giảng viên: Đinh Thị Điều</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

NỘI DUNG I. Chủ nghĩa xã hội và mơ hình Chủ nghĩa xã hội.

1. Chủ nghĩa xã hội 2. Mơ hình chủ nghĩa xã hội

II. Bối cảnh xã hội trước Đại hội VII và nhận thức của Đảng về CNXH ở Việt Nam thời kì ấy.

1. Bối cảnh xã hội trước Đại hội VII năm 1991

2. Nhận xét về bối cảnh xã hội trước Đại hội VII năm 1991 III. Q trình nhận thức mơ hình CNXH từ Đại hội VII đến Đại hội XII

1. Đại hội VII 2. Đại hội VIII

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>I. Về Chủ nghĩa xã hội và Mơ hình Chủ nghĩa xã hội1. Chủ nghĩa xã hội</b>

- CNXH là một chế độ dân chủ, là một tư tưởng, mà trong đó: + Quyền lực cao nhất thuộc về nhân dân.

+ Nó bao gồm các tư tưởng, lý luận, học thuyết về giải phóng xã hội lồi người khỏi chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột, bất cơng, nghèo nàn, lạc hậu.

+ Nó đại diện cho một ước mơ xây dựng nên một xã hội mới dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, khơng có sự bất cơng, khơng có sự phân chia giai cấp và sự khác biệt về tài sản. Một xã hội mà do nhân dân lao động xây dựng, dưới sự lãnh đạo của Đảng tiên phong của giai cấp cơng nhân.

<b>2. Mơ hình CNXH</b>

- Mơ hình là gì? ⇒ Mơ hình là một hệ thống, được tạo nên từ nhiều thành phần khác nhau và được tổng hợp từ nhiều khái niệm khác nhau để thể hiện lên bản chất của mơ hình ấy và cách vận hành của mơ hình ấy. - Như vậy, mơ hình CNXH là một phạm trù khái niệm nói về hệ thống xã

hội và chế độ kinh tế - chính trị - xã hội, được xây dựng dựa theo nguyên tắc của CNXH khoa học: “Xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”, “Chủ nghĩa xã hội nghĩa là tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng ta ngày càng sung sướng”, “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh” (Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh).

- Và những quan điểm ấy được xây dựng một cách phù hợp với tuỳ điều kiện cụ thể của từng quốc gia. Chúng cũng chính là sản phẩm tư duy chiến lược do Đảng Cộng sản đề ra, nhằm mục đích xây dựng nên một xã hội bền vững trong tương lai, một xã hội lấy người dân làm “cái gốc”. Và theo đó, bản chất của CNXH dần được hồn chỉnh theo thời gian và nó cũng dần bộc lộ ra các đặc điểm ưu việt của quốc gia ấy.

<b>II. Bối cảnh xã hội trước Đại hội VII và nhận thức của Đảng về CNXH ởViệt Nam thời kì này</b>

<b>1. Bối cảnh xã hội trước Đại hội VII năm 1991</b>

Ta có thể tóm tắt bối cảnh xã hội trước Đại hội VII, bắt đầu từ năm 1930 -chính là năm đã diễn ra Hội nghị thành lập nên Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hương Cảng (Hồng Kông), Trung Quốc. Hội nghị đã diễn ra dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, hợp nhất các tổ chức Cộng sản, lấy

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

tên là “Đảng Cộng sản Việt Nam” và đề ra nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến nay, bối cảnh xã hội Việt Nam có nhiều biến động mạnh mẽ về nhiều khía cạnh.

- Từ 1930 đến trước Đại hội VII (1991), có thể khái quát bối cảnh xã hội Việt Nam chủ yếu thành ba thời kỳ như sau:

+ Từ 1930 đến trước Đại hội IV (1976):

● Đây là giai đoạn đất nước ta vẫn cịn bị đàn áp, đơ hộ với các quốc gia tư bản - là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Tình hình xã hội có nhiều biến động liên tục.

● Trong giai đoạn này, tại Đại hội lần II (1951), Đảng ta đã bắt đầu có nhận thức về CNXH và cơng cuộc xây dựng nên mơ hình CNXH. Điều này đã được xác định rõ trong Luận cương Cách mạng Việt Nam tại Đại hội ấy. Và ở miền Bắc Việt Nam lúc ấy, ta cũng đã bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội một vài năm sau (1954-1975).

+ Từ sau Đại hội IV (1976) đến trước Đại hội VI (1986)

● Sau năm 1975, nền kinh tế nước ta vốn nào giờ được dựa vào viện trợ, thì chính lúc ấy phải bắt đầu dựa tự vào sức mình. Cùng với hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại trên cả phương diện con người lẫn vật chất, thì việc phục hồi kinh tế và xây dựng đất nước đang là khó khăn rất lớn mà Đảng ta phải đối diện.

+ Từ sau Đại hội VI (1986) đến trước Đại hội VII (1991):

● Đây là thời kì trọng đại đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong công cuộc xây dựng lại đất nước ta.

● Tại Đại hội VI, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đảng ta đã nghiêm khắc kiểm điểm sự lãnh đạo của mình, khẳng định những mặt làm được, phân tích những sai lầm, khuyết điểm, đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

<b>2. Nhận xét về bối cảnh xã hội trước Đại hội VII năm 1991</b>

- Nhận thức của Đảng về con đường đi lên XHCN, lúc trước Đại hội VII năm 1991, còn khá mơ hồ và chưa thực sự “nhìn xa trơng rộng”. Điều này cũng dễ hiểu và thơng cảm bởi vì:

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

+ Ba kỳ Đại hội đầu tiên diễn ra trong bối cảnh quân dân cả nước vẫn đang chiến đấu vì nền độc lập dân tộc và khát khao thống nhất đất nước. Vì thế, trong nội dung cơ bản của những kỳ Đại hội này, sự nhận thức vẫn cịn gắn liền với cách mạng vơ sản và cách mạng dân tộc.

⇒ Công cuộc xây dựng Xã hội chủ nghĩa, lúc này, được gắn liền với phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc.

+ Nhưng đến Đại hội IV (1976) đã đánh dấu việc mở ra thời kì độc lập tự do cho dân tộc với chiến thắng vẻ vang của Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 - giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước về mặt lãnh thổ. Với nội dung “Hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội”, Đảng và quân dân ta bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế - xã hội, thống nhất đất nước về mặt chính trị và tiến lên xây dựng XHCN mặc dù đứng trước muôn vàn thách thức, vô số sự đe dọa từ trong nước lẫn ngoài nước.

⇒ Giai đoạn này có thể thấy Đảng vẫn cịn loay hoay trong việc tìm ra con đường đi lên XHCN, nhận thức của Đảng về con đường đi lên XHCN còn khá mơ hồ.

⇒ Tóm lại, trước Đại hội VII năm 1991, nhận thức về con đường đi lên XHCN của Việt Nam còn mơ hồ, còn nặng lý luận, chưa linh hoạt và bám sát thực tiễn. Nhưng cho đến kỳ Đại hội VII ấy, Đảng ta đã ngày càng phát triển và hồn thiện về nhận thức mơ hình CNXH của Việt Nam cả về mặt lý luận và thực tiễn.

- Biểu hiện là:

+ Các mơ hình kinh tế xã hội được áp dụng khá rập khn, máy móc từ các nước Liên Xô, Trung Quốc, tiêu biểu là Thời bao cấp. Nguyên nhân bởi vì chậm tổng kết, rút kinh nghiệm và tìm ra các khuyết tật của các mơ hình kinh tế đó để vận dụng phù hợp với điều kiện lịch sử, hoàn cảnh xã hội riêng ở Việt Nam.

+ Tư tưởng vừa chủ quan, nóng vội, vừa bảo thủ, trì trệ; đã bỏ qua sự tất yếu “không thể bỏ qua” của phát triển sản xuất hàng hóa xã hội chủ nghĩa, chưa làm rõ khái niệm “cơ chế thị trường”,...Do CNXH là một xã hội mới đang được xây dựng, không ai biết sẽ mất bao lâu mới có thể tiến tới nó. Nhưng tư tưởng nóng vội, muốn hồn thành nhanh chóng đã bỏ qua rất nhiều yếu tố cần và đủ làm nền tảng.

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

+ Hiểu chưa đúng đắn sự ra đời của CNXH là kết quả của sự phủ định triệt để CNTB, từ đó có nơi có lúc cho rằng cái gì càng xa với CNTB thì càng gần với CNXH. Không phân biệt sự khác nhau về chất giữa CNXH và CNTB, không đặt CNXH và CNTB vào lịch trình chung của sự tiến hóa nhân loại qua năm hình thái kinh tế -xã hội để xác định vị trí của CNTB như là một giai đoạn phát triển cao của văn minh nhân loại và là nấc thang cận kề để loài người từ đó bước sang nấc thang cao hơn là CNXH.

+ Cũng tại Đại hội IV (1976) quan niệm về “chế độ làm chủ tập thể XHCN” có thể coi là điển hình cho nhận thức của Đảng về chế độ XHCN giai đoạn 1976 - 1986. Thuật ngữ “chế độ làm chủ tập thể XHCN” khá mới mẻ, nội dung đã phản ánh những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH và những mục tiêu lớn của đất nước. Tuy vậy, “chế độ làm chủ tập thể XHCN” vẫn mang tính lý tưởng nhiều hơn thực tế. Từ Đại hội VI, quan niệm về “làm chủ tập thể XHCN” khơng cịn được nhắc tới như một đặc trưng của CNXH trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam, thay vào đó là những tư duy thực tế hơn. Tư duy mới về cơ chế quản lý được khẳng định khơng dễ dàng, vẫn cịn sự nhấn mạnh: “Tính kế hoạch là đặc trưng số một của cơ chế quản lý kinh tế. Sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hóa - tiền tệ là đặc trưng thứ hai của cơ chế mới về quản lý kinh tế”. Do đó, có thể thấy tư duy giai đoạn này mới bắt đầu từ đổi mới biện pháp chứ chưa hướng tới mơ hình mới về CNXH ở Việt Nam.)

<b>III.Q trình nhận thức mơ hình CNXH từ đại hội VII đến đại hội VIII1. Đại hội VII (1991)</b>

- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam được tiến hành vào tháng 6-1991, trong bối cảnh quốc tế và trong nước đang có những diễn biến phức tạp. Đó là những biến động đã và đang xảy ra ở các nước xã hội chủ nghĩa, sự tiến cơng nhiều phía vào chủ nghĩa xã hội, vào chủ nghĩa Mác - Lênin và Đảng Cộng sản, những âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch quốc tế hịng xóa bỏ chủ nghĩa xã hội. - Đại hội VII (1991) bước đầu xác định những đặc trưng của xã hội XHCN

ở Việt Nam, thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong văn kiện quan trọng này, vấn đề “ Xã hội XHCN mà chúng ta xây dựng là như thế nào? ” đã lần đầu tiên được đề cập tới một cách hệ thống dưới hình thức luận đề. Cương lĩnh đã bước

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

đầu xác định sáu đặc trưng của CNXH ở Việt Nam. Đây là lần đầu tiên, sau hơn 30 năm xây dựng CNXH (1954 - 1991), nhận thức của Đảng ta về các đặc trưng của CNXH ở Việt Nam mới được thể hiện một cách hệ

- Các đặc trưng đó quy định bảy phương hướng để xây dựng CNXH ở Việt Nam. Trong đó, “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” đã trở thành đúc kết lý luận đầu tiên về biện pháp xây dựng CNXH của Việt Nam. Điểm đáng lưu ý là lần đầu tiên, tiêu chí “dân giàu” xuất hiện trong mục tiêu xây dựng CNXH” và trong nguyên tắc để đánh giá những tư duy mới. Dân giàu là dân được phép làm giàu. Trong kinh tế thị trường, hiệu quả xã hội của hoạt động kinh tế trước tiên là sự giàu có, “ăn nên, làm ra” của dân. Sự giàu có, hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu của độc lập, tự do; là một thước đo để đánh giá những tìm tịi đổi mới, là cội nguồn của “nước mạnh”. Đảng, Nhà nước tạo điều kiện để nhân dân “tự mưu cầu hạnh phúc” chứ không phải lo cuộc sống cho dân bằng bao cấp. Nhận thức rõ những biến đổi nhanh chóng của thời đại và giới hạn của nhận thức lý luận, Đảng ta cũng nhận định: “Quan niệm về CNXH, về con đường đi lên CNXH ở nước ta đã có thể hình thành trên những nét chủ yếu. Đương nhiên, những gì mà nhận thức của chúng ta đạt tới hôm nay sẽ còn được bổ sung, phát triển cùng với sự phát triển sau này của thực tiễn và của tư duy lý luận”.

- Cương lĩnh xác định quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường; trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cần nắm vững 7 phương hướng cơ bản sau:

• Một là, xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nơng

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đủ quyền dân chủ của nhân dân.

• Hai là, phát triển lực lượng sản xuất, cơng nghiệp hố đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền nơng nghiệp tồn diện • Ba là, phát triển lực lượng sản xuất phù hợp với quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

• Bốn là, trong lĩnh vực tư tưởng và văn hoá lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng trong đời sống tinh thần xã hội. Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hố nhân loại.

• Năm là, thực hiện chính sách đại đồn kết dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất. Thực hiện chính sách đối ngoại hồ bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước

• Sáu là, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam.

• Bảy là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ.

- Cương lĩnh đã vạch rõ quan niệm của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta sẽ xây dựng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ để thực hiện mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.

- Một số thành tựu đã đạt được ở giai đoạn này:

• Đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế, hoàn thành vượt mức nhiều mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm.

• Sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngày càng được phát huy • Quốc phịng được giữ vững, an ninh quốc gia được bảo đảm

• Phát triển mạnh mối quan hệ đối ngoại, phá thế bao vây cấm vận, tham gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế.

<b>2. Đại hội VIII (1996)</b>

- Đứng trước nguy cơ xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo chạy đua vũ trang, hoạt, khủng bố xảy ra ở nhiều nơi. Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền kinh tế và đời sống xã hội. Nước ta cũng phải đối đầu với nhiều thách thức những nguy

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

cơ tụt hậu xa về kinh tế, “diễn biến hịa bình”; tệ quan liêu, tham nhũng; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Tình hình thế giới và thực tiễn công cuộc đổi mới đặt ra cho Đảng ta những nhiệm vụ và bước đi mới. - Đại hội VIII (1996) Đảng xác định tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế

với mục tiêu xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, hình thành tương đối đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Thực hiện sáu biện pháp định hướng XHCN trong việc xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần là những nhiệm vụ trọng tâm để xây dựng kinh tế cho CNXH ở Việt Nam.

- Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho cơng nghiệp hóa đã cơ bản hồn thành cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do đó, chủ đề của đại hội VIII là: “Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.” Kỳ đại hội này có thể được xem là kỳ đại hội về cơng cuộc cơng nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. Đại hội xác định: “Nhiệm vụ của nhân dân ta là tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị 8 trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu đạt và vượt mục tiêu được đề ra trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.” Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn.

- Về phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đại hội nêu các quan điểm về cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa như sau:

• Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại.

• Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của tồn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo

• Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ và cơng bằng xã hội, bảo vệ mơi trường.

• Khoa học và công nghệ là động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Kết hợp cơng nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại; tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định.

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

• Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ. Đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có.

• Kết hợp kinh tế với quốc phịng - an ninh.

- Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ VIII đã đánh dấu bước ngoặt chuyển đất nước ta sang thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra, Đại hội cũng đã xác định rõ ràng hơn con đường đi lên CNXH của nước ta, xác định hướng đi của nền kinh tế là nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh cơng nghiệp hóa để phát triển kinh tế.

- Từ những nhận thức trên, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã gặt hái một số thành tựu:

• Kinh tế tăng trưởng khá.

• Văn hóa, xã hội có những tiến bộ; đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện.

• Tình hình chính trị cơ bản ổn định. Hệ thống chính trị được củng cố. • Quốc phịng, an ninh được tăng cường; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được chú trọng.

• Quan hệ đối ngoại khơng ngừng mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế được tiến hành chủ động và đạt nhiều kết quả tốt.

<b>3.Đại hội IX (2001)</b>

- Đại hội IX (2001) làm rõ kiểu quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN) của CNXH ở Việt Nam. “Xây dựng CNXH bỏ qua chế độ TBCN, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất q độ”.

- Bước sang thế kỷ XXI, tình hình trong nước và quốc tế tiếp tục có những biến đổi sâu sắc, khó lường, tác động mạnh mẽ vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Khả năng duy trì hịa bình, ổn định trên thế giới và khu vực cho phép chúng ta tập trung phát triển kinh tế, song phải đề cao cảnh giác, chủ động đối phó với mọi tình huống phức tạp nảy sinh. Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học tiếp tục phát triển như vũ bão, trở thành lực lượng sản xuất trực

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

tiếp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế tri thức, làm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và biến đổi sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tồn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã trở thành một xu thế khách quan, đặt ra cho Việt Nam cơ hội mở rộng hợp tác với các nước, vùng lãnh thổ trong khu vực và thế giới, đồng thời phải đấu tranh để bảo vệ lợi ích của mình, hạn chế những tác động tiêu cực của nó đối với đất nước. Đảng xác định mơ hình CNXH ở Việt Nam là mơ hình CNXH của thời kỳ q độ chứ khơng phải là mơ hình của CNXH ở giai đoạn phát triển. Nó được định tính bằng nhiều tiêu chí: thời gian lâu dài, khơng gian với nhiều chặng đường; nội dung là bỏ qua chế độ TBCN “tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN”, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại. Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất q độ. Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra sự đan xen và đấu tranh giữa cái mới và cái cũ”. Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là mơ hình kinh tế tổng qt của thời kỳ q độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Quan niệm về kinh tế thị trường, đến Đại hội IX đã phát triển từ cơ chế vận hành, quản lý trở thành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với vai trị là mơ hình kinh tế tổng qt của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH. Phát triển kinh tế, cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm; thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần; tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường, đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước; giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Gắn liền với tồn bộ cơng cuộc xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường quốc phòng và an ninh, cần phải ra sức chăm lo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ngang tầm nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Đó là nhiệm vụ then chốt, là cội nguồn thắng lợi của sự nghiệp cách mạng nước ta.

<b>4.Đại hội X (2006)</b>

</div>

×