Tải bản đầy đủ (.pdf) (44 trang)

Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.84 MB, 44 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

<b>MINH </b>

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT </b>

BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI

<b>TÁC PHẨM ÂM NHẠC GIẢNG VIÊN: </b>NGUYỄN THỊ LÂM NGHI

<i><b>THÀNH VIÊN NHÓM </b></i>

<b>1. Trần Hồng Hạnh _ K195042281 2. Đặng Quốc Trung Hiếu _ K195042283 3. Nguyễn Thanh Thư _ K195042302 4. Ngô Trần Hiếu Quỳnh _ K195042321 5. Nguyễn Thị Ánh Linh _ K205042266 </b>

TP. Hồ Chí Minh, Ngày 07 tháng 12 năm 2022

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

1

<b>LỜI CẢM ƠN </b>

Nhóm xin trân thành gửi lời cảm ơn đến giảng viên hướng dẫn Nguyễn Thị Lâm Nghi đã hướng dẫn, giảng dạy những nội dung có liên quan trong đề tài.

Nhóm cảm ơn cô đã giành thời gian để đọc bài viết, nhận xét và chấm điểm bài viết của nhóm.

<i><b>Ho Chi Minh, Ngày 07 tháng 12 </b></i>năm<i><b> 2022 </b></i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

2

<b>BẢNG PHÂN CHIA, ĐÁNH GIÁ CÔNG VIỆC </b>

<b>HỌ VÀ TÊN MSSV NHIỆM VỤ </b> <sup>MỨC ĐỘ HOÀN </sup>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>1.1. Khái niệm chung ... 8 </b>

1.1.1. Khái niệm v ề tác ph m âm nhẩ ạc ... 8

1.1.2. Khái ni m v quy n tác gi ... 9 ệ ề ề ả <b>1.2. B o h</b>ả <b>ộ quyền tác gi trong tác ph m âm nh</b>ả ẩ <b>ạc ... 10 </b>

1.2.1. Định nghĩa về bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc ... 10

1.2.2. Điều kiện... 10

1.2.3. Đặc điểm ... 12

1.2.4. Vai trò của bảo h quy n tác gi ộ ề ả đố ới v i tác ph m âm nh c ... 14 ẩ ạ <b>1.3. Xâm ph m quy n tác gi trong tác ph m âm nh</b>ạ ề ả ẩ <b>ạc ... 15 </b>

1.3.1. Khái ni m v hành vi xâm ph m quy n tác gi trong tác ph m âm nh c ... 15 ệ ề ạ ề ả ẩ ạ 1.3.2. Phân lo i mạ ức độ xâm ph m quy n tác gi ạ ề ả trong tác phẩm âm nh c ... 16 ạ 1.3.3. Ảnh hưởng bởi sự xâm ph m quy n tác giạ ề ả trong tác phẩm âm nh c ... 18 ạ CHƯƠNG 02: THỰ<b>C TIỄN PHÁP LU</b>ẬT ĐIỀ<b>U CHỈNH VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ </b>ĐỐ<b>I V I TÁC PH M ÂM NH C ... 21 </b>Ớ Ẩ Ạ

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

4

<b>2.1. Pháp lu t hi</b>ậ <b>ện hành quy định về ả b o hộ quyền tác gi v i tác ph m âm nh</b>ả ớ ẩ <b>ạc ... 21 </b>

2.1.1. Chủ thể ủ c a quy n tác gi trong tác ph m âm nh c ... 21 ề ả ẩ ạ 2.1.2. Điều kiện bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc ... 22 2.1.3. N i dung b o h quy n tác gi ộ ả ộ ề ả đối với tác ph m âm nh c... 23 ẩ ạ

<b>2.2. Pháp luật quy định về ử lý vi phạm đối vớ x i xâm ph m quy n tác gi v</b>ạ ề <b>ả ới tác </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

5

<b>PHẦN MỞ </b>ĐẦ<b>U 1. Lý do chọn đề tài </b>

Âm nhạc là loại hình giải trí gắn liền với sự phát triển lịch sử, văn hóa truyền thống của mỗi quốc gia dân tộc. Ngay cả trong âm nhạc cũng tồn tại mặt sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên trên thực tế, âm nhạc truyền thống, âm nhạc điện tử đều phát triển mạnh mẽ với phạm vi tồn cầu. Đặc biệt sự phát triển thơng qua các cơng cụ kết nối Internet, điều đó dẫn đến việc kiểm soát, quản lý vấn đề “bản quyền” trong âm nhạc trở nên phức tạp và khó khăn.

Hiện nay, pháp luật nước ta đã có các quy định cụ thể để điều chỉnh vấn đề “bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc dựa vào các ”, điều khoản quy để xác định phạm vi và nội dung bảo hộ quyền tác giả đối với đối tượng này. Hơn thế nữa, trên thực tế Việt Nam đã có hệ thống hỗ trợ thực thi hoạt động bảo vệ quyền tác giả trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế 4.0, các tổ chức đại diện tập thể: “Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc, Hội Nhạc sĩ Việt Nam…”. Tuy nhiên, nhận thấy việc áp dụng pháp luật trong quản lý, kiểm soát và điều chỉnh vấn đề này cịn nhiều bất cập. Do đó, nhóm quyết định chọn đề tài: “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc”. Nhóm tiến hành tìm hiểu và khái quát lại các quy định hiện hành; phân tích những mặt tiêu cực hay tích cực; đưa ra các bất cập còn tồn tọng trong thực tế; đưa ra các đề xuất kiến nghị có thể thực hiện nhằm hoàn thiện hơn về khung pháp luật về bản quyền tác phẩm âm nhạc tại Việt Nam.

<b>2. Giới hạn của đề tài </b>

Bài viết đi nghiên cứu tập trung vào quy định của Pháp Luật Việt Nam, các quy định hiệp ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

<b>3. Câu hỏi nghiên cứu </b>

Để đi tìm hiểu, phân tích đề tài, nhóm phân chia đề tài thành các câu hỏi chính như sau:

3.1. Khái quát chung về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

6

nhạc như thế nào?

3.2. Những quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc như thế nào; thực trạng áp dụng và bất cập trong quy định pháp luật như thế nào?

3.3. Các giải pháp và kiến nghị nào có thể đề xuất thực hiện, phù hợp được để hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc?

<b>4. Mục đích nghiên cứu </b>

Đóng góp các giải pháp, kiến nghị có thể đưa ra để hoàn thiện các khuyết điểm trong pháp luật về bảo vệ quyền tác giả đối với sản phẩm âm nhạc theo góc độ nhìn nhận của nhóm. Góp phần vào việc sẽ nâng cao được một phần hiệu quả trong thực thi pháp luật trong thực tiễn.

<b>5. Phương pháp nghiên cứu </b>

Trong suốt quá trình tiến hành nghiên cứu và trình bày đề tài bài viết, nhóm đã kết hợp và sử dụng rất nhiều các phương pháp nghiên cứu khoa học. Trong đó, phương pháp chính là phân tích; phương pháp tổng hợp, diễn giải…

<b>6. Ý nghĩa nghiên cứu </b>

Bài viết nghiên cứu thực tiễn thực thi pháp luật đối với hoạt động bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm âm nhạc ở Việt Nam trên cơ sở đó cân nhắc, so sánh cũng như đối chiếu với thực trạng pháp luật và tìm ra những lỗ hổng, vướng mắc trong pháp luật ở nước ta. cũng như quá trình thực thi luật bảo vệ bản quyền và so sánh với các quốc gia khác. Trên cơ sở nghiên cứu này, tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ bản pháp luật về quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả của nhà nước ta, đặc biệt là đối với tác phẩm âm nhạc, cũng như góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc ở Việt Nam.

<b>7. </b> Bố cục

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

7

CHƯƠNG 01: TỔNG QUAN VỀ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC

CHƯƠNG 02: THỰC TIỄN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU CHỈNH VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC CHƯƠNG 03: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI SẢN PHẨM ÂM NHẠC

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

8

<i><b>PHẦN NỘI DUNG </b></i>

CHƯƠNG 01: TỔNG QUAN VỀ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI

<b>TÁC PHẨM ÂM NHẠC </b>

<b>1.1. Khái niệm chung </b>

<i><b>1.1.1. Khái niệm về tác phẩm âm nhạc </b></i>

Theo Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO, tác phẩm âm nhạc được định nghĩa “Bất kỳ tác phẩm nào bao gồm âm thanh hoặc chỉ : chứa các ký tự âm nhạc ngay cả khi không bao gồm lời hay bất kỳ hành động nào nhằm mục đích được hát, nói hay biểu diễn với âm nhạc”. Như vậy tác phẩm âm nhạc được hiểu là một loại âm thanh được sáng tạo khơng phụ thuộc vào có lời hoặc không.

Đối với khái niệm tác phẩm, theo Từ điển Luật học đưa ra khái niệm tác phẩm: “Sản phẩm sáng tạo trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học được thể hiện dưới hình thức và bằng phương tiện nào đó, khơng phân biệt nội dung, giá trị và không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục nào” . Theo Công ước Berne “Tác phẩm văn học và nghệ <small>1</small> : thuật bao gồm toàn bộ các sản phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật mà khơng phụ thuộc vào cách thức và hình thức thể hiện như sách… và các tác phẩm ngơn ngữ khác; các bài thuyết trình, diễn thuyết, diễn văn và các tác phẩm cùng loại; các tác phẩm âm nhạc, kịch, nhạc kịch…”<small>2</small>

Tác phẩm âm nhạc xuất phát là một đoạn nhạc, cấu trúc âm nhạc của một đoạn nhạc hay quá trình sáng tạo ra một đoạn nhạc mới. Một tác phẩm âm nhạc hoàn chỉnh thường bao gồm ba yếu tố: “giai điệu”, “hòa âm” và “tiết tấu”. Những người tạo ra các đoạn nhạc được gọi là

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

9

“Tác phẩm âm nhạc là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác hoặc được định hình trên bản ghi âm, ghi hình có hoặc khơng có lời, khơng phụ thuộc vào việc trình diễn hay khơng trình diễn.”

<i><b>1.1.2. Khái ni m v quy n tác gi </b></i>ệ ề ề ả

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”. Trong đó, tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại khoản 1, Điều 13 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019.

Quyền tác giả là quyền độc quyền dành cho người sáng tạo tác phẩm. Nghĩa là được pháp luật quy định và được bảo vệ bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nói cách khác, quyền tác giả được bảo hộ thông qua việc bảo vệ các quyền độc quyền dành cho người sáng tạo tác phẩm. Số lượng và nội dung quyền độc quyền dành cho tác giả sẽ thể hiện phạm vi bảo hộ quyền tác giả. Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả phải ghi nhận, đảm bảo cho tác giả quyền độc quyền sử dụng, khai thác tác phẩm được bảo hộ. Đồng thời, phải đảm bảo lợi ích công cộng thông qua quy định pháp luật về các trường hợp khai thác tác phẩm đã công bố mà không phải xin phép chủ sở hữu quyền tác giả.

Bản quyền hay Quyền tác giả (copyright) là một hình thức bảo hộ của luật pháp đối với tác giả của các tác phẩm như các bài viết về khoa học hay văn học, sáng tác nhạc, ghi âm, tranh vẽ, hình chụp, phim và các chương trình truyền thanh và các sản phẩm trí tuệ khác, bảo vệ các quyền lợi cá nhân và lợi ích kinh tế của tác giả trong mối liên quan với tác phẩm. Theo Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, tác giả được hưởng tác quyền suốt đời cộng thêm tối thiểu 50 năm sau khi qua đời.

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

10

<b>1.2. B o h</b>ả <b>ộ quyền tác gi trong tác ph m âm nh c </b>ả ẩ ạ

<i><b>1.2.1. Định nghĩa về bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc </b></i>

Theo Khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi là bổ sung năm 2009 và 2019 (sau đây sẽ gọi là Luật sở hữu trí tuệ): “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.”

Như vậy, bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc là sự bảo hộ của pháp luật đối với tác giả và các tác phẩm âm nhạc thuộc quyền tác giả. Và, quyền tác giả trong tác phẩm âm nhạc quyền hợp pháp của tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hoặc tác giả của tác phẩm âm nhạc được pháp luật công nhận và bảo vệ, bao gồm cả các quyền được pháp luật sở hữu trí tuệ ghi nhận.

Quan hệ pháp luật về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc là quan hệ pháp lý dân sự tuyệt đối giữa chủ thể quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc và các chủ thể khác còn lại trong xã hội có nghĩa vụ: tơn trọng quyền của chủ thể quyền

<i><b>1.2.2. Điều kiện </b></i>

Tác phẩm âm nhạc là tài sản trí tuệ và sẽ được pháp luật bảo vệ như quyền tác giả. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ thì quyền tác giả được bảo hộ từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nào đó. Nói cách khác, khi một tác phẩm được tạo ra và con người xác định được sự tồn tại của nó thì tác phẩm đó sẽ được bảo vệ quyền tác giả.

Vì vậy, đối với tác phẩm âm nhạc, khi tác giả sáng tạo ra giai điệu trong tâm trí thì tác phẩm âm nhạc này chưa được bảo hộ. Chỉ khi tác phẩm âm nhạc được diễn giải thể hiện dưới một hình thức vật chất , nhất định (viết giai điệu, nốt nhạc trên giấy, lưu trữ qua bản ghi âm, v.v.) thì quyền tác giả phát sinh và sự bảo hộ cũng phát sinh.

Trong nội dung chính sách nhà nước về sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 8 Luật Sở hữu trí tuệ, Điều 1 quy định như sau: “Việc

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

11

công nhận và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở hài hòa giữa các lợi ích của chủ sở hữu trí tuệ đối với quyền tài sản có lợi ích cơng cộng; khơng bảo vệ đối tượng sở hữu trí tuệ trái đạo đức xã hội, trật tự công cộng, phương hại đến quốc phịng, an ninh”. Ngồi ra việc sản phẩm trí tuệ được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhưng nội dung của tác phẩm đó khơng được trái đạo đức, trật tự công cộng, không phương hại đến quốc phịng, an ninh.

Tóm lại, đối với tác phẩm âm nhạc, điều kiện để được bảo hộ quyền tác giả bao gồm:

“i) Được sáng tạo và thể hiện dưới dạng một dạng vật chất nào đó; ii)Nội dung không trái đạo đức xã hội, trật tự công cộng, khơng làm thiệt hại đến quốc phịng, an ninh quốc gia.”

Và khi hai điều kiện này được đáp ứng thì quyền tác giả của tác phẩm âm nhạc được phát sinh.

Bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan đối với tác phẩm âm nhạc là việc Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc xác lập, công nhận và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm âm nhạc do họ sáng tạo ra.

Trong đó, bao gồm các nội dung về xác lập, công nhận quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc, quản lý, sử dụng, khai thác quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc và bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc chống lại các hành vi xâm phạm.

Các Điều ước quốc tế đa phương về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan mà Việt Nam tham gia ký kết và gia nhập có thể kể đến như:

“i. Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật ii. Công ước Geneva về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép trái phép bản ghi âm của họ

iii. Công ước Brussels về phân phối tín hiệu mang chương trình

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

12

truyền qua vệ tinh

iv. Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng

v. Hiệp định Trips về những khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ”

<i><b>1.2.3. Đặc điểm </b></i>

Về chủ thể

Đối tượng của quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc là tác giả của tác phẩm âm nhạc. Khi tác phẩm âm nhạc đạt đủ các điều kiện để phát sinh quyền tác giả thì chủ thể đó có những quyền nhất định đối với tác phẩm âm nhạc đó. Trong trường hợp khơng có thỏa thuận chuyển nhượng bản quyền, chủ sở hữu bản quyền của tác phẩm có thể là nhạc sĩ hoặc trong một số trường hợp là người khác.

Về khách thể

Đối tượng của quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc là tác phẩm âm nhạc do tác giả sáng tạo ra bằng tác phẩm trí tuệ. Các tác phẩm âm nhạc ra đời trước hết là để đáp ứng nhu cầu văn hóa, tinh thần và giải trí của quần chúng nhân dân.

Về nội dung

Nội dung quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc cũng là tổng thể các quyền nhân thân và quyền tài sản theo quy định tại Điều 19,20 Luật Sở hữu trí tuệ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc.

Trong các quyền nhân thân, quyền đặt tên, bút danh cho tác phẩm âm nhạc là quyền đặc biệt quan trọng của nhạc sĩ. Lĩnh vực âm nhạc là một hoạt động nghệ thuật và giải trí phổ biến trong đời sống con người, trong đó danh tiếng là quan trọng. Tác phẩm âm nhạc khơng chỉ là cơng trình sáng tạo của tác giả, mà cịn là uy tín và danh dự của tác giả. Mặt khác, tác phẩm âm nhạc dễ lan truyền, phổ biến rộng rãi

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

13

trong xã hội nên khó kiểm sốt tính tồn vẹn của tác phẩm cũng như tên tác giả.

Ngồi nhạc sĩ có quyền tác giả đối với tác phẩm của mình mà bên cạnh đó, bất cứ cá nhân, tổ chức sáng tạo sở hữu tác phẩm âm nhạc thì đều sẽ được pháp luật Việt Nam bảo hộ.

Ngoài điều kiện về hình thức thể hiện thì điều kiện về chủ thể cũng là một trong những điều kiện được pháp luật Việt Nam quy định cụ thể trong Điều 13 Luật sở hữu trí tuệ:

“1. Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại các điều từ Điều 37 đến Điều 42 của Luật này. 2. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại khoản 1 Điều này gồm tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngồi có tác phẩm được cơng bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được cơng bố lần đầu tiên ở nước khác; tổ chức, cá nhân nước ngồi có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam là thành viên”

Các điều kiện bảo hộ liên quan khác theo pháp luật quy định tại Điều 16, Luật sở hữu trí tuệ:

“1. Diễn viên, ca sĩ, nhạc cơng, vũ cơng và những người khác trình bày tác phẩm văn học, nghệ thuật (sau đây gọi chung là người biểu diễn).

2. Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu cuộc biểu diễn quy định tại Khoản 1 Điều 44 của Luật này.

3. Tổ chức, cá nhân định hình lần đầu âm thanh, hình ảnh của cuộc biểu diễn hoặc các âm thanh, hình ảnh khác (sau đây gọi là nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình).

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

14

4. Tổ chức khởi xướng và thực hiện việc phát sóng”

<i><b> 1.2.4. Vai trò c a b o h quy n tác gi</b></i>ủ ả ộ ề <i><b>ả đối v i tác ph</b></i>ớ ẩ<i><b>m âm nh c </b></i>ạ Bảo hộ quyền tác giả thúc đẩy hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật nói chung và âm nhạc thơng qua việc biểu dương và bảo vệ thành quả của các tập thể, cá nhân đã tham gia sáng tạo, tận tụy đóng góp cho cơng ích và phát triển xã hội. được đặc biệt khuyến khích. Bảo vệ bản quyền là vì một cộng đồng tơn trọng “sở hữu trí tuệ” và chỉ có ý nghĩa nếu quyền nhân thân, quyền tài sản và lợi ích thu được từ tác phẩm của người sáng tạo thực sự được tôn trọng.

Bảo hộ quyền tác giả là công cụ hữu hiệu nhất để phát huy, làm phong phú và phổ biến di sản văn hóa dân tộc và di sản văn hóa nhân loại. Sự phát triển của một quốc gia chủ yếu phụ thuộc vào hoạt động sáng tạo của con người và khuyến khích sự sáng tạo của các cá nhân, sự lan tỏa sáng tạo này là điều kiện tất yếu của quá trình phát triển.

Bản quyền là một yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển. Thực tiễn đã chỉ ra rằng việc làm phong phú và phổ biến di sản văn hóa quốc gia trực tiếp phụ thuộc vào mức độ bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật. Đất nước càng có nhiều trí tuệ sáng tạo thì đất nước càng vẻ vang, càng có nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật, sức mạnh tổng hợp của những con người (người biểu diễn, người sản xuất chương trình,..người ghi chương trình, người phát sóng) trong cơng nghiệp văn hóa (sách, băng hình, ca nhạc, truyền hình giải trí) càng nhiều càng tốt, và cuối cùng là bồi dưỡng trí tuệ sáng tạo là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế, văn hóa. Thực tế đã chứng minh ở các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam, hoạt động bảo hộ quyền tác giả đã góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần và vật chất của nhân dân, đóng góp ngân sách nhà nước, góp phần tăng trưởng GDP và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia.

Thực tế, thị trường các sản phẩm văn hóa và cơng nghiệp giải trí ở Việt Nam vẫn đang bị đe dọa bởi vấn nạn vi phạm bản quyền. Trong

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

15

nhiều lĩnh vực như âm nhạc, phim ảnh, sách, tranh vẽ…nạn vi phạm bản quyền đã khiến các nhà sáng tạo và nhà sản xuất đánh mất nhiều cơ hội kiếm lời. Nếu không làm tốt công tác bảo hộ quyền tác giả, những người sáng tạo sẽ khơng cịn tâm huyết sáng tạo ra những tác phẩm chất lượng cao, đủ sức chinh phục thị trường và trở thành những “siêu phẩm” văn hóa, báo cáo tiết kiệm lớn. Và do đó, ngành cơng nghiệp văn hóa sẽ không thể phát triển. Riêng trong lĩnh vực âm nhạc, công tác bảo vệ thực thi quyền tác giả trong thời gian qua đã góp phần rất lớn vào việc giảm thiểu nạn làm giả, tạo niềm tin cho tác giả, khuyến khích sự sáng tạo và tạo ra một sân chơi lành mạnh, cơng bằng, hài hịa lợi ích giữa người sáng tạo và người sử dụng.

<b>1.3. Xâm ph m quy n tác gi trong tác ph m âm nh c </b>ạ ề ả ẩ ạ

<i><b>1.3.1. Khái ni m v hành vi xâm ph m quy n tác gi trong tác ph</b></i>ệ ề ạ ề ả <i><b>ẩm </b></i>

<i><b>âm nh c </b></i>ạ

Vi phạm bản quyền là việc sử dụng trái phép tác phẩm được bảo vệ bởi luật sở hữu trí tuệ vi phạm một số quyền độc quyền của tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm. Vi phạm bản quyền âm nhạc ở Việt Nam hiện nay rất phổ biến. Không thể phủ nhận nghệ thuật là sáng tạo, tuy nhiên nghệ sĩ đã vay mượn nó

Quyền nghệ sĩ khơng cịn xa lạ với mọi người. Vi phạm bản quyền trong lĩnh vực âm nhạc cũng là một trong những lực cản đối với sự phát triển của ngành cơng nghiệp văn hóa. Ở nước ta, đặc biệt trong lĩnh vực quyền tác giả âm nhạc đã có một cơ quan chuyên môn là Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc trực thuộc Hội Nhạc sĩ Việt Nam, nhưng tình trạng vi phạm quyền tác giả vẫn diễn ra phổ biến.

Nguyên nhân của tình trạng vi phạm bản quyền ở nước ta thời gian qua, trước hết, là do ý thức chấp hành pháp luật của người tiêu dùng chưa cao. Mặc dù biết là sách lậu, sách nối bản, băng đĩa lậu…nhưng một bộ phận người dân ham giá rẻ vẫn cố tình mua. Đây là một trong những ngun nhân chính dẫn đến tình trạng xâm phạm quyền tác giả, đặc biệt trong lĩnh vực xuất bản phẩm, âm nhạc…

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

16

<i><b>1.3.2. Phân loại mức độ xâm ph m quy n tác gi trong tác ph m âm </b></i>ạ ề ả ẩ

<i><b>nhạc </b></i>

Theo Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất năm 2019 quy định về các hành vi xâm phạm quyền tác giả bao gồm:

“1. Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.

2. Mạo danh tác giả.

3. Công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả. 4. Công bố, phân phối tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó.

5. Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

6. Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều 25 của Luật này.

7. Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh, trừ trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 25 của Luật này.

8. Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật này.

9. Cho thuê tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.

10. Nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.

11. Xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

17

tác giả.

12. Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.

13. Cố ý xóa, thay đổi thơng tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm.

14. Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vơ hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.

15. Làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo. 16. Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.”

Theo Khoản 8 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ thì “Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn”. Như vậy, tác phẩm phái sinh là tác phẩm được tạo ra dựa trên một tác phẩm đã có, có sáng tạo nhất định về nội dung, về hình thức, về ngơn ngữ…

Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm phái sinh được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức nhất định, khơng phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngơn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hành vi làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả là hành vi xâm phạm quyền tác giả, trừ trường hợp chuyển sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị. Người không phải là chủ sở hữu quyền tác giả khi làm tác phẩm phái sinh khác phải xin phép (nếu tác phẩm chưa được công bố), trả tiền nhuận bút, thù lao… cho chủ sở hữu quyền tác giả gốc

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

18

“Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật này.

Cho thuê tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.

Nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.

Xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.

Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.

Cố ý xóa, thay đổi thơng tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm.

Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vơ hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.

Làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo. Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.”

<i><b>1.3.3. </b></i>Ảnh hưở<i><b>ng b i s xâm ph m quy n tác gi trong tác ph</b></i>ở ự ạ ề ả <i><b>ẩm </b></i>

<i><b>âm nh c </b></i>ạ

Tình trạng ca sĩ, nhạc sĩ mâu thuẫn nhau về quyền sở hữu, sử dụng ca khúc (tác phẩm âm nhạc) ngày càng phổ biến ở nước ta. Điều này thể hiện cả mặt tích cực và tiêu cực.

Trong quá trình chuyển quyền sở hữu (bán) thì quyền khai thác tác

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

19

phẩm được chuyển giao cho chủ sở hữu mới, trong q trình chuyển quyền sử dụng (cho th) có thể xảy ra 02 trường hợp: trao quyền sử dụng độc quyền hoặc không độc quyền. của quyền tài sản.<small>3</small>

Chẳng hạn, hợp đồng giữa ca sĩ Nguyễn Đình Thanh Tâm và nhạc sĩ Phạm Toàn Thắng trong trường hợp chương trình Giọng hát Việt 2013 sử dụng ca khúc Chạy mưa, nội dung hợp đồng có đoạn như sau: “Bên B đồng ý để các tác phẩm ghi âm nêu trên thuộc quyền sở hữu của Bên B và cho Bên A được độc quyền, toàn quyền khai thác, kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất bản ghi âm, ghi hình, đĩa phim và các chương trình biểu diễn ca nhạc. Bên A có quyền hoạt động trong lĩnh vực nhạc chuông, nhạc chuông với các quyền liên quan đến Bên A.”

Trong lĩnh vực âm nhạc, khi nhạc sĩ sử dụng thời gian, tài chính, vật chất và phương tiện kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm thì nhạc sĩ là tác giả, đồng thời là chủ sở hữu của tác phẩm. Trường hợp nhạc sĩ sáng tạo tác phẩm do được giao nhiệm vụ hoặc giao kết hợp đồng sáng tác thì nhạc sĩ là tác giả và tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ hoặc giao kết hợp đồng với nhạc sĩ là tác giả của tác phẩm.

Do đó, ca sĩ có thể trở thành chủ sở hữu của tác phẩm âm nhạc hoặc người sử dụng quyền tài sản bằng cách ký kết hợp đồng với nhạc sĩ. Hợp đồng giữa ca sĩ và nhạc sĩ có thể là hợp đồng sáng tác ca khúc, hợp đồng chuyển quyền sở hữu tác phẩm hoặc hợp đồng chuyển quyền sử dụng tác phẩm.

Bất kỳ tác phẩm âm nhạc nào cũng có ý nghĩa “ca khúc độc quyền”, tức là chỉ có chủ sở hữu mới có quyền khai thác hoặc cho phép người khác khai thác ca khúc đó. Ngồi ra, có thể xảy ra trường hợp ca sĩ không sở hữu tác phẩm nhưng được cấp "độc quyền sử dụng" một trong các quyền sở hữu.

Thời gian gần đây, các thỏa thuận về việc cho thuê, bán hoặc cho thuê quyền tài sản đối với tác phẩm âm nhạc thường được các bên

<small>3 Chu Mạnh Quân, “Tại sao "ca khúc độc quyền" hay bị xâm phạm quyền?” </small>

<small>[ -khuc-cadoc-quyen-hay-bi-xam-pham-quyen-131667.html], truy cập này 7/12/2022 </small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

20

giao kết bằng “miệng” hoặc giấy tay sơ sài, không đáp ứng đầy đủ các yếu tố cơ bản của một hợp đồng chuyển nhượng quyền. phù hợp với quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ.

Có nhiều vấn đề trong việc xử lý vi phạm bản quyền trong môi trường kỹ thuật số. Điều này khơng có gì ngạc nhiên, bởi việc chống vi phạm bản quyền trong môi trường truyền thống ở Việt Nam vốn đã khó, chưa nói đến mơi trường kỹ thuật số. Thông thường, người sao chép tác phẩm khơng có bản quyền cần có nơi in ấn, vận chuyển và phân phối tác phẩm cho người mua thì trên mơi trường số họ chỉ cần một chiếc máy tính có kết nối Internet. Những tiến bộ nhanh chóng của khoa học, Internet và viễn thông đã giúp các đơn vị phạm tội dễ dàng hơn bao giờ hết. Ngồi ra, việc hack trên mơi trường mạng rất khó kiểm sốt, dễ tái phạm và phương thức xâm phạm rất đa dạng. Nội dung vi phạm có thể bị xóa nhưng ngay lập tức xuất hiện lại do tính chất đơn giản của việc đăng tải và chia sẻ tài nguyên trên Internet<small>4</small>.

<small>4 Nguyễn Đức Hùng, “Vấn nạn vi phạm bản quyền trên Internet: Lỗ hổng trong việc thực hiện quyền sao chép tác phẩm”, [ -pham-ban-quyen-tren-internet- -hong-trong-viec-thuc-hien-quyen-sao-chep-tac-vilopham1658023486.html], truy cập ngày 7/12/2022. </small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

21

CHƯƠNG 02: THỰ<b>C TIỄN PHÁP LU</b>ẬT ĐIỀ<b>U CHỈNH VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PH M ÂM NH C </b>Ẩ Ạ

<b>2.1. Pháp lu t hi</b>ậ ện hành quy đị<b>nh v b o h</b>ề ả <b>ộ quyền tác gi v i tác </b>ả ớ

<b>phẩm âm nh c </b>ạ

<b>2.1.1. Ch ủ thể ủ c a quy n tác gi trong tác ph m âm nh</b>ề ả ẩ <b>ạc </b>

Chủ thể của quyền tác giả đối với các tác phẩm âm nhạc là tác giả của các tác phẩm âm nhạc. Các chủ thể này có những quyền nhất định đối với tác phẩm âm nhạc khi tác phẩm đó đã được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định. Chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm có thể chính là nhạc sĩ, trong trường hợp khơng có hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả hoặc có thể là người khác trong một số trường hợp được chuyển nhượng quyền tác giả, thuê tác giả sáng tạo tác phẩm theo hợp đồng sáng tạo ...Quyền tác giả đối với tác phẩm âm <small>5</small>

nhạc được trao chủ yếu cho hai loại chủ thể bao gồm : tác giả tác <small>6</small>

phẩm (nhạc sĩ và người viết lời) và chủ sở hữu tác phẩm âm nhạc nếu tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm âm nhạc. Bên cạnh đó, đơi khi một số nội dung quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc cũng được chủ sở hữu quyền cho phép hoặc chuyển giao cho chủ thể khác trong quá trình khai thác quyền (nhóm chủ thể quyền); Nếu chủ thể là cá nhân thì có thể đóng vai trị là chủ sở hữu hoặc tác giả, hoặc cả hai. Cịn chủ thể là tổ chức thì có quyền tác giả với tư cách là chủ sở hữu.

Về khách thể của quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc là tác phẩm âm nhạc do tác giả sáng tạo ra bằng sự lao động trí tuệ của họ. Nếu như đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp là sáng chế, kiểu dáng cơng nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu hay tên thương mại và chỉ dẫn địa lý là những sản phẩm gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp thì đối tượng của quyền tác giả trong trường hợp này lại là tác

<small>5 2020, Lê Trọng Nguyễn Trường Đại học Trà Vinh, Luận văn tốt nghiệp, - “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc”, [ truy cập ngày 30/11/2022. </small>

<small>6 2021, Trần Phạm Hiền, Luận văn Thạc sĩ Luật Kinh tế, “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh”, tr.18 </small>

</div>

×