Tải bản đầy đủ (.pdf) (30 trang)

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ và đường lối kháng chiến của đảng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.04 MB, 30 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b>I: kháng chiến toàn quốc bùng nổ và đường lối kháng chiến của Đảng </b>

1: Kháng chiến toàn quốc bùng nổ...3

2: Đường lối kháng chiến của Đảng...7

II: Lãnh đạo, tổ chức cuộc kháng chiến từ năm 1947 – 1950 1. Tình hình chung...11

2. Công cuộc chuẩn bị kháng chiến lâu dài...12

3. Chỉ thị phá tan cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp(15/07/1947)...20

4. Chiến dịch biên giới Thu Đơng 1950...24

<b>BẢNG PHÂN CHIA CƠNG VIỆC ...28</b>

<b>Chủ đề:Đường lối kháng chiến toàn quốc của Đảngvà quá trình thực hiện từ năm 1946- 1950</b>

<small>1</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<i> </i>

<b>A.Hoàn cảnh lịch sử:B.Nội dung:</b>

<b>I. kháng chiến toàn quốc bùng nổ và đường lối kháng chiến của Đảng1. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ</b>

Sau bản Tạm ước 14-9-1946, thái độ hiếu chiến và dã tâm xâm lược của thực dân Pháp ngày càng lộ rõ. Tình hình chiến sự ở Việt Nam ngày càng căng thẳng do, nguy cơ một cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Pháp tăng dần. Đảng, Chính phủ, quân đội và nhân dân Việt Nam tiếp tục kiềm chế, kiên trì thực hiện chủ trương hịa hỗn và bày tỏ thiện chí hịa bình, thái độ nhân nhượng nhằm tìm kiếm con đường hịa bình bảo vệ, giữ gìn tồn vẹn nền độc lập, tự do của Việt Nam, đồng thời tìm mọi cố gắng cứu vãn mối quan hệ Việt-Pháp đang ngày càng xấu đi và ngăn chặn một cuộc chiến tranh nổ ra quá sớm và khơng cân sức với Pháp.

Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng nhiều biện pháp kiên trì thuyết phục, tìm mọi cách để duy trì mối quan hệ với phía Pháp. Nhiều lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện văn, thư từ cho Chính phủ Pháp, cho Thủ tướng Pháp song đều không được hồi đáp; con đường đấu tranh ngoại giao với Chính phủ Pháp và đại diện Pháp tại Hà Nội cũng đều khơng đưa đến kết quả tích cực vì ln vấp phải lập trường hiếu chiến và thái độ ngạo mạn, hợm hĩnh của phe chủ chiến trong Chính phủ và quân đội Pháp là chỉ “dùng biện pháp quân sự để giải quyết mối quan hệ Việt Pháp”). Chính phủ Pháp và Bộ chỉ huy quân đội Pháp ở Việt Nam đã bộc lộ rõ thái độ bội ước. Quân đội Pháp ở Việt Nam được bổ sung quân số, tăng cường bình định ở các tỉnh Nam Bộ; mở rộng phạm vi chiếm đóng, gây hấn, khiêu khích, gây xung đột quân sự, lấn chiếm nhiều vị trí ở nơi đóng qn thuộc các tỉnh Bắc Bộ Việt Nam; đồng thời dùng nhiều thủ đoạn xảo quyệt đặt lại nền thống trị ở Campuchia và Lào.

Cuối tháng 11-1946, thực dân Pháp mở cuộc tấn công vũ trang đánh chiếm Hải Phịng, Lạng Sơn, tiếp đó chiếm đóng trái phép ở Đà Nẵng, Hải Dương, tấn

<small>1</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<i> </i>

công vào các vùng tự do của ta ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ, hậu thuẫn cho lực lượng phản động xúc tiến thành lập cái gọi là “Chính phủ Cộng hòa Nam Kỳ” và triệu tập Hội nghị Liên bang Đông Dương... Đặc biệt nghiêm trọng là bước leo thang chiến tranh của thực dân Pháp trong các ngày 16 và 17-12-1946, quân đội Pháp ở Hà Nội chủ động tổ chức gây hấn với ta ở nhiều nơi, tấn cơng đánh chiếm trụ sở Bộ Tài chính, Bộ Giao thơng cơng chính. Ngày 17-12, chúng bắn đại bác gây ra vụ thảm sát đồng bào Hà Nội ở phố Yên Ninh và Hàng Bún. Ngày 18-12, đại diện Pháp ở Hà Nội đơn phương tuyên bố cắt đứt mọi liên hệ với Chính phủ Việt Nam, đưa liên tiếp 3 tối hậu thư địi phía Việt Nam phải giải giáp; phải phá bỏ công sự, chướng ngại vật trên đường phố Hà Nội, giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu, đòi độc quyền thực thi nhiệm vụ kiểm sốt, gìn giữ an ninh, trật tự của thành phố... Mọi cố gắng của Chính phủ Việt Nam và Hồ Chí Minh để cứu vãn tình thế chiến tranh qn sự đã không ngăn được thái độ hiếu chiến của đội quân xâm lược Pháp. Đến ngày 19-12-1946, những hoạt động ngoại giao, thiện chí hịa bình, hịa hỗn của Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã bị thực dân Pháp thẳng thừng chối bỏ và cự tuyệt; phía Pháp đã công nhiên thể hiện rõ lập trường xâm lược bằng vũ lực quân sự. m mưu đánh chiếm, thống trị nước ta một lần nữa của thực dân Pháp đã bộc lộ hồn tồn. Vì vậy, Đảng và nhân dân Việt Nam chỉ còn một sự lựa chọn duy nhất là phải cầm súng đứng lên chống lại thực dân Pháp xâm lược để bảo vệ nền độc lập non trẻ và chính quyền cách mạng; bảo vệ những thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám vừa giành được.

Với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nổ lệ”, ngày 18-12-1946, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng họp tại làng Vạn Phúc, Hà Đông (nay thuộc quận Hà Đông, thành phố Hà Nội) đã đánh giá mức độ nghiêm trọng của tình hình, kịp thời đề ra chủ trương đối phó và quyết định phát động toàn dân, toàn quốc nhất tề đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp. Tối ngày 19-12-1946, vào lúc 20 giờ, ở Hà Nội và tất cả các đô thị từ Bắc vĩ tuyến 16 trở ra, quân và dân ta đồng loạt nổ

<small>1</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<i> </i>

súng chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, khẳng định quyết tâm sắt đá của nhân dân ta quyết kháng chiến đến cùng để bảo vệ nền độc lập, tự do:

“Chúng ta muốn hịa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!

... Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta”.

Thuận lợi của nhân dân ta khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược là ta chiến đấu để bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc vả đánh địch trên đất nước mình nên có chính nghĩa, có "thiên thời, địa lợi, nhân hịa". Ta củng đã có sự chuẩn bị cần thiết về mọi mặt nên về lâu dài, ta sẽ có khả năng đánh thắng quân xâm lược. Trong khi đó, thực dân Pháp cũng có nhiều khó khăn về chính trị, kinh tế, quân sự ở trong nước và tại Đông Dương khơng dễ gì có thể khắc phục được ngay. Khó khăn của ta là tương quan lực lượng quân sự yếu hơn địch. Ta bị bao vây bốn phía, chưa được nước nào cơng nhận, giúp đỡ. Cịn qn Pháp lại có vũ khí tối tân, đã chiếm đóng được hai nước Campuchia, Lào và một số nơi ở Nam Bộ Việt Nam, có quân đội đứng chân trong các thành thị lớn ở miền Bắc.

Những đặc điểm của sự khởi đầu và các thuận lợi, khó khăn đó là cơ sở để Đảng xác định đường lối cho cuộc kháng chiến.

Tại Hà Nội, vào lúc 20 giờ 3 phút, pháo đài Láng bắn loạt đại bác đầu tiên vào thành Hà Nội, báo hiệu toàn quốc kháng chiến bắt đầu. Đèn điện trong thành

<small>1</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

<i> </i>

phố vụt tắt, các lực lượng vũ trang Vệ quốc đoàn, Tự vệ chiến đấu, Công an xung phong nhất loạt tấn công các vị trí đóng qn của Pháp trong thành phố. Cuộc chiến đấu diễn ra trên từng góc phố, căn nhà vơ cùng ác liệt, không cân sức giữa ta và địch. Cuộc chiến đấu ở mặt trận Hà Nội là quyết liệt nhất, diễn ra liên tục trong suốt 60 ngày đêm khói lửa. Nhiều trận đánh ác liệt, giằng co, quyết tử, một mất một còn giữa ta và Pháp ở nhà Bắc Bộ phủ; nhà Bưu điện Bờ Hồ; chợ Đồng Xuân; ga Hàng cỏ; sân bay Bạch Mai; ô Cầu Dền... Trong quá trình chiến đấu quân và dân Hà Nội đã nêu cao tinh thần chiến đấu bất khuất, kiên cường “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, chống trả quyết liệt và đánh tiêu hao nhiều sinh lực địch, bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não, lãnh đạo của Trung ương và nhân dân rút ra ngoại thành; hoàn thành nhiệm vụ giam chân địch trong thành phố, bước đầu làm thất bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp; bảo toàn lực lượng quân sự, phát triển lực lượng chiến đấu thành một Trung đoàn chỉnh quy mang tên “Trung đồn Thủ đơ” và đến ngày 17-2-1947 đã chủ động rút lui ra ngoài thành phố an toàn để củng cố, bảo toàn và phát triển lực lượng kháng chiến lâu dài...

Ở các địa phương khác, như Đà Nẵng, Huế, Vinh, Nam Định, Bắc Ninh, Bắc Giang quân và dân ta nhanh chóng hưởng ứng lời kêu gọi tồn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng loạt nổ súng tấn cơng vào các vị trí đóng qn của địch trong các đô thị. Vừa tấn công vừa bao vây, ngăn chặn dịch trên các tuyến giao thông, đánh phá các kho tàng hậu cần và cơ sở hạ tầng chiến tranh của địch; kìm giữ chân địch khơng cho chúng mở rộng địa bàn chiếm đóng ra các vùng xung quanh thành phố, thị xã, thị trấn. Ta tiếp tục phát triển lực lượng, huy động, di chuyển nhân tài, vật lực lên các khu căn cứ địa, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Những thắng lợi của quân và dân ta trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến

<b> 2.Đường lối kháng chiến của Đảng</b>

2.1: Quá trình hình thành đường lối kháng chiến

<small>1</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

<i> </i>

Đường đối kháng chiến chống thực dân Pháp được Đảng hình thành, bổ sung, phát triển qua thực tiễn cách mạng Việt Nam trong những năm 1945 đến 1947. Nội dung cơ bản của đường lối đó được thể hiện trung nhiểu văn kiện quan trọng của Đăng, lời kêu gọi, bải viết, chỉ thi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh, trong đó tập trung ở các văn bản: Chỉ thị kháng chiến kiến quốc (25-1945); Chỉ thị sinh thành vi chủ trương (3-3-1946); Chỉ thị hóa để tiến (9-3-1946): Chỉ thị sần dần khẳng chiến (12-12-1946); Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-12-1946: Tác phẩm kháng chiếm nhất định thắng lợi của đảng chi Trường Chinh (8-1947)..

- Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ nhất (10-1946) và Chỉ thị “Công việc khẩn cấp bây giờ (11-1946):

- Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ nhất đề ra những chủ trương, biện pháp cụ thể về tư tưởng, tổ chức để quân và dân có thể sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới với một kẻ thù nguy hiểm, không từ bỏ dã tâm xâm lược đất nước ta. - Chỉ thị “Công việc khẩn cấp bây giờ nêu lên những vấn đề có tầm chiến lược và toàn cục cần phải tiến hành khi bước vào cuộc kháng chiến, đồng thời khẳng định niềm tin sắt đi vắc thắng lợi cuối cùng.

- Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” (12-12-1946) của Ban thường vụ Trung ương Đảng và “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (19-12-1946) của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

+ Bản Chỉ thị “Tồn dân kháng chiến” làm rõ tính chất, mục đích của cuộc kháng chiến, các chính sách của cuộc kháng chiến như đoàn kết toàn dân, xây dựng thực lực về mọi mặt, đoàn kết quốc tế (cả với nhân dân Pháp để chống bọn thực dân Pháp phân động, đồng thời cịn dự đốn về các giai đoạn phát triển của cuộc kháng chiến, về chương trình kháng chiến, về cơ quan lãnh đạo kháng chiến, về tuyên truyền trong kháng chiến ...

+ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” là lời hịch của non sơng, đất nước, khơi dậy tình u q hương, đất nước, lịng tự hào dân tộc, ý chí quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Đó chính là Cương lĩnh kháng chiến khái quát ở trình độ cao,

<small>1</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<i> </i>

chứa đựng tư tưởng và đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

. Tác phẩm “Kháng chiếc nhất định thắng lợi” (1947) của đồng chí Trường Chinh tiếp tục làm sáng tỏ thêm những vấn đề thuộc về đường lối kháng chiến như: Tính chất, mục đích kháng chiến, kháng chiến tồn dân, tồn diện, dựa vào sức mình là chính…

2.2: Nội dung đường lối kháng chiến

-Tính chất của đường lối kháng chiến: Là cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự do, độc lập, dân chủ và hịa bình, cuộc kháng chiến có tính chất dân tộc giải phóng và dân chủ mới, là cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân VN.

- Phương châm của đường lối kháng chiến: tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực hiện kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.

- Kháng chiến toàn dân là đem toàn bộ sức dân, tài dân, lực dân, động viên tồn dân, đồn kết tồn dân tộc tích cực tham gia cuộc kháng chiến. Phải xây dựng sự đồng thuận, nhất trí của cả nước, đánh địch ở mọi nơi, mọi lúc, “mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xã là một pháo đài, mỗi phổ là một mặt trận”. Trong đó Quân đội nhân dân và các lực lượng vũ trang là lực lượng làm nịng cốt cho tồn dân đánh giặc.

- Kháng chiến toàn diện là tư tưởng chỉ đạo của Đảng ngay từ ngày đầu tháng chiến. Cuộc chiến tranh về tổng thể là một cuộc đọ sức, đọ tài toàn diện giữa các bên tham chiến, không phải chỉ trên lĩnh vực quân sự, vũ trang. Vì vậy, cuộc kháng chiến của ta được Đảng và Hồ Chí Minh xác định phải đánh địch trên mọi lĩnh vực, mọi mặt trận không chỉ đánh địch bằng quân sự mà cả về chính trị, kinh tế, văn hóa tư tưởng, ngoại giao, trong đó mặt trận quân sự, đấu tranh vũ trang giữ vai trò tiên phong, mũi nhọn, mang tính quyết định. Phải động

<small>1</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

<i> </i>

viên, phát huy cho được mọi tiềm năng, sức mạnh của dân tộc, mọi nguồn lực vật chất, tinh thần trong nhân dân để phục vụ kháng chiến và chiến thắng. *) Về chính trị:

Thực hiện đồn kết tồn dân, tăng cường xây dựng Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân; đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hoà bình.

*) Về qn sự: Thực hiện vũ trang tồn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tiêu diệt địch, giải phóng nhân dân và đất đai, thực hiện du kích chiến tiến lên vận động chiến, đánh chính quy, là "Triệt để dùng du kích, vận động chiến. Bảo toàn thực lực, kháng chiến lâu đài... Vừa đánh vừa võ trang thêm; vừa đánh vừa đào tạo thêm cán bộ".

*) Chính sách đối nội phải đúng đắn:

+ Đồn kết tồn dân chống chính sách lừa bịp, chia rẽ của địch

+ Phải củng cố Nhà nước Cộng hoà dân chủ, tăng cường bộ máy kháng chiến, thống nhất lãnh đạo, quân sự phụ thuộc chính trị, loại trừ cơ hội, quan liêu, quân phiệt, biệt phái, kiên quyết trấn áp bọn phản chách mạng

+ Củng cố hậu phương, cô lập kẻ thù

+ Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục chính trị, xây dựng niềm tin, chống bị quan, chủ quan khinh địch, thoả hiệp, trông chờ sự trung gian hồ giải của nước thứ 3 *) Chính sách đối ngoại phải khôn khéo, phù hợp:

+ Về cơ bản là cô lập kẻ thù, lôi kéo thêm bè bạn

+ Trong điều kiện bị bao vây 4 phía phải làm cho nhân dân Pháp và các dân tộc thuộc địa Pháp ủng hộ ta. Các lực lượng tiến bộ, hồ bình, dân chủ bênh vực ta + Để làm thất bại âm mưu xuyên tạc, lừa bịp của thực dân Pháp phải có chính

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

<i> </i>

- Phá kinh tế địch: phá máy móc, kho tàng, đường sá, thực hiện vườn khơng nhà trống, khơng cho địch cướp bóc, vơ vét

- Xây dựng kinh tế tạo nhằm thực hiện 2 nguyên tắc: vừa kháng chiến vừa kiến quốc, tự cung, tự cấp mọi mặt

- Ban hành các chính sách: tăng gia sản xuất, tăng thu giảm chi, tiết kiệm, giảm dàn sự gánh vác của nhân dân, củng cố tiền tệ, giữ vững giá cả...

*) Kháng chiến về văn hóa nhằm đạt 2 nhiệm vụ

- Đánh đổ văn hóa ngu dân, văn hóa xâm lược của thực dân Pháp

- Xây dựng nền văn hóa dân chủ mới theo nguyên tắc dân tộc, khoa học đại chúng.

- Kháng chiến lâu dài là tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng trong bối cảnh so sánh lực lượng ban đầu giữa ta và địch quá chênh lệch, không cân sức. Trường kỷ kháng chiến là một quá trình vừa đánh tiêu hao lực lượng địch vừa xây dựng, phát triển lực lượng ta, từng bước làm chuyển biến so sánh lực lượng trên chiến trường có lợi cho ta. Thời gian được xác định là lực lượng vật chất để chuyển hóa nhỏ thành lớn. yếu thành mạnh. Đây là một quy luật cơ bản của cuộc chiến tranh nhân dân lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn trong lịch sử chiến tranh của dân tộc Việt Nam. Kháng chiến lâu dài nhưng không phải là kéo dài vô thời hạn mà phải luôn tranh thủ, chớp thời cơ thúc đẩy cuộc kháng chiến có bước tiến nhảy vọt về chất, thắng từng bước để đi đến thắng lợi cuối cùng. Tư tưởng chỉ đạo này đánh dấu sự hình thành, bước đầu phát triển tư duy lý luận quân sự mới trong cách mạng dân tộc dân chủ và nghệ thuật chiến tranh nhân dân của Đảng ta.

- Kháng chiến dựa vào sức mình là chính, là sự kế thừa tư tưởng chiến lược trong chỉ đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giành chính quyền “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” của Hồ Chí Minh. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta nổ ra trong điều kiện quốc tế bất lợi, phe đế quốc chủ nghĩa hung hăng hiếu chiến; Việt Nam nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc, chưa có nước nào giúp đỡ ta. Con đường duy nhất đúng đắn lúc bấy giờ là phải tự lập, tự

<small>1</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

<i> </i>

cường, tự cấp, tự túc về mọi mặt; phải dựa vào nguồn nội lực của dân tộc, phát huy nguồn sức mạnh vật chất, tinh thần vốn của trong nhân dân ta làm chỗ dựa chủ yếu, nguồn lực chủ yếu của cuộc chiến tranh. Đồng thời, trong kháng chiến không để bị bao vây, cô lập mà cần thiết phải tìm được các nguồn lực ủng hộ, giúp đỡ cả tinh thần và vật chất của quốc tế, trước hết là các nước các nước láng giềng, phe xã hội chủ nghĩa, các lực lượng tiến bộ và phát huy cao độ ngoại lực khi có điều kiện. Trong đó tự lực, độc lập về đường lối kháng chiến là yếu tố quan trọng hàng đầu, phát huy tinh thần bất khuất, lòng yêu nước thiết tha, ý thức dân tộc tự cường, tự quyết, tự chủ của nhân dân Việt Nam là nhân tố quyết định.

Đường lối kháng chiến của Đảng được hình thành trong những năm đầu của cuộc chiến tranh chống Pháp là hoàn toàn đúng đắn, trở thành ngọn cờ dẫn đường, chỉ lối, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tiến lên. Đường lối đó đã huy động và phát huy cao nhất mọi nguồn lực, mọi nguồn sức mạnh của toàn dân tộc để đánh thắng kẻ thù xâm lược, tranh thủ và phát huy cao độ hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế đối với cuộc kháng chiến. Đường lối kháng chiến của Đảng được nhân dân ủng hộ, hưởng ứng trong suốt quá trình kháng chiến và trở thành một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

<b> </b>

<b>II. Lãnh đạo, tổ chức cuộc kháng chiến từ năm 1947-1950 1.Tình hình chung</b>

<b> -Năm 1947: Sau chủ trương toàn quốc kháng chiến năm 1946 của Đảng, trên</b>

khắp các chiến trường Việt Nam thực dân Pháp đã rơi vào tình thế lúng túng, nhưng với bản chất ngoan cố, hiếu chiến và đầy tham vọng, thực dân Pháp đưa ra kế hoạch nhằm mở rộng chiến tranh, cuộc tiến công lên Việt Bắc là một kế hoạch nằm trong chiến lược đó. Mục tiêu của cuộc tiến cơng là nhằm loại trừ bộ đội chủ lực ra khỏi vòng kháng chiến, lập chính phủ bù nhìn tồn quốc, kết thúc chiến tranh và đặt lại ách thống trị lên toàn bộ nước ta, khóa chặt biên giới Việt

<small>1</small>

</div>

×