Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (159.61 KB, 16 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI</b>
8. Bùi Thị Việt Linh
9. Nguyễn Thị Thu Trang
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">Mục lục
1. Khái niệm văn hóa dân gian 1.1. Thuật ngữ văn hóa
1.2. Thuật ngữ dân gian 1.3. Văn hóa dân gian
2. Đặc trưng của văn hóa dân gian
3.2. Đặc điểm địa hình văn hóa khu vực 4. Những thành tố của văn hóa dân gian 4.1. Nghệ thuật ngơn từ dân gian
4.2. Nghệ thuật tạo hình dân gian 4.3. Nghệ thuật biểu diễn dân gian 4.4. Một số thành tố khác
5. Mối quan hệ của các thành tố 5.1. Giữa các thành tố với nhau
5.2. Giữa các thành tố với tâm thức và ứng xử dân gian
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">1. Khái niệm văn hóa dân gian
Để hiểu rõ nội hàm khái niệm văn hóa dân gian, chúng tơi sẽ hệ thống lại những đĩnh nghĩa về văn hóa và dân gian.
1.1. Khái niệm văn hóa
GS. Trần Ngọc Thêm: “Văn hoá là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong thực tiễn, trong sự tương tác của con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội”.
Nghị quyết TW5 khóa 8, Đảng quan niệm: Văn hoá bao gồm các lĩnh vực: tư tưởng, đạo đức, lối sống, giáo dục khoa học, văn học nghệ thuật, thơng tin đại chúng, giao lưu văn hố quốc tế, thể chế và thiết chế văn hoá …Văn hoá là nền tảng tinh thần, là mục tiêu, động lực thúc đẩy cho nền kinh tế phát triển.
Bách khoa toàn thư văn hóa Nga: “Văn hóa là tồn bộ những gì nhân tạo, do con người tạo ra đối lập với những gì thiên tạo, tự nhiên”
Trung Quốc: Văn trị giáo hóa ( Khổng Tử - văn hóa gắn với giáo dục)
Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loiaf người, mới sáng tạo ra và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hojcm nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn mặc và phương thức sử dụng. toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.”
Bên cạnh đó là những cách hiểu khác về văn hóa:
Văn hóa là hoạt động sáng tạo của con người (văn hóa gắn với con người, đối lập với những gì có sẵn trong tự nhiên)
Văn hóa là những giá trị mà con người tạo ra (gắn liền với những chuẩn mực, với cái đẹp). Văn hóa là phương thức ứng xử của con người với môi trường sống. Văn hóa là tri thức, là trình độ học vấn. Văn hóa là những gì người ta làm, người ta nghĩ, người ta có với tư cách là thành viên của xã hội
Văn hóa là tồn bộ giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong q trình con người tương tác với mơi trường tự nhiên và mơi trường xã hội (q trình sống, sinh tồn, phát triển).
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">Văn hóa Việt Nam là giá trị vật chất và tinh thần do người Việt Nam (cộng đồng các dân tộc Việt Nam) tạo ra trong quá trình hình thành và phát triển…
1.2. Thuật ngữ dân gian
Văn hóa dân gian là cội nguồn của mọi nền văn hóa trên thế giới, là cơ sở rất quan trọng của văn hóa dân tộc, chi phối đời sống con người mọi phương diện. do vậy không thể hiểu được bản sắc của một dân tộc nếu như khơng hiểu văn hóa dân gian của dân tộc đó.
Thuật ngữ dân gian có thể hiểu như sau:
Chữ “dân” là người dân, nhân dân, hội đồng nhân dân, công dân, quần chúng, dân trị,... Dân xuấ hiện ở những thời điểm khác nhau ( xưa, nay, mai sau…) trong những xã hội khác nhau.
“dân” trong dân gian được hiểu là quầ chúng nhân dân lao động đa dạng về ngành nghề, vị thế xã hội, trình độ nhận thức, tư duy, các sản phẩm sáng tạo. Chữ “gian” có nhiều nghĩa khác nhau: gian tà, gian tham, gian nan, dân gian, trung gian…
Gian trong “dân gian” là khoảng, khu vực lớn, vùng (không gian).
Dân gian có nghĩa là ”trong dân”: trong khu vực, trong địa hạt của dân, trong đời sống của dân – đời sống hàng ngày, là thực tiễn, những gì diễn ra xung quanh cuộc sống của người dân.
1.3. Văn hóa dân gian
Văn hóa dân gian ( foklore) được thể hiện ở mọi lĩnh vực, mọi không gian, mọi thời điểm. có cuộc sống, có người dân thì ở đó có văn hóa dân gian. Tìm hiểu về văn hóa dân gian là tiếp cận với cuộc sống của dân tộc đó, đi sâu vào cuộc sống của dân tộc đó.
, văn hóa dân gian là sáng tạo của dân, từ dân và phục vụ cho cuộc sống của dân. VHDG là bộ phận quan trọng cấu thành văn hóa dân tộc, nó là kho tri thức, trí tuệ vơ giá của nhân dân, là thứ văn hóa được tồn tại, lưu giữ và thực hành ở trong dân (là văn hóa của dân, từ dân mà ra, và phục vụ cuộc sống của dân.
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">Quá trình hình thành VHDG: thực tiễn - sáng tạo – sản phẩm – phục vụ/chi phối – thực tiễn.
VHDG là bộ phận văn hóa phi văn bản, phi chính thống do quần chúng nhân dân lao động sáng tạo, lưu giữ và sử dung. Lực lượng sáng tác chính là dân, các tác phẩm phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Các sản phẩm văn hóa dân gian chi phối đời sống của người dân.
2. Đặc trưng văn hóa dân gian 2.1. Tính ngun hợp
Tính nguyên hợp là đặc trưng đầu tiên, cơ bản nhất của các hiện tượng văn hóa dân gian văn hóa dân gian.
Khi làm cơng việc sáng tạo, dân gian khơng phân biệt rạch rịi các hình thức như văn, nhạc, múa, diễn… mà họ kết hợp sử dụng tất cả các hình thức đó. Họ có sẵn những phương tiện ngơn từ như hình ảnh, âm thanh, động tác,… và sử dụng tất cả các hình thức đó một tổng hóa, tỉ lệ có thể cao thấp khác nhau, nhưng không chuyên hẳn một phưng tiện hay biện pháp nào.
Buổi khởi đầu đó con người vừa là nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, họa sĩ,… tất cả những khả năng thể hiện, cảm thơng, phản ánh đó cùng một lúc hòa với nhau (hợp) trong giây phút khởi đầu ( nguyên). Vì thế người ta gọi là nguyên hợp. Công thức để minh họa sự tổng hợp này là:
- Môi trường ( viết tắt là C) : diễn ra ở đâu
- Lịch sử (viết tắt là H) : có quan hệ gì với thời điểm lịch sử nào - Hành động (viết tắt là A) : có những cơng việc gì
- Màu sắc( viết tắt là P) : có màu cờ quạt, quần áo, cảnh trí
- Sự phân vai( vi t tắt là R) : có các vai diễn trong kịch, trong trị, trong diễn xướng
- Những tình tiết (viết tắt là I): có nhiều chi tiết về sự việc hoặc tính cách - Sự hóa trang ( viết tắt là M) : có sự tơ điểm, dùng mặt nạ, khí giới
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">- Những ngơn từ ( viết tắt là L): có lời lẽ, ngơn từ
Gộp cả 9 yếu tố lại, ta có chữ CHAPRIMOL. Cái tổng hòa chaprimol này phản ánh rất đầy đủ tính ngun hợp của căn hóa dân gian.
2.2. Tính dị bản
VHDG có tính đa tác giả nên dẫn đến tính dị bản cao. Ai cũng cho lời ca, hát, kể của mình là đúng và khó xác định tính chân xác của tác phẩm dân gian đó do yếu tố lan truyền văn hóa qua 3 cấp độ:
- Dị bản cấu trúc: cốt truyện, tích trị, kết cấu xây dựng khác nhau dù cùng nội dung.
- Dị bản địa phương: địa phương hóa theo phong tục tập quán riêng. - Dị bản nghệ nhân: tài hoa của từng nghệ nhân khác nhau
2.3. Tính diễn xướng
Diễn xướng phơ diễn vẻ đẹp dân gian qua cả nghệ thuật ngôn từ, âm nhạc và vũ đạo trong môi trường – không gian diễn xướng.
Diễn xướng là một đặc trưng quan trọng góp phần định hình tồn vẹn tác phẩm dân gian. Diễn xướng trả văn hóa dân gian về với mơi trường nảy sinh, về với hình hài khởi đầu và về với cái duyên của nó. Lời nói, khác với chữ viết, có một bộ phận ý nghĩa được tạo sinh bằng ngữ điệu. Diễn xướng phô diễn vẻ đẹp dân gian qua cả nghệ thuật ngôn từ, âm nhạc và vũ đạo trong môi trường – không gian diễn xướng
Thuật ngữ “diễn xướng” thể hiện được đặc trưng của văn họá dân gian ở chỗ cộng gộp được mối liên hệ giữa người diễn xướng với môi trường và các cá nhân tham gia vào không gian diễn xướng.
Diễn xướng đồng thời là sự thể hiện đặc trưng nguyên hợp. Diễn xướng phô diễn vẻ đẹp dân gian qua cả nghệ thuật ngôn từ, âm nhạc và vũ đạo trong môi trường – không gian diễn xướng. Tính diễn xướng của văn học dân gian thể hiện khác nhau ở từng thể loại. Tùy vào thể loại mà phương thức diễn xướng tập trung vào lời nói, trình bày sáng tác dân gian bằng động tác, lời lẽ, âm thanh, nhịp điệu
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">Còn nghệ thuật diễn xướng do người Việt sáng tạo nên, phù hợp với điều kiện, hồn cảnh, mơi trường sống. Các trò diễn dân gian, cách thức tổ chức hội làng, đồng dao trẻ em… xuất phát từ quan niệm cộng sinh, cộng cảm, nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần. Diễn xướng là sự liên kết, gắn bó tất cả mọi người tham gia, hình thành nên cộng đồng bền vững với ý thức cùng chung sống. Như vậy, diễn xướng mang tính ngun hợp khơng phân tách, gồm hai thành tố cơ bản đặc hữu cùng tham gia theo dẫn giải:
- Diễn: Hành động xảy ra - Xướng: Hát lên, ca lên.
Với nội hàm trên, khái niệm diễn xướng có nghĩa sau:
Diễn xướng là tổng thể các phương thức nghệ thuật, cùng thể hiện đồng nhất giữa ca hát và hành động của con người theo chiều thẩm mỹ
Ví dụ về tính diễn xướng qua khơng gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên: người biểu diễn là thường là nam giới. Cách thức diễn xướng là: dùng cườm tay hoặc nắm tay rồi đánh vào núm của cồng, chiêng. Hoặc trình diễn kết hợp với múa theo vịng trịn.
Dàn chiêng thường có 13 đến 15 chiêc, mỗi người phụ trách một âm trong một dàn nhạc. Cồng chiêng được biểu diễn trong nhiều dịp: như chiêng trong nhà mồ: u buồn, ảm đạm; chiêng mùa gặt: rộn ràng, tươi vui. Không gian diễn xướng cồng chiêng thường ở nhà sàn, nhà rơng, nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng,…
2.4. Tính nghệ thuật
Văn hóa dân gian sử dụng phương pháp nghệ thuật: văn hóa dân gian phản ánh cuộc sống nhưng không qua sao chép mà thông qua các biểu tượng (lời ru, điệu hát, giao duyên)
Ví dụ về tính nghệ thuật qua nghệ thuật tạo hình là:
- Chất liệu để thể hiện tính nghệ thuật:chủ yếu lấy từ thực vật(tranh , tre, gỗ, sành sứ)
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">- Mơ típ thể hiện: tất cả các sự vạt xung quanh con người trở thành các yếu tố đưa lên hội họa trong các sản phẩm: cây cỏ, hoa lá, động vật(trâu, gà, lợn),các loại các dưới nước….
- Màu sắc: sử dụng từ nguồn gốc thực vật
3. Những vấn đề văn hóa xã hội ảnh hưởng đến văn hóa dân gian 3.1. Đặc điểm địa lý
Việt Nam là một quốc gia nằm ở rìa phía đơng bán đảo Đông Dương, trung tâm khu vực Đông Nam Á. Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa trung bình trong năm khoảng trên 2.000mm (cá biệt có nơi như vườn quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên) đạt tới 7.977mm), vào loại cao nhất thế giới. Sự đa dạng của môi trường sinh thái, điều kiện tự nhiên là yếu tố góp phần tạo nên sự đa dạng trong văn hóa dân gian.
Có thể nói đặc trưng nước chính là kết quả tổng thể của những đặc điểm về địa hình, địa lý cũng như khí hậu. Sông nước đã để lại dấu ấn rất quan trọng trong tinh thần văn hóa khu vực này. Đây là một hằng số địa lí quan trọng, chính nó tạo nên nét độc đáo của nền văn hóa nơng nghiệp lúa nước. Ta có thể bắt gặp dấu ấn sơng nước trong nhiều thành tố của văn hóa dân gian. Như trong nghệ thuật ngôn từ dân gian, ta dễ dàng nhận thấy những làn điệu hò, vè ca bên bờ sơng; hay khơng khó bắt gặp tính sơng nước trong các bài ca dao, tục ngữ như: - Mênh mơng sóng nước tăm tăm
Ai về Châu Đốc ghé thăm làng bè - Qua sông anh đứng anh chờ
Qua cầu anh đứng ngẩn ngơ vì cầu
Yếu tố nước mang tính chất phổ quát, ta có thể bắt gặp yếu tố này trong nghệ thuật biểu diễn dân gian như múa rối nước.
3.2. Đặc điểm loại hình văn hóa khu vực
Việt Nam thuộc văn hóa nơng nghiệp phương đơng (văn hóa trọng tĩnh): nằm trong vùng văn hóa phương Đơng, văn hóa nơng nghiệp, ứng xử với mơi trường tự nhiên, sống phụ thuộc vào tự nhiên. Những yếu tố này ảnh hưởng lớn đến các thành tốvăn hóa dân gian như các phong tục dân gian về thờ cúng các vị thần tự
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">nhiên, các lễ hội dân gian cầu mùa màng tốt tươi, các tri thức dân gian về mùa vụ, canh tác cây trồng,…
Văn hóa Việt Nam được hình thành trên nền khơng gian của văn hóa khu vực Đơng Nam Á. Tuy có sự giao lưu và gắn bó mật thiết với văn hóa trung hoa nhưng trong cội nguồn thì khơng gian văn hóa Việt Nam được hình thành trên nền văn hóa Đơng Nam Á. Văn hóa Việt Nam là nơi hội tụ đầy đủ nhất của văn hóa khu vực. Giáo sư Đinh Gia Khánh gọi “Việt Nam là một Đông Nam Á thu nhỏ”.
4. Những thành tố của văn hóa dân gian 4.1. Nghệ thuật ngơn từ dân gian
Văn hóa dân gian chính là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ truyền miệng do con người sáng tạo ra trong khi tham gia các sinh hoạt tập thể nhằm biểu đạt, ghi lại những tri thức, kinh nghiệm, tư tưởng, tình cảm về cuộc sống xã hội và thiên nhiên, vũ trụ.
Trong kho tàng văn hóa dân gian thành tố này chiếm vị trí lớn nhất, có diện rộng được ứng dụng thuận lợi trong các bình diện sinh hoạt. Nghệ thuật ngơn từ dân gian gồm hai phạm trù là văn học và ngơn ngữ và thường vận dụng các loại hình tự sự, trữ tình để thể hiện. Từng thể loại trong những phạm trù ấy đều dồi dào khối lượng và phong phú nội dung, có thể dựa theo cách gọi tên quen thuộc mà chia ra:
- Sáng tác dân gian văn xi: gồm có thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngơn truyện cười,..
- Sáng tác dân gian văn vần gồm có trường ca, truyện thơ, ca dao, đồng,…
Ở phạm trù ngơn ngữ có nhiều thể loại đa dạng: tục ngữ, phương ngơn, thành ngữ có thể quy vào một nhóm. Nhóm kia là những khẩu ngữ, tiếng lóng.
Nghệ thuật ngơn từ dân gian tồn tại có dạng: - Tồn tại ngầm ẩn (trí nhớ con người)
- Tồn tại theo hình thức diễn xướng - Cố định (Tác phẩm dân gian)
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">4.2. Nghệ thuật tạo hình dân gian
Nghệ thuật tạo hình gắn chặt với mơi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Con người sử dụng các nguyên liệu , vật liệu có sẵn trong tự nhiên nơi con người sinh sống để tạo ra các vật phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người (ăn, mặc, ở, đi lại, vui chơi giải trí..), lưu lại thơng qua vật thể (chùa, miếu, đền, đình, nhà ở, vật dụng..) thể hiện tính ích dũng nâng lên thành thẩm mỹ. Môi trường xã hội: làng quê, các nghề truyền thống ra đời; đan lát, dệt vải, điêu khắc, chạm trổ..làng nghề truyền thống ra đời.
Nghệ thuật tạo hình dân gian là những tác phẩm mỹ thuật dân gian, ra đời vì mục đích sử dụng thực tế, để thỏa mãn những nhu cầu trong sinh hoạt bình thường của người dân hay hoạt động tơn giáo tín ngưỡng.
Nghệ thuật tạo hình rất phong phú đa dạng có nhiều loại hình: Kiến trúc dân gian:
- Gắn chặt với mơi trường tự nhiên phù hợp với hồn cảnh kinh tế-xã hội:dân chúng trong xã hội cổ xưa biết sử dụng các vật liệutrong tự nhiên(tranh, tre, nứa..) để xây dựng những kiến trúc dângian: nhà ở, kiến trúc công cộng..
- Kiến trúc nhà ở dân gian: ..Không gian: cao ráo, thống mát, xung quanh làng có gị đồi bao quanh,mặt chồi phía trước....Hướng,phong thủy: cao ráo, xung quanh có bờ tre, rặng dâm bụt.. âm dương hài hòa làm ăn mới phát đạt.
- Kiến trúc công cộng:cầu, quán liếng,miếu đình,chùa.. Hội họa dân gian:
- Hình vẽ,điêu khắc trên trống đồng, nhà ở và các cơng trình cơng cộng dân gian như đình, chàu, miếu..
- Các sản phẩm thủ cơng mỹ nghệ, nghề thủ công. - Tranh dân gian:Hàng Trống, làng Sình, Đơng Hồ.
Điêu khắc dân gian: chạm khắc, sơn khảm, tạo đúc. 4.3. Nghệ thuật biểu diễn dân gian
Nghệ thuật biểu diễn dân gian là loại hình sáng tác văn học làm lay động tư tưởng và cảm xúc của con người (VD: điện ảnh, âm nhạc, hội hoạ...), những kĩ năng trong cuộc sống đạt đến mức độ chuyên nghiệp (nghệ thuật nấu ăn,…)
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">Nghệ thuật dân gian gồm 6 loại hình: âm nhạc, điện ảnh, mỹ thuật, sân khấu, văn chương, kiến trúc.
Đặc điểm:
- Dựa vào vai trị tính nghệ thuật thẩm mỹ của con người thông qua diễn xướng con người(lời ca, điệu múa) vì thé cho nên tác phẩm nghệ thuật lưu lại cho con người thơng qua trí nhớ.
- Gắn chặt với môi trường xã hội: khi nào cũng có 2 bộ phận gắn chặt với nhau: người thể hiện nghệ thuật biểu diễn và người thưởng thức
- Khơng gian thể hiện đa dạng: gia đình(mẹ hát ru, bà kể chuyện cháu nghe..), đền, đặc biệt là đình, mang tính chất tự nhiên(bờ sơng, giếng làng), sân khấu dân gian(chèo, tuồng, múa rối nước)=>phong phú=>tính giải trí rất cao
-Nghệ thuật biểu diễn thường được thể hiện vào lúc nơng nhàn(trăng thanh gió mát, khơng khí phù hợp..kết thúc vụ mùa, tết Ngun Đán, hội làng).Ngồi ra, cịn tổ chức vào các dịp lao động sản xuất:hò chèo lưới.. trong các hình thức tín ngưỡng.
- Nghệ thuật dân gian bắt nguồn từ và phản ánh đời sống văn hóa của một cộng đồng. Chúng bao gồm cơ thể của văn hóa biểu cảm gắn liền với các lĩnh vực văn hóa dân gian và di sản văn hóa.
- Nghệ thuật dân gian hữu hình bao gồm các đối tượng trong lịch sử được chế tác và sử dụng trong một cộng đồng truyền thống.
- Nghệ thuật dân gian phi vật thể bao gồm các hình thức như âm nhạc, khiêu vũ và cấu trúc kể chuyện.
Nghệ thuật phục vụ cuộc sống dân gian. Những truyền thống nghệ thuật quan trọng và không ngừng hồi sinh và tạo các giá trị, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thường là trong gia đình và cộng đồng, thơng qua trình diễn, trị chuyện và thực hành
4.4. Một số thành tố khác
Phong tục dân gian là những sinh hoạt cụ thể gắn bó với phong tục rõ ràng như là chuyện kiêng kỵ trong tín ngưỡng, những chuyện về nếp sống sinh hoạt tinh thần vật chất, sinh hoạt tâm linh,…
</div>