Tải bản đầy đủ (.docx) (25 trang)

Trình bày các vấn đề về vòng đàm phán Doha. Việt Nam tham gia vào WTO thì có thể vận dụng những kết quả nào từ vòng đàm phán Doha

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (454.4 KB, 25 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO</b>

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN</b>

…..0O0…..

<b> BÀI TẬP NHĨM </b>

<b>Trình bày các vấn đề về vịng đàm phán Doha. Việt Namtham gia vào WTO thì có thể vận dụng những kết quả nào</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

e, Thuận lợi hóa thương mại 10

f, Thương mại và môi trường 11

g, Thương mại phát triển 11

h, Đối xử đặc biệt và khác biệt (S&D) 11

i, Các vấn đề Singapore 11 <i>3.Các diễn biến sau đó 12</i>

<b>II.Phần 2: Sự vận dụng của Việt Nam từ những kết quả Vòng 14</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>A. MỞ ĐẦU</b>

<b>1. Lời cảm ơn</b>

Lời đầu tiên, nhóm 4 chúng em xin chân thành cảm ơn Th.S Lê Tuấn Anh đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn chúng em trong suốt thời gian học vừa qua. Nhờ vào sự chỉ bảo cùng với những lời khuyên của thầy, chúng em đã vượt qua những khó khăn để cùng nhau hồn thành bài tập này.

<i>Bài tập nhóm về đề tài: “Trình bày các vấn đề về vòng đàm phán Doha. Việt Nam</i>

<i>tham gia vào WTO thì có thể vận dụng những kết quả nào từ vòng đàm phán Doha”</i>

thuộc học phần “Hội nhập kinh tế quốc tế” là kết quả của quá trình học tập, tiếp thu kiến thức tại trường, lớp và cả những tìm tịi, nghiên cứu riêng của các thành viên trong nhóm và sự chỉ dạy tận tình của các q thầy, cơ thuộc tổ bộ mơn nói riêng và thầy Lê Tuấn Anh - người đã trực tiếp hướng dẫn chúng em trong môn học này. Nhưng sau tất cả, chúng em nhận thức rằng với lượng kiến thức và kinh nghiệm ít ỏi của bản thân, chắc chắn bài viết sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót. Chúng em kính mong thầy thơng cảm và góp ý để nhóm chúng em ngày càng hồn thiện hơn.

<b>2. Tính cấp thiết của đề tài</b>

Vịng đàm phán Doha là một vịng đàm phán tồn diện và quan trọng của WTO, nhằm mục tiêu giảm thiểu các rào cản thương mại, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, và tăng cường sự hội nhập và phát triển của các nước đang phát triển.

Việt Nam là một nước đang phát triển, có nền kinh tế nơng nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong GDP và xuất khẩu. Việt Nam cũng là một trong những nước có lợi thế cạnh tranh cao trong lĩnh vực hàng công nghiệp và dịch vụ. Do đó, việc tham gia vào vịng đàm phán Doha sẽ mang lại cho Việt Nam cơ hội tiếp cận thị trường rộng lớn của các nước thành viên WTO, được hưởng lợi từ việc giảm thuế quan và trợ cấp nông nghiệp, và được bảo vệ quyền lợi của mình theo các quy tắc và cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.

Tuy nhiên, việc tham gia vào vòng đàm phán Doha cũng đặt ra cho Việt Nam những thách thức lớn, như phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các nước khác, phải điều chỉnh và hồn thiện hệ thống pháp luật và chính sách kinh tế theo yêu cầu của WTO, phải giải quyết những bất bình đẳng và mất cân bằng trong q trình hội nhập, và phải bảo vệ mơi trường, an ninh quốc gia, và bản sắc văn hóa trong bối cảnh tồn cầu hố.

Vì vậy, đề tài này rất cần thiết để nghiên cứu và phân tích sâu sắc, nhằm giúp Việt Nam có được cái nhìn tồn diện và chiến lược hiệu quả về vòng đàm phán Doha, từ đó tận dụng tối đa các cơ hội và ứng phó kịp thời với các thách thức khi hội nhập vào WTO.

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<b>B. NỘI DUNG</b>

<b>1.Tổng quan Vòng đàm phán Doha</b>

Vòng đàm phán Doha (hay còn được gọi là Chương trình nghị sự Doha về Phát triển: DDA - Doha Development Agenda) được khởi động vào tháng 11 năm 2001 tại Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ tư diễn ra tại thành phố Doha, thủ đô của Qatar. Các cuộc đàm phán thuộc khn khổ vịng đàm phán vẫn đang diễn ra căng thẳng và chưa đạt được sự nhất trí, mặc dù đàm phán đã tiếp diễn qua suốt Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 5 năm 2003 và Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 6 năm 2005. Tính đến nay đã có 141 quốc gia tham gia vào vòng đàm phán này (theo Wikipedia.org).

<b>a) Bối cảnh </b>

Dựa trên cơ sở tổ chức tiền thân là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (viết tắt là GATT), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã ra đời và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1995. Đây là một diễn đàn đàm phán đa phương với các mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ, hồn thiện các quy tắc hiện có và xây dựng các quy tắc cho lĩnh vực mới. Ngay sau khi thành lập, WTO đã tiếp tục những nỗ lực của GATT về đàm phán thương mại đa biên.

Trên cơ sở Vịng đàm phán Uruguay trong khn khổ GATT kéo dài suốt 8 năm (1986-1994) kết thúc với những kết quả nhất định đạt được, tại Hội nghị Bộ trưởng Singapore họp vào năm 1996, một loạt vấn đề đã được nêu ra cho các vòng đàm phán

<i>mới được gọi là các vấn đề Singapore. Tháng 01 năm 1997, WTO đạt được thỏa thuận</i>

về dịch vụ viễn thông với việc mở rộng hơn nữa các biện pháp tự do hóa đã đạt được ở Vòng đàm phán Uruguay. Cũng trong năm 1997, 40 nước đã đạt được thỏa thuận về thương mại tự do đối với các sản phẩm công nghệ thông tin và 70 nước khác đạt được thỏa thuận về thương mại dịch vụ tài chính, chiếm tới 95% thương mại về ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán và thơng tin tài chính.

Tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ tư của WTO diễn ra tại Doha, Qatar vào tháng 11 năm 2001, vòng đàm phán đầu tiên của WTO, Vịng đàm phán Doha chính thức được khởi xướng. Vịng đàm phán này tiếp tục giải quyết những vấn đề còn tồn tại của hệ thống thương mại đa biên chưa được giải quyết ở các vòng đàm phán trước đó, cũng như triển khai các nội dung mới lần đầu tiên được đưa vào đàm phán. Tính tới thời điểm WTO ra đời vào năm 2007, Vòng đàm phán Doha đã trở thành diễn đàn đàm phán về hệ thống thương mại đa biên lớn nhất thế giới, bao trùm nhiều lĩnh vực quan trọng cũng như được tham gia bởi nhiều quốc gia trên thế giới.

<b>b) Lịch trình </b>

- Tháng 11, năm 2001, đàm phán tại Doha (Qatar)

Tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ tư của WTO, các bộ trưởng nhất trí khởi động một vịng đàm phán thương mại mới, trong đó lấy các nhu cầu phát triển làm nòng cốt.

- Tháng 9, năm 2003, đàm phán tại Cancún (Mexico)

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

Kết thúc Hội nghị Bộ trưởng lần thứ năm mà không đạt được sự đồng thuận về cách thức để xúc tiến các vòng đàm phán.

- Tháng 7, năm 2004, đàm phán tại Geneva (Thụy Sĩ)

Các thành viên thơng qua chương trình khung cho các cuộc đàm phán về nông nghiệp, dịch vụ và mở cửa thị trường hàng phi nơng sản (NAMA) (gói hỗ trợ tháng 7) mà từ đó đã trở thành cơ sở làm việc về các vấn đề này

- Tháng 1 năm 2005

Vịng đàm phán khơng kết thúc đúng thời hạn.

- Tháng 12, năm 2005, đàm phán tại Hồng Kông

Tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ sáu, các bộ trưởng đẩy nhanh tiến độ các cuộc đàm phán để vòng đàm phán kết thúc vào cuối năm 2006. Gói hỗ trợ đạt được ở Hồng Kông thúc đẩy cam kết về nông nghiệp và mở cửa thị trường hàng phi nông sản (NAMA), đồng thời lập kế hoạch đàm phán cho các lĩnh vực khác. Chính phủ các nước nhất trí cam kết hỗ trợ hàng tỉ đơ la cho gói Hỗ trợ Thương mại bổ sung cho vịng đàm phán Doha.

- Tháng 7, năm 2006 Các cuộc đàm phán bị tạm hoãn.

- Tháng 1 năm 2007 Nối lại các cuộc đàm phán.

- Tháng 7, năm 2008, đàm phán tại Geneva

Các nước thành viên thảo luận về gói hỗ trợ tháng 7 năm 2008: thành lập các thể thức về nông nghiệp và tiếp cận thị trường phi nông nghiệp. Lộ trình cho tất cả các chủ đề nhằm kết thúc hoàn thành năm 2008

- Năm 2009 – Nay

Các cuộc đàm phán rơi vào bế tắc và không đạt được kết quả gì.

<b> 2. Nội dung chính Vịng đàm phán Doha</b>

Theo Tun bố của các Bộ trưởng tại Hội nghị bộ trưởng lần thứ tư, Vịng Doha có hai nội dung thảo luận chính:

❖ Thứ nhất là thực hiện các cam kết đạt được trong Vòng đàm phán Uruguay, chủ yếu liên quan đến các nước đang phát triển. Những nội dung đó bao gồm: Đơn giản hóa quy tắc xuất xứ và tăng hạn ngạch xuất khẩu hàng dệt may; tăng viện trợ cấp không bị khiếu kiện; đẩy lùi thời hạn phải thực hiện các điều khoản của Hiệp định TRIMs; các nước phát triển hạn chế việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nước đang phát triển; mở cửa thị trường hơn nữa đối với một số hàng hóa xuất khẩu quan trọng của các nước đang phát triển; khuyến khích thúc đẩy chuyển giao cơng nghệ hỗ trợ các nước đang phát triển các vật khó khăn về cán cân thanh toán; và giúp các nước đang phát triển tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật.

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

❖ Thứ hai là tiến hành đàm phán về những vấn đề mới được đưa vào vòng đàm

6) Thuận lợi hóa thương mại 7) Thương mại – mơi trường 8) Thương mại phát triển

Mục tiêu đàm phán là gói cam kết tổng thể tất cả 8 lĩnh vực trên (“single undertaking”). Trong các lĩnh vực dó, nơng nghiệp và NAMA được xem là hai lĩnh vực mang tính quyết định, mở đường cho việc kết thúc đàm phán trong các lĩnh vực khác. Nội dung chính của các lĩnh vực kể trên:

<b>a, Nông nghiệp</b>

Theo một cam kết giữa các thành viên trong Vòng đàm phán Uruguay 1986 – 1994, các cuộc đàm phán nông nghiệp sẽ bắt đầu từ năm 2000 và được khởi động lại tại Vòng đàm phán Doha năm 2001 nhằm tiếp tục cải cách thương mại. Nhìn chung, mục tiêu của các cuộc đàm phán này là giảm thiểu sự bóp méo trong thương mại nơng nghiệp được thực hiện bởi thuế quan cao và các hàng rào khác, trợ cấp xuất khẩu, và một số hỗ trợ nội địa, đặc biệt là giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển. Các cuộc đàm phán cũng tính đến các vấn đề nhạy cảm về mặt chính trị và xã hội trong lĩnh vực này và nhu cầu của các nước đang phát triển.

Đàm phán nhằm cải cách thương mại nông nghiệp diễn ra chủ yếu trên ba lĩnh vực: thâm nhập thị trường, hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu. Các cơng thức (trong Nghị trình Phát triển Doha, “cơng thức” là các kế hoạch chi tiết cho thỏa thuận cuối cùng, như là cắt giảm thuế quan và trợ cấp nông nghiệp thế nào, hay cách giải quyết linh hoạt với những trường hợp nhạy cảm ra sao) sẽ chỉ ra làm thế nào để đạt được điều này.

<b>⮚ Vấn đề thâm nhập thị trường: thuế quan, hạn ngạch và các biện pháp tự vệ</b>

Đối với các mặt hàng nông sản thiết yếu như lúa mì, gạo, thịt bị, đường, bơ, khoai tây, dứa…, mức độ cắt giảm thuế có thể phụ thuộc vào:

• Mức thuế quan hiện thời: thuế càng cao thì cắt giảm càng nhiều, dao động từ 50% đến 66-73%, trung bình tối thiểu là 54% với các nước phát triển, và 33,3% đến 44-48% với các nước đang phát triển.

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

• Sản phẩm có là “nhạy cảm” (với tất cả các nước) hay “đặc biệt” (với các nước đang phát triển) hay không: các sản phẩm nhạy cảm sẽ có mức cắt giảm chỉ bằng 1/3, 1/2 hoặc 2/3 mức cắt giảm thông thường nhưng với hạn ngạch thấp hơn; các sản phẩm đặc biệt cũng có mức cắt giảm nhỏ hơn, và một số cịn có thể được miễn thuế hồn tồn.

• Thuế suất áp dụng có thấp hơn thuế suất ràng buộc (bound tariffs) hay không: Việc cắt giảm được thực hiện dựa trên mức ràng buộc hợp pháp. Mức thuế thực tế có thể được thấp hơn. Nếu 1 quốc gia đang phát triển có mức thuế suất ràng buộc là 100% nhưng chỉ thuế thực thu chỉ là 25%, thì mức thuế ràng buộc có thể bị cắt giảm 42,7%, xuống cịn 57,3%. Nghĩa là khơng có thay đổi nào đối với mức thực tế áp dụng 25%, có nghĩa là cịn có thể áp dụng gấp đơi mức thuế đó. • Tình trạng quốc gia: các nước kém phát triển nhất sẽ không phải cắt giảm thuế

với bất kỳ sản phẩm nào, các nước đang phát triển nhìn chung sẽ có mức cắt giảm thấp hơn và linh hoạt hơn so với các nước phát triển, những nền kinh tế nhỏ và dễ bị tổn thương thậm chí sẽ có mức cắt giảm cịn thấp và nhiều sự linh hoạt hơn nữa, và với những nước vừa mới gia nhập WTO cũng sẽ có những điều khoản đặc biệt.

<b>⮚ Hỗ trợ cho người nông dân và cho nông nghiệp</b>

Hỗ trợ về giá hay về thu nhập tùy theo mức sản xuất hay mức tiêu thụ, sẽ bị cắt

<i>giảm đáng kể nhưng không bị loại bỏ hoàn toàn. Những quốc gia đang cung cấp các</i>

khoản hỗ trợ lớn sẽ phải cắt giảm nhiều nhất, nhiều nước đã và đang cải cách các chương trình hỗ trợ của họ. Các nước đó và những nước cịn lại sẽ vẫn được cho phép một mức hỗ trợ tượng trưng khá nhỏ, hoặc mức tối thiểu là 2,5% giá trị sản lượng với các nước phát triển và 6,7% với các nước đang phát triển. Mức hỗ trợ cho các sản phẩm cụ thể cũng bị giới hạn để tránh việc tập trung vào một sản phẩm nhất định.

Tuy nhiên một loạt các hỗ trợ nông nghiệp một cách tổng thể có thể sẽ được cho phép mà không bị giới hạn, được xem là không làm biến dạng thị trường, ví dụ như: dành cho phát triển, cơ sở hạ tầng, các hoạt động nghiên cứu, khuyến nơng, điều chỉnh cơ cấu...

<b>⮚ Trợ cấp xuất khẩu</b>

Các hình thức này sẽ bị loại bỏ từ năm 2013, bao gồm trợ cấp ẩn dưới dạng xuất khẩu tín dụng, phân biệt đối xử với doanh nghiệp nhà nước và trợ cấp lương thực khơng khẩn cấp.

Tóm lại, nội dung đàm phán nơng nghiệp của phịng đàm phán Doha tập trung vào các vấn đề sau:

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

● Cắt giảm thuế quan

● Cắt giảm các hỗ trợ bóp méo thương mại ● Loại bỏ trợ cấp xuất khẩu

● Đưa ra các quy tắc mới về tín dụng xuất khẩu và viện trợ lương thực

● hỗ trợ nghiên cứu và triển khai (S&D) cho các nước đang phát triển và kém phát triển

Tuy nhiên, cho đến thời điểm cuối năm 2018, Vòng đàm phán mới đạt được thỏa thuận xóa bỏ trợ cấp xuất khẩu nông sản vào năm 2013. Vấn đề cắt giảm thuế quan và cắt giảm hỗ trợ sản xuất nông sản làm méo mó thương mại ở các nước cơng nghiệp vẫn đang là trở ngại lớn đối với vòng đàm phán Doha.

<b>b, Tiếp cận thị trường hàng phi nông nghiệp (NAMA)</b>

⮚ Sản phẩm phi nông nghiệp

Các sản phẩm phi nông sản bao gồm sản phẩm công nghiệp, sản phẩm chế tạo, hàng dệt may, nhiên liệu và sản phẩm khai mỏ, giày dép, đồ trang sức, sản phẩm lâm nghiệp, thủy sản và hóa chất. Tính chung lại, hàng hóa phi nơng nghiệp chiếm tới gần 90% tổng lượng hàng hóa xuất khẩu tồn thế giới.

⮚ Ba yếu tố trọng yếu trong đàm phán

• Cắt giảm thuế quan theo công thức chung dựa trên một hệ số. Có tất cả khoảng 40 nước, bao gồm cả những nước có kim ngạch thương mại lớn nhất thế giới, sẽ áp dụng cơng thức này. Các nước cịn lại sẽ áp dụng những điều khoản cụ thể riêng.

• Linh hoạt với các nước đang phát triển (qua đó cho phép hạn chế bớt phần nào ảnh hưởng của việc cắt giảm thuế quan lên những lĩnh vực kinh tế nhạy cảm nhất của các nước này)

• Đãi ngộ đặc biệt với các nền kinh tế nhỏ, dễ tổn thương; các nước kém phát triển nhất (LDCs); các thành viên mới gia nhập (RAMs); các thành viên có mức ràng buộc (binding coverage) thấp; và các trường hợp khác.

⮚ Công thức cắt giảm thuế và những sự linh hoạt

Việc cắt giảm thuế quan được tính tốn theo công thức “Thụy Sĩ đặc biệt” (“simple Swiss” formula) với các hệ số riêng biệt cho các nước phát triển hoặc đang phát triển; các nước thành viên phát triển áp dụng một hệ số chung trong khi các nước đang phát triển sẽ có 3 tùy chọn hệ số, tùy theo mức độ linh hoạt mà những nước này muốn lựa chọn. Hệ số càng thấp thì mức độ linh hoạt càng cao và ngược lại.

Việc cắt giảm thuế quan sẽ được thực hiện dần dần trong một khoảng thời gian 5 năm đối với các nước phát triển và 10 năm đối với các nước đang phát triển, bắt đầu từ ngày 1/1 của năm sau khi các kết quả của vịng đàm phán Doha bắt đầu có hiệu lực.

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

Nói chung, có khoản 40 thành viên áp dụng công thức Thụy Sĩ (các thành viên khác áp dụng theo các điều khoản đặc biệt), chiếm gần 90% thương mại phi nông sản thế giới. Trong đó, có 4 thành viên mới gia nhập (RAMs).

⮚ Các lĩnh vực cắt giảm thuế quan sâu hoặc loại bỏ hồn tồn

Một số thành viên đã được khuyến khích tham gia vào đàm phán thực hiện cắt giảm thuế quan sâu hơn nữa trong một số lĩnh vực phi nông nghiệp. Có 14 lĩnh vực hiện đang được đưa ra xem xét: Ơ tơ và các bộ phận liên quan, xe đạp và các bộ phận liên quan, hóa chất, điện tử/sản phẩm điện tử, cá và các sản phẩm cá, sản phẩm lâm nghiệp, đồ trang sức và đá quý, nguyên liệu thô, thiết bị thể thao, dụng cụ y tế, dược và chăm sóc sức khỏe, dụng cụ dùng tay, đồ chơi, dệt may, quần áo và giày dép, và máy móc cơng nghiệp.

⮚ Hàng rào phi thuế (NTBs)

NTBs là các biện pháp hạn chế không liên quan tới thuế quan mà các chính phủ thực hiện (như hàng rào kỹ thuật, vệ sinh và các hình thức khác), và cũng là một phần của đàm phán. Các dự thảo đề xuất đã được các thành viên đệ trình lên một số biện pháp và tuân thủ dự thảo của Chủ tịch. Chủ tịch nói rằng quyết định xem các đề xuất này có được đưa vào văn bản đàm phán hay không sẽ được đưa ra vào thời điểm quyết định các công thức cuối cùng.

<b>c, Dịch vụ và các vấn đề về quy tắc</b>

Gần đây, dịch vụ đang dần trở nên quan trọng hơn với sự quan tâm của một số thành viên lớn của WTO như Hoa Kỳ, EU. Tuy nhiên, đây cũng là một lĩnh vực với nhiều ngành khá nhạy cảm như y tế, giáo dục, dịch vụ cơng, vận tải, văn hóa, viễn thơng, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm… Những ngành này thường được các chính phủ bảo hộ về các lý do về an ninh quốc gia bảo tồn văn hóa dân tộc, hoặc do đó là những ngành có lợi nhuận cao. Đàm phán dịch vụ nhằm tiếp tục đàm phán những vấn đề được nêu ra trong GATS về tự do hóa thương mại dịch vụ, trong đó đề cập đến các nguyên tắc cơ bản của WTO bao gồm:

<i>- Nguyên tắc không phân biệt đối xử, gồm hai quy chế: Đãi ngộ tối huệ quốc (MFN) và</i>

Đối xử quốc gia (NT).

<i>- Nguyên tắc tiếp cận thị trường, bao gồm hai khía cạnh: 1, Các nước thành viên mở cửa</i>

thị trường cho nhau thông qua việc cắt giảm từng bước, tiến tới xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, mở đường cho thương mại phát triển; 2, Các chính sách, luật lệ thương mại phải được công bố công khai, kịp thời, minh bạch để có thể dự báo được mơi trường và triển vọng thương mại.

<i>- Ngun tắc cạnh tranh cơng bằng, địi hỏi các nước thành viên WTO loại bỏ bảo hộ</i>

bằng các biện pháp phi thuế, vì nó làm "méo mó thương mại" như hạn ngạch, giấy phép,

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

hạn chế số lượng nhập khẩu…mà chỉ sử dụng công cụ duy nhất là thuế, nhưng các biểu thuế phải được giảm dần trong quá trình hội nhập.

<i>- Nguyên tắc áp dụng các hành động khẩn cấp trong trường hợp cần thiết cho phép các</i>

nước thành viên khước từ một nghĩa vụ nào đó hoặc có những hành động khẩn cấp, cần thiết, được các nước thành viên khác thừa nhận để bảo vệ sản xuất và thị trường trong nước khi bị hàng nhập khẩu thái quá đe dọa hoặc bị phân biệt đối xử gây phương hại cho nước đó.

<i>- Nguyên tắc ưu đãi dành cho các nước đang phát triển và chậm phát triển nhằm tạo</i>

điều kiện cho các nước này từng bước thích nghi với các thể chế của WTO như kéo dài thời gian hoặc giảm mức độ thực hiện các cam kết.

Nói chung, khi đã là thành viên của WTO thì các nguyên tắc cơ bản trên đây phải được tuân thủ cả trong thương mại hàng hóa và trong thương mại dịch vụ. Nhưng do những đặc điểm của thương mại dịch vụ luôn gắn với các điều kiện cụ thể, nhạy cảm của từng quốc gia nên việc thực hiện các nguyên tắc này theo hướng tự do hóa cịn nhiều hạn chế.

<b> d, Những khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)</b>

Các nội dung cụ thể được quan tâm trong vấn đề đàm phán này là:TRIPS và sức khỏe cộng đồng; chỉ dẫn địa lý và hệ thống đăng ký; rà soát các điều khoản của TRIPS. Đàm phán nhằm đi đến chỉnh lý và bổ sung các điều khoản liên quan đến các vấn đề nêu trên.

<b> </b>

<b> e, Thuận lợi hóa thương mại</b>

Đàm phán về chống bán phá giá và trợ cấp dựa trên cơ sở các quy tắc của WTO nhằm hoàn thiện những nguyên tắc về chống bán phá giá và trợ cấp; đặc biệt quan tâm tới nhu cầu và lợi ích của các nước đang và kém phát triển về các hiệp định thương mại khu vực đàm phán; hướng tới làm rõ hoàn thiện các điều khoản hiện có của WTO đối với các hiệp định thương mại khu vực.

<b> f, Thương mại và môi trường</b>

Nội dung đàm phán tập trung vào mối quan hệ giữa các nghĩa vụ thương mại trong các hiệp định môi trường đa phương và các quy tắc hiện thời của WTO để trao đổi thông tin vào, việc giảm hoặc loại trừ thuế quan hoặc các rào cản phi thuế quan đối với các hàng hóa và dịch vụ mơi trường.

<b>g, Thương mại phát triển </b>

Vịng đàm phán Doha hướng tới sự thỏa thuận rằng Chính phủ các thành viên cam kết dành ưu đãi, mở cửa thị trường và tạo những điều kiện thuận lợi khác cho xuất

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

khẩu của các nước kém phát triển, bao gồm cả việc xóa bỏ thuế, hạn ngạch và hỗ trợ kỹ thuật.

<b> h, Đối xử đặc biệt và khác biệt (S&D)</b>

WTO trong các hiệp định của mình có các điều khoản cho phép các nước đang phát triển hưởng những ưu đãi. Trong vòng đàm phán Doha, các điều khoản này sẽ được rà soát lại nhằm diễn giải chúng một cách chính xác hơn và tiếp tục khẳng định ưu đãi này.

<b>i, Các vấn đề Singapore</b>

Bao gồm các vấn đề:

(i) Thương mại và đầu tư với mục tiêu đưa ra các nguyên tắc và quy tắc điều chỉnh nhằm tạo thuận lợi cho đầu tư;

(ii) Mối quan hệ giữa chính sách thương mại và chính sách cạnh tranh; (iii) Tính minh bạch trong mua sắm của chính phủ;

(iv) Tạo thuận lợi cho thương mại.

Từ ngày 01/04/2004 ba vấn đề (i), (ii) và (iii) đã được đưa ra khỏi chương trình Nghị sự của vịng đàm phán.

Ngồi các vấn đề trên, Vòng đàm phán Doha còn đưa vào chương trình Nghị sự của mình các vấn đề đàm phán khác như thỏa thuận về giải quyết tranh chấp, thương mại và tài chính, thương mại điện tử, các nền kinh tế nhỏ, thương mại, nợ nần và tài chính, thương mại và chuyển giao cơng nghệ và hợp tác kỹ thuật và phát triển năng lực.

<b> 3. Các diễn biến sau đó</b>

Mục tiêu ban đầu mà các Bộ trưởng đề ra là kết thúc Vòng Doha vào 01/01/2005 nhưng cho đến nay vẫn chưa thực hiện được.

Hội nghị Bộ trưởng Cancun năm 2003 có nhiệm vụ rà soát các vấn đề cần đàm phán và thiết lập các phương thức đàm phán trong hầu hết các lĩnh vực. Tuy nhiên Hội nghị không đạt được mục tiêu như ban đầu đã đề ra và sau đó đã rơi vào bế tắc do các thành viên bất đồng ý kiến nghiêm trọng về vấn đề nông nghiệp và các vấn đề Singapore.

Sau hội nghị Cancun, các thành viên chủ chốt của WTO đã nỗ lực tháo gỡ bế tắc của vịng đàm phán Doha thơng qua khởi động cuộc đàm phán Geneva 4/2004 và đã đạt được một “Bộ thỏa thuận khung tháng 7/2004”. Bộ thỏa thuận bao gồm các tiêu chí khá cụ thể làm cơ sở cho việc thiết lập các phương thức đàm phán trong lĩnh vực còn nhiều quan điểm bất đồng. Với bộ thỏa thuận khung này, lần đầu tiên đàm phán đã có được những tiến bộ đáng kể đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, mở cửa thị trường cho các sản phẩm phi nông nghiệp, vấn đề phát triển và thuận lợi hàng hóa thương mại. Các thành viên đã đồng ý loại bỏ mọi loại trợ cấp xuất khẩu cho nông sản với một thời hạn

</div>

×