Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (465.84 KB, 45 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b> </b>
Nhóm em xin cam kết bài tiểu luận này dựa trên quá trình tìm hiểu, nghiên cứu của nhóm trên nhiều phương diện. Các nguồn tài liệu, trích dẫn mà nhóm tham khảo đều được để tại mục “Tài liệu tham khảo”.
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">Phạm Thị Thanh Thảo 31231020763 Phần 3
Nguyễn Dương Yến Anh 31231023266 Phần 1
<b>LỜI MỞ ĐẦU………1PHẦN I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ ĐỘC QUYỀN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG</b>
<b> 1.1. Khái niệm</b>
<i> 1.1.1. Khái niệm cạnh tranh………</i>
<i><b> 1.1.2. Khái niệm độc quyền……….2</b></i>
<b> 1.2. Nguyên nhân hình thành độc quyền</b>
<i> 1.2.1. Độc quyền có thể xuất hiện do nhiều nguyên nhân………..2 1.2.2. Liên hệ thực tế………..………... 6</i>
<b> 1.3. Quan hệ giữa cạnh tranh và độc quyền trong nền kinh tế thị trường</b>
<i><b> 1.3.1. Cạnh tranh và độc quyền - mối quan hệ phức tạp ở nhiều mặt………6</b></i>
<i> 1.3.2. Đa dạng mối quan hệ giữa cạnh tranh và độc quyền……….…………..7 1.3.3. Liên hệ thực tế……….……...……….………… 8</i>
<b>PHẦN II. ĐỘC QUYỀN VÀ ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG</b>
<b> 2.1. Lý luận của V.I. Lênin về độc quyền trong nền kinh tế thị trường </b>
<i> 2.1.1. Những đặc điểm kinh tế cơ bản của độc quyền trong chủ nghĩa tư bản……….. 9 2.1.2. Biểu hiện mới của độc quyền trong điều kiện ngày nay………..</i>
<i> 2.1.3. Tác động của độc quyền đến kinh tế - chính trị - xã hội……….</i>
<b> 2.2. Lý luận của V.I. Lênin về độc quyền nhà nước trong nền kinh tế thị trường</b>
<i><b> 2.2.1. Khái niệm và nguyên nhân hình thành phát triển độc quyền nhà nước</b></i>
<i> trong chủ nghĩa tư bản………20 </i>
<i> 2.2.2. Bản chất của độc quyền nhà nước trong chủ nghĩa tư bản………...…..22 2.2.3. Đặc điểm kinh tế của độc quyền nhà nước trong chủ nghĩa tư bản………….…</i>
23
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7"><i> 2.2.4. Những biểu hiện mới của độc quyền nhà nước………..</i>
<i> trong chủ nghĩa tư bản</i> <b>PHẦN III: THỰC TRẠNG ĐỘC QUYỀN TẠI VIỆT NAM 3.1. Hình thức độc quyền </b> <i><b> 3.1.1. Độc quyền do kết quả cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường………. …28</b></i>
<i> 3.1.2. Độc quyền do quy định của pháp luật ban hành cho các……….………. 29</i>
<i> chính sách kinh tế hay tồn tại từ cơ chế hành chính cũ</i> <b> 3.2 Xu hướng độc quyền doanh nghiệp………...30</b>
<b> 3.3. Mối tương quan giữa độc quyền nhà nước………..31</b>
<b> trong chủ nghĩa tư bản và độc quyền nhà nước tại Việt Nam 3.4. Giá trị của độc quyền đối với thị trường </b> <i><b> 3.4.1. Lợi ích từ quy mơ kinh tế………33</b></i>
<i> 3.4.2. Nâng cao khả năng tạo ra phát minh và sản phẩm mới……….……34</i>
<b>KẾT LUẬN………...34</b>
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO………...35</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">Cạnh tranh là một phần không thể thiếu trong mọi lĩnh vực, đó là điều tồn tại khơng tránh khỏi. Nếu khơng có cạnh tranh, sự phát triển sẽ khơng thể diễn ra, vì cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường. Mỹ, như bất kỳ quốc gia nào khác, phải tuân thủ quy luật cạnh tranh và các quy định khác trong nền kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị trường của Mỹ luôn đầy quyết liệt và gay gắt, với sự cạnh tranh không ngừng giữa các thành phần kinh tế. Mỹ được xem là quốc gia có nền kinh tế cạnh tranh nhất thế giới.
Tuy nhiên, nền kinh tế của Mỹ vẫn đối diện với nhiều thách thức. Với sự tồn cầu hóa là một xu hướng phổ biến, cơ hội hợp tác giữa Mỹ và các quốc gia khác đã được mở ra. Do đó, sự cạnh tranh khơng chỉ giữa các doanh nghiệp trong nước mà còn với các quốc gia khác. Sự cạnh tranh gay gắt có thể dẫn đến những hậu quả tiêu cực trong nền kinh tế thị trường, bao gồm sự xuất hiện của độc quyền, làm ảnh hưởng và hạn chế sự phát triển kinh tế của Mỹ.
Độc quyền là sự kiểm soát hoặc ảnh hưởng lớn đối với một loại sản phẩm cụ thể trên một thị trường nhất định, thường được thực hiện bởi các công ty lớn hoặc các tổ chức kinh tế. Vấn đề này đặt ra một thách thức đối với Mỹ: làm thế nào để xây dựng một nền kinh tế cạnh tranh mạnh mẽ và ngăn chặn sự hình thành của độc quyền một cách hiệu quả, trong khi vẫn bảo vệ "nền kinh tế tự do" và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của quốc gia. Để hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa cạnh tranh và độc quyền trong bối cảnh Mỹ và nhận biết các ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của độc quyền, việc phân tích cặn kẽ về vấn đề này là rất cần thiết, và đó cũng là đề tài của tiểu luận này: "Phân tích hoạt động cạnh tranh và độc quyền trong nền kinh tế thị trường. Tác động tiêu cực và tích cực của độc quyền và ý nghĩa thực tiễn".
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9"><b>PHÀN I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ ĐỘC QUYỀN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG </b>
Trong nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản tự do và cạnh tranh, C.Mác và Ph.Ăngghen đã dự đoán rằng sự tự do trong cạnh tranh sẽ dẫn đến sự tích tụ và tập trung sản xuất. Theo họ, q trình tích tụ và tập trung sản xuất tích cực sẽ phát triển đến một mức độ nào đó, từ đó dẫn đến sự hình thành của độc quyền.
Cạnh tranh là sự đấu tranh gay gắt giữa những người sản xuất hàng hóa tư nhân nhằm giành giật lấy điều kiện sản xuất và tiêu thụ hàng hóa thuận lợi nhất để thu lợi ích tối đa.
Trong lĩnh vực kinh tế hàng hóa, cạnh tranh khơng chỉ là một mơi trường mà còn là một động lực.
Độc quyền là sự liên minh giữa các doanh nghiệp lớn, nắm trong tay phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ một số loại hàng hố, có khả năng định ra giá cả độc quyền, nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao.
Đây là một trong những trường hợp thất bại của thị trường, biểu hiện mức độ cực đoan của việc thiếu tính cạnh tranh. Mặc dù trên thực tế rất hiếm có trường hợp nào đáp ứng hồn hảo cả hai tiêu chuẩn của độc quyền, và do đó, độc quyền thuần túy có thể coi là khơng tồn tại. Tuy nhiên, các dạng độc quyền không thuần túy thường dẫn đến sự không hiệu quả của lợi ích xã hội.
<b>Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất</b>
Thúc đẩy q trình tích tụ và tập trung sản xuất, tạo ra các doanh nghiệp có quy mơ lớn. Trong những năm 1900, nền kinh tế thị trường mở rộng với sự xuất hiện của các ngành sản xuất mới nhờ tiến bộ khoa học và công nghệ, yêu cầu các doanh nghiệp mở rộng quy mô. Điều này tạo ra một cơ cấu kinh tế mới, tập trung vào sản xuất với quy mô lớn do tác động của các quy luật thị trường như quy luật giá trị thặng dư, tích lũy, và tập trung.
<b>Cạnh tranh gay gắt:</b>
Làm suy yếu hoặc phá sản các doanh nghiệp nhỏ, khi các doanh nghiệp lớn cố gắng chiếm thị trường để trở thành doanh nghiệp độc quyền. Điều này là hậu quả tất yếu của môi trường cạnh tranh khốc liệt.
<b>Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1873:</b>
Kéo dài 5 năm 5 tháng tại châu Âu và Bắc Mỹ đã gây ra sức ép lớn cho nền kinh tế. Công nhân bị sa thải, sàn giao dịch chứng khoán tại New York đóng cửa hơn 10 ngày, các hệ thống đường sắt quốc gia xuống cấp và nhiều ngành nghề khác như xây dựng, bất động sản, kinh doanh cũng chịu ảnh hưởng tiêu cực.
<b>Sự phát triển của hệ thống tín dụng:</b>
Trở thành một cơng cụ mạnh mẽ thúc đẩy sự tập trung sản xuất, đặc biệt là trong việc hình thành và phát triển các cơng ty cổ phần, tạo điều kiện cho sự xuất hiện của các tổ chức độc quyền. Khi các tổ chức độc quyền xuất hiện, chúng có khả năng kiểm sốt giá mua và giá bán hàng hóa theo cách độc quyền, nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao.
<b>Sự khơng hồn hảo của thị trường: </b>
Trong một số trường hợp, thị trường không hoạt động một cách hiệu quả và thiếu sự cạnh tranh, điều này dẫn đến sự hình thành của các doanh nghiệp độc quyền. Các
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">doanh nghiệp này thường tận dụng quyền lực của mình để kiểm sốt giá cả, sản xuất, và thậm chí là chính sách cơng cộng.
<b>Quyền lực chính trị: </b>
Sự tương tác giữa quyền lực kinh tế và chính trị thường góp phần vào việc xuất hiện của các doanh nghiệp độc quyền. Các doanh nghiệp này thường sử dụng quyền lực chính trị để bảo vệ hoặc mở rộng vị thế độc quyền của mình thơng qua ảnh hưởng đến quyết định chính sách và pháp luật.
<b>Sự tiên tiến về công nghệ và kỹ thuật: </b>
Trong một số trường hợp, các công ty sở hữu công nghệ và kỹ thuật tiên tiến có thể tạo ra độc quyền trong một ngành công nghiệp cụ thể. Công nghệ và quy trình sản xuất độc quyền này có thể tạo ra rào cản lớn cho các đối thủ mới.
<b>Chi phí cố định cao: </b>
Trong một số ngành như hóa chất hoặc dầu khí, việc xây dựng cơ sở hạ tầng hoặc hệ thống phân phối có thể tạo ra chi phí cố định cao. Điều này có thể tạo điều kiện cho các công ty đã đầu tư vào cơ sở hạ tầng này để kiểm soát thị trường và tạo ra độc quyền.
<b>Chính sách của chính phủ: </b>
Chính sách và quy định của chính phủ cũng có thể tác động đến sự hình thành của độc quyền trong kinh tế. Việc ban hành các quy định và luật pháp có thể tạo ra rào cản cho sự cạnh tranh hoặc bảo vệ các doanh nghiệp hiện có.
<b> Lợi nhuận độc quyền: </b>
- Là lợi nhuận vượt trội so với lợi nhuận trung bình, được tạo ra bởi sự chiếm đóng thị trường của các tổ chức độc quyền.
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">- Các tổ chức độc quyền thường thống trị bằng cách thiết lập giá bán hàng hóa cao và giá mua hàng hóa thấp, từ đó tạo ra lợi nhuận độc quyền cao. Nguồn gốc của lợi nhuận độc quyền này bao gồm:
<i>Lao động không công của công nhân làm việc trong các xí nghiệp độcquyền: </i>
Cơng nhân trong các doanh nghiệp độc quyền thường phải làm việc với điều kiện lao động không công bằng và lương thấp, góp phần vào lợi nhuận cao của tổ chức độc quyền.
<i>Lao động không công của công nhân làm việc trong các xí nghiệp khơngđộc quyền:</i>
Người lao động trong các doanh nghiệp khơng thuộc sở hữu độc quyền cũng có thể phải chịu điều kiện lao động khắc nghiệt và thu nhập thấp do áp lực cạnh tranh từ các tổ chức độc quyền.
<i>Phần giá trị thặng dư của các nhà tư bản vừa và nhỏ mất đi do thua thiệttrong cuộc cạnh tranh:</i>
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường phải chịu thiệt hại trong cuộc cạnh tranh với các tổ chức độc quyền, dẫn đến mất mát giá trị thặng dư và do đó khơng thể thu được lợi nhuận cao.
<i> Lao động thặng dư của những người sản xuất nhỏ và nhân dân lao động ởcác nước tư bản và các nước thuộc địa và phụ thuộc:</i>
Trong các nền kinh tế tư bản và các nước thuộc địa, lao động thường phải làm việc với điều kiện khó khăn và lương thấp, đồng thời phải đối mặt với sự khống chế từ các tổ chức độc quyền, dẫn đến việc họ không thể thu được phần công bằng và lợi nhuận từ lao động của mình.
<b> Giá cả độc quyền: </b>
- Là giá mà các tổ chức độc quyền thiết lập khi mua và bán hàng hóa.
- Giá cả độc quyền bao gồm chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận độc quyền. Các tổ chức độc quyền thường thiết lập giá bán cao và giá mua thấp. Trong thực tế, giá cả
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">độc quyền vẫn phụ thuộc vào giá trị của hàng hóa. Trong mối quan hệ này, giá trị vẫn là yếu tố quan trọng, là nội dung cơ bản của giá cả độc quyền. Giá cả độc quyền chủ yếu xoay quanh giá trị hàng hóa, và khi giá cả độc quyền tăng giảm, giá cả thị trường cũng sẽ tương ứng điều chỉnh. Trong giai đoạn độc quyền, các tổ chức độc quyền thường thực hiện giao dịch hàng hóa với giá cả độc quyền, từ đó thu được lợi nhuận độc quyền cao hơn.
- Những yếu tố này có thể hoạt động độc lập hoặc kết hợp với nhau để tạo ra một môi trường kinh doanh độc quyền trong lĩnh vực kinh tế và chính trị.
Một ví dụ cụ thể về nguyên nhân gây ra độc quyền trong thực tế là sự tập trung nguồn lực hoặc công nghệ độc đáo tại một số doanh nghiệp hoặc ngành cơng nghiệp. Ví dụ, trong lĩnh vực cơng nghệ, một cơng ty có thể phát triển một công nghệ tiên tiến hoặc sản phẩm độc đáo mà khơng có đối thủ cạnh tranh đủ lớn để cạnh tranh.
Ví dụ khác chính là Apple với sản phẩm iPhone của họ. Khi iPhone được ra mắt, nó mang lại một trải nghiệm người dùng mới và tiên tiến mà khơng có sản phẩm cạnh tranh nào có thể so sánh được. Như vậy, Apple đã đạt được độc quyền trong lĩnh vực điện thoại di động trong một thời gian, cho phép họ áp đặt giá cả cao và kiểm soát thị trường một cách tương đối.
Một lần nữa, điều này cho thấy rằng sự tập trung nguồn lực hoặc cơng nghệ độc đáo có thể dẫn đến sự hình thành của độc quyền trong một ngành công nghiệp, ảnh hưởng đến cạnh tranh và sự công bằng trong thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ giữa cạnh tranh và độc quyền là phức tạp và thường xuyên được quan tâm. Dưới đây là một số mặt của mối quan hệ này:
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14"><b>Tính đối nghịch: </b>
Cạnh tranh và độc quyền thường đối nghịch với nhau. Trong một thị trường cạnh tranh sôi động, độc quyền thường bị giảm bớt do sự xuất hiện của nhiều đối thủ cạnh tranh. Ngược lại, khi độc quyền gia tăng, cạnh tranh có thể bị hạn chế hoặc thậm chí bị loại bỏ.
<b>Sự tác động lẫn nhau: </b>
Cạnh tranh có thể tạo ra động lực cho sự phát triển và sáng tạo, khi các doanh nghiệp cố gắng cải thiện sản phẩm và dịch vụ của mình để chiếm lĩnh thị trường. Tuy nhiên, độc quyền có thể ngăn chặn sự cạnh tranh và làm giảm sự động lực này, dẫn đến sự suy giảm của sự sáng tạo và chất lượng.
<b>Hiệu quả kinh tế: </b>
Trong một số trường hợp, độc quyền có thể dẫn đến sự khơng hiệu quả kinh tế, khi các doanh nghiệp khơng cịn cần phải cạnh tranh và có thể hoạt động theo cách không hiệu quả. Trái lại, một môi trường cạnh tranh khỏe mạnh thúc đẩy sự hiệu quả và tăng cường sự tiến bộ kinh tế.
<b>Quản lý từ phía chính phủ: </b>
Chính phủ thường can thiệp để giám sát và kiểm soát sự cạnh tranh và độc quyền trong nền kinh tế. Việc thiết lập và thực thi các quy định và chính sách cạnh tranh có thể giúp duy trì một mơi trường kinh doanh cạnh tranh và cơng bằng.
Vì vậy, với sự tương tác phức tạp giữa cạnh tranh và độc quyền, việc hiểu và quản lý quan hệ này là quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững và công bằng của nền kinh tế thị trường.
Độc quyền không chỉ là kết quả của sự loại bỏ cạnh tranh, mà thực tế, nó thúc đẩy sự đa dạng và cạnh tranh gay gắt hơn trong nền kinh tế thị trường. Nó khơng chỉ là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa, mà còn là sự đối đầu giữa các tổ chức độc quyền. Các loại hình cạnh tranh mới xuất hiện, tạo ra một môi trường cạnh tranh phong phú và phức tạp hơn.
<i>Đầu tiên, là sự cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền và các doanh nghiệp không</i>
độc quyền. Trong trường hợp này, các tổ chức độc quyền thường tận dụng quyền lực của họ để kiểm sốt nguồn cung, hệ thống vận chuyển, hoặc thậm chí là tín dụng. Bằng cách này, họ có thể áp đặt điều kiện và giá cả, tạo ra một bức tranh cạnh tranh không công bằng cho các doanh nghiệp không độc quyền.
<i>Thứ hai, là sự cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền với nhau. Đây có thể là cạnh</i>
tranh giữa các tổ chức độc quyền trong cùng một ngành hoặc giữa các ngành liên quan với nhau. Cuộc đối đầu này thường kết thúc bằng sự thỏa hiệp hoặc thậm chí là sự sụp đổ của một bên. Các tổ chức này có thể tiến hành các thỏa thuận không công bằng để chia sẻ thị trường hoặc thậm chí là để loại bỏ các đối thủ tiềm năng.
<i>Cuối cùng, là sự cạnh tranh nội bộ trong các tổ chức độc quyền. Các thành viên</i>
trong các tổ chức độc quyền cũng có thể cạnh tranh với nhau để giành ưu thế. Họ có thể đấu tranh để chiếm tỉ lệ cổ phần lớn hơn, tạo ra một sự đấu đá tàn khốc trong tổ chức.
Vậy nên, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, cạnh tranh và độc quyền thường tồn tại cùng nhau và mức độ của chúng phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nền kinh tế. Sự tương tác giữa các yếu tố này tạo ra một môi trường kinh doanh phức tạp và đa chiều, đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc và chiến lược linh hoạt để tồn tại và phát triển.
Một ví dụ cụ thể về mối quan hệ giữa cạnh tranh và độc quyền tại Mỹ là ngành công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), nơi mà các công ty hàng đầu như Google, Facebook, Amazon và Apple (được biết đến với biệt danh "GAFA") chiếm lĩnh thị trường. Trong lĩnh vực này, sự cạnh tranh đã khuyến khích sự phát triển của các doanh
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">nghiệp công nghệ mới và nhỏ, song cũng tạo ra một mức độ tập trung cao tại GAFA. Các công ty này thường tận dụng quyền lực thông qua việc thâu tóm hoặc loại bỏ các đối thủ cạnh tranh, dẫn đến sự xuất hiện của các tổ chức độc quyền trong ngành.
Một ví dụ rõ ràng khác là vấn đề liên quan đến quảng cáo trực tuyến. Google và Facebook, hai trong số những công ty lớn nhất trong lĩnh vực này, độc tài thị trường quảng cáo trực tuyến tại Mỹ. Sự ảnh hưởng của họ trong việc thu thập dữ liệu và định hình thơng tin đã tạo ra một môi trường không công bằng cho các đối thủ nhỏ, gây khó khăn cho các cơng ty độc lập trong việc cạnh tranh. Điều này dẫn đến việc GAFA có thể thiết lập giá cả quảng cáo cao và điều kiện không công bằng cho các nhà quảng cáo khác.
Mối quan hệ giữa cạnh tranh và độc quyền trong ngành ICT ở Mỹ là một minh chứng cho cách mà sự cạnh tranh có thể dẫn đến tập trung quyền lực và sự thống trị của các tổ chức độc quyền, ảnh hưởng đến sự công bằng và cạnh tranh trong nền kinh tế.
<b>Độc quyền mở rộng nhờ tích tụ và tập trung tư bản </b>
Tích tụ và tập trung tư bản làm tăng quy mô của tư bản cá biệt, cùng với sự phát triển khoa học kỹ thuật và các quy luật thị trường đã thay đổi nền kinh tế theo hướng sản xuất quy mô lớn. Các doanh nghiệp nhỏ lẻ bắt đầu liên kết, sáp nhập với nhau tạo thành các tổ chức độc quyền.
Các doanh nghiệp độc quyền còn thỏa hiệp cùng nhau để nắm lấy địa vị độc quyền. Sự hợp tác ấy thơng qua hai hình thức: liên kết ngang và liên kết dọc:
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17"><small></small> Liên kết ngang là sự hình thành liên minh độc quyền trong cùng một lĩnh vực (giai đoạn đầu của quá trình độc quyền hóa).
<small></small> Liên kết dọc là sự hình thành liên minh độc quyền đa ngành, mở rộng ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
Nhờ đó, các tổ chức độc quyền được chia thành các kiểu sau:
<small></small> <i>Cartel là sự thỏa thuận giữa các tổ chức độc quyền về các hoạt động kinh doanh</i>
thực tiễn như giá cả, sản lượng hàng hóa, thị trường tiêu thụ,...; nhằm tối đa hóa lợi nhuận và giảm cạnh tranh. Tuy nhiên liên minh này thường không bền vững vì mỗi doanh nghiệp ln theo đuổi lợi ích riêng, luôn muốn đạt được nhiều hơn so với thỏa thuận.
<small></small> <i>Syndicate là hình thức tổ chức độc quyền ổn định hơn Cartel. Các xí nghiệp tham</i>
gia hình thức này vẫn giữ độc lập về sản xuất, còn về lưu thơng hàng hóa sẽ được điều hành, quản lý bởi một ban quản trị chung. Lợi ích Syndicate mang lại là lợi nhuận đạt được cao hơn nhờ thống nhất đầu mối mua-bán để mua nguyên liệu với giá rẻ, bán hàng hóa với giá cao.
<small></small> <i>Trust là tổ chức độc quyền dạng công ty cổ phần. Các nhà tư bản tham gia vào sẽ</i>
thành những cổ đông và nhận cổ tức theo số cổ phần.
<small></small> <i>Consortium là một hình thức độc quyền có trình độ và quy mơ lớn với kiểu liên kết</i>
dọc. Thành viên của Consortium ngoài những nhà tư bản cịn có các hình thức liên minh độc quyền trên, thuộc các ngành khác nhau có liên quan đến kinh tế, kỹ thuật.
Mơ hình độc quyền hóa ngày càng phổ biến, kết hợp với sự tiến bộ của khoa học công nghệ và lực lượng sản xuất nên các hình thức liên minh độc quyền thêm đa dạng hơn. Không chỉ phát triển trong phạm vi một ngành, một quốc gia; mà đã liên minh theo cả hai chiều dọc và ngang, cả ở trong nước hay quốc tế. Là tiền đề cho khái niệm "công ty độc quyền xuyên quốc gia" ra đời, tạo thêm hai hình thức tổ chức độc quyền mới: Concern và Conglomerate
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18"><small></small> <i>Concern là tổ chức độc quyền đa ngành, đa quốc gia. Bởi có thành viên là hàng</i>
trăm công ty thuộc các lĩnh vực khác nhau (có thể có hoặc khơng có quan hệ sản xuất). Mục tiêu hướng đến là khắc phục tình trạng cạnh tranh gay gắt việc kinh doanh chun mơn hóa hẹp. Hơn nữa, các Concern cũng dễ đối phó với luật chống độc quyền.
<small></small> <i>Conglomerate khác với Concern về quy mô khi đây là sự kết hợp giữa nhiều doanh</i>
nghiệp vừa và nhỏ, gần như khơng có liên quan trực tiếp đến sản xuất hoặc dịch vụ cho sản xuất. Đa phần các khoản lợi thu được là từ kinh doanh chứng khốn.
Các tổ chức độc quyền ln có xu hướng mở rộng phạm vi hoạt động, tăng quy mô hoạt động kinh tế. Từ các hình thức tổ chức độc quyền trên, các doanh nghiệp độc quyền liên minh theo nhiều cách và hướng đến mục tiêu phát triển trở thành những cơng ty xun quốc gia.
<b>Tư bản tài chính và hệ thống tài phiệt - nguyên nhân quyền lực độc quyền thao túngthị trường </b>
Khi chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do đến một mức độ nào đó sẽ dẫn đến độc quyền. Q trình tích tụ và tập trung sản xuất trong ngân hàng cũng như trong công nghiệp hình thành nên độc quyền ngân hàng và độc quyền công nghiệp:
<small></small> <i>Độc quyền ngân hàng được tạo thành bởi các hoạt động đào thải và thơn tính giữa</i>
các ngân hàng lớn - nhỏ. Các ngân hàng nhỏ, độc lập giảm dần, bị sáp nhập vào các ngân hàng có thị phần cao hơn và mơ hình ngân hàng lớn với nhiều chi nhánh dần tăng lên. Điều này vừa có điểm lợi cũng có bất lợi. Lợi ích thu về chính là loại bỏ được các ngân hàng yếu kém và có thể tạo ra được những ngân hàng lớn có đủ sức mạnh để cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Còn điểm bất lợi ở đây, chính là một mơ hình ngân hàng lớn mạnh kéo theo những vấn đề trong các khâu quản lý, dịch vụ,...
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19"><small></small> <i>Độc quyền công nghiệp là hình thức liên minh giữa các doanh nghiệp độc quyền.</i>
Nhằm giảm cạnh tranh, hợp tác đơi bên cùng có lợi, tạo thế liên minh nắm quyền lực thị trường.
Độc quyền ngân hàng cho phép các tổ chức độc quyền trong ngành công nghiệp vay và gửi các khoản tiền lớn trong dài hạn. Cịn các độc quyền cơng nghiệp tham gia vào ngành ngân hàng bằng cách mua cổ phần, chi phối các hoạt động của độc quyền ngân hàng. Bởi thế mà 2 tổ chức độc quyền ngân hàng và cơng nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ, kiểm soát nhau. Sự kết hợp này tạo nên "Tư bản tài chính".
V.I.Lênin từng nói: “Tư bản tài chính là kết quả hợp nhất giữa tư bản ngân hàng của một số ngân hàng độc quyền lớn nhất, với tư bản của những liên minh độc quyền về công nghiệp”. Tư bản tài chính xuất hiện đem lại sự liên kết thị trường mạnh mẽ, xuất hiện thêm các ngành kinh tế mới.
<small></small> Trước hết là sự liên kết mạnh mẽ giữa ngân hàng và các doanh nghiệp công nghiệp khác dưới hình thức "người cho vay - kẻ đi vay". Ngân hàng sẽ cho các công nghiệp vay vốn và đảm bảo kinh doanh với điều kiện đi kèm: có lợi cùng hưởng, có lỗ cùng chịu. Ngồi ra bên ngân hàng còn đầu tư vào bất động sản, phương tiện sản xuất nhằm cho thuê lại.
<small></small> Các ngành kinh tế mới xuất hiện như ngành bảo hiểm, dịch vụ,... ngày càng phổ biến. Những thay đổi này diễn ra ngày càng nhanh và rộng rãi bởi quá trình liên kết cộng xâm nhập lẫn nhau giữa tư bản ngân hàng và tư bản cơng nghiệp.
Tư bản tài chính ngày càng lớn mạnh, vơ hình chung tạo nên một nhóm nhỏ độc quyền, chi phối mọi hoạt động kinh tế - chính trị của xã hội, được gọi là tài phiệt (đầu sỏ tài chính):
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20"><small></small> Về mặt kinh tế, các ơng "trùm tài chính" thực hiện sự thống trị của mình thơng qua "chế độ tham dự". Thực chất đây là hoạt động thu mua cổ phiếu khống chế, qua đó chi phối cơng ty gốc hay cịn gọi là "cơng ty mẹ". Tiếp tục áp dụng cách thức đó để thống trị các "cơng ty con", rồi đến "công ty cháu",...trở thành "nhà cầm quyền" cả một hệ thống các doanh nghiệp lớn nhỏ khác nhau. Khơng những thế, các nhà tài phiệt cịn lập cơng ty mới, phát hành chứng khốn, đầu cơ ruộng đất,... với mong muốn củng cố địa vị và thu lại lợi nhuận độc quyền cao.
<small></small> Về mặt chính trị, hệ thống tài phiệt cịn có thể nhúng tay vào các hoạt động như chính sách đối nội, đối ngoại, bầu cử,... ; khiến cho nhà nước tư bản trở thành "cơng cụ" phục vụ cho lợi ích của giới tài phiệt. Sự kiện chấn động trong lần bầu cử Tổng thống Mỹ thứ 25, khi bộ ba nhà tài phiệt quyền lực là John D. Rockefeller Sr. , Andrew Carnegie và J.P.Morgan đã liên minh cùng nhau đưa ứng viên đảng Cộng hòa William McKinley lên làm chủ Nhà Trắng. Sự khẩn trương ấy bắt nguồn từ lời cam kết quét sạch 3 đế chế tài phiệt này từ đại diện đảng Dân chủ - William Jennings Bryan. Vì vậy họ cùng một nhà tài phiệt khác đã chi 1 triệu USD (chưa kể đến các khoản đút lót cho báo giới). Cuối cùng, tháng 11/1896, giới tài phiệt thắng khi tỷ lệ phiếu bầu của McKinley chiếm 51% so với 47% của đối thủ. Đó chính là quyền lực chi phối chính trị của hệ thống tài phiệt, thao túng tất cả nhằm đạt được lợi ích cá nhân.
<b>Xuất khẩu tư bản trở nên phổ biến </b>
V.I.Lênin vạch ra rằng:" xuất khẩu hàng hóa là đặc điểm của giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, còn xuất khẩu tư bản là đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền".
Trước hết, phân biệt giữa "xuất khẩu hàng hóa" và "xuất khẩu tư bản". Xuất khẩu hàng hóa là hoạt động thương mại giữa hai hay nhiều quốc gia với nhau nhằm tăng thu nhập cho các nước xuất khẩu, cải thiện thị trường lao động và tạo mối quan hệ hợp tác lâu
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">dài với nước bạn. Đối với xuất khẩu tư bản, không đơn thuần là mua bán của cải vật chất, mà là đầu tư tư bản ở nước ngoài để thu giá trị thặng dư và các nguồn lợi khác ở các nước nhập khẩu tư bản.
Về hình thức, xuất khẩu tư bản được chia thành:
<small></small> <i>Đầu tư trực tiếp (FDI) là hình thức xuất khẩu tư bản thơng qua việc xây dựng công</i>
ty mới hoặc mua lại các công ty đang hoạt động ở nước nhận đầu tư, biến nó trở thành chi nhánh của cơng ty mẹ. Các doanh nghiệp mới được hình thành chịu sự quản lý song phương, nước xuất khẩu tư bản rót vốn thêm vào hoặc đơi khi các doanh nghiệp này có tồn bộ số vốn là từ một cơng ty nước ngồi. Đơn giản đây là hình thức chủ doanh nghiệp muốn mở rộng thị trường ra quốc tế, có thêm chi nhánh nước ngoài, thu được lợi nhuận cao hơn dựa vào chênh lệch tỉ giá hối đoái.
<small></small> <i>Đầu tư gián tiếp (ODA) hay còn gọi là xuất khẩu tư bản cho vay. Chính là cho các</i>
nước nhập khẩu tư bản vay cịn nhà đầu tư thì thu lợi tức từ việc làm đó. Hay các hoạt động như mua chứng khoán, đầu tư quỹ,... cũng nằm trong phạm vi của đầu tư gián tiếp. Khi này nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Về chủ thể xuất khẩu, xuất khẩu tư bản được chia thành:
<small></small> <i>Xuất khẩu tư bản tư nhân do tư nhân thực hiện, thường đầu tư vào những ngành có</i>
vịng quay vốn ngắn và thu được lợi nhuận độc quyền cao. Ngày nay, hình thức này chủ yếu do các cơng ty xuyên quốc gia tiến hành thông qua hoạt động đầu tư kinh doanh. Đây cũng là hình thức chiếm tỉ lệ cao nhất trong tổng tư bản xuất khẩu, với tỉ lệ từ hơn 50% (những năm 70 ở thế kỷ XX) đã tăng lên đến 70% (những năm 80 của thế kỷ XXI).
<small></small> <i>Xuất khẩu tư bản nhà nước do nhà nước tư bản độc quyền đảm nhận, bằng cách</i>
lấy tư bản từ ngân quỹ của mình đầu tư vào nước nhập khẩu tư bản, hay dưới các cách khác như cho vay, viện trợ hoàn lại hoặc khơng hồn lại,... để thực hiện mục đích chính trị, kinh tế, quân sự. Về kinh tế, xuất khẩu tư bản nhà nước thường
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">hướng vào các ngành thuộc kết cấu hạ tầng để tạo thuận lợi cho đầu tư tư bản tư nhân. Xét về chính trị, các viện trợ của nhà nước tư bản nhằm giúp đỡ các nước nhập khẩu có thêm điều kiện chi trả các hoạt động phía chính phủ, củng cố vị thế hay tạo mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa hai nước. Về quân sự cũng thế, viện trợ cho nước bạn với mục đích lơi kéo, lập căn cứ qn sự,...phục vụ cho mục đích quốc phịng.
<b>Phân chia thị trường thế giới là kết quả tất yếu của sự cạnh tranh giữa các tổ chứcđộc quyền</b>
"Tư bản tài chính", "xuất khẩu tư bản" là một trong các nguyên nhân gây phân chia thị trường thế giới. Bởi ở các hoạt động kinh tế đó tồn tại sự cạnh tranh khốc liệt giữa các tổ chức độc quyền với nhau. Mặc dù được giải quyết ổn thỏa bằng cách hình thành liên minh hay thơng qua các hợp đồng thỏa thuận thì tất yếu vẫn dẫn tới sự phân chia thế giới về mặt kinh tế giữa các tập đồn tư bản độc quyền và hình thành các liên minh độc quyền quốc tế. Vì vậy Lênin từng kết luận:" Nói theo nghĩa bóng thì các nước xuất khẩu tư bản đã chia nhau thế giới. Nhưng tư bản tài chính thì cũng đã dẫn đến chỗ trực tiếp phân chia thế giới".
<b>Sự phân chia thế giới về kinh tế tất yếu dẫn đến phân chia thế giới về lãnh thổ</b>
Khi chủ nghĩa tư bản càng phát triển, nhu cầu về nguyên liệu ngày càng cao, cùng với chiến lược chính trị phía "nhà cầm quyền" thì các cuộc chiến tranh xâm chiếm thuộc địa càng nổ ra nhiều hơn. Cho đến đầu thế kỷ XX sự phân chia lãnh thổ mới hoàn tất. Do sự phân chia lãnh thổ và quyền lực thị trường giữa các cường quốc tư bản không đồng đều, đã dẫn đến cuộc chiến đòi chia lại lãnh thổ thế giới. Đây cũng là nguyên nhân của hai cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914) và lần thứ hai (1939). Các đặc điểm kinh tế của độc quyền dưới chủ nghĩa tư bản có quan hệ chặt chẽ với nhau, nói lên bản chất của
</div>