Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (455.68 KB, 18 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘITên học phần : Luật Khoáng sảnGiáo viên hưỡng dẫn : Vũ Thị Thùy Dung</b>
<b>Hà Nội, ngày 17 tháng 04 năm 2023</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><b>A. LỜI NÓI ĐẦU...1</b>
<b>B. NỘI DUNG...2</b>
<b>I_ Khái niệm...2</b>
<b>II_ Hiện trạng khai thác khoáng sản tại Việt Nam...3</b>
<b>2. Ưu điểm của khai thác khoáng sản:...7</b>
<b>3. Nhược điểm của khai thác khoáng sản:...8</b>
<b>4. Nguyên nhân...10</b>
<b>III_ Đề xuất giải pháp đối với hoạt động khai thác khoáng sản tại Việt Nam...11</b>
<b>C. KẾT LUẬN...15</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3"><b>A. LỜI NÓI ĐẦU</b>
Trong suốt lịch sử, các khoáng sản đã được khai thác từ trái đất để sử dụng cho con người. Khoáng sản là những dạng vật chất rất gần gũi và đóng vai trò to lớn trong đời sống con người như sắt, than đá, kẽm, vàng, dầu khí, nước khống thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên... Khai thác khống sản là khai thác các khoáng vật như than đá và đá q… Ngành cơng nghiệp khai khống nói chung có những chu kỳ bùng nổ theo sát các điều kiện kinh tế toàn cầu. Lĩnh vực này phụ thuộc vào các ngành cơng nghiệp khác để tìm ra các mục đích sử dụng mới cho kim loại và khoáng sản và hỗ trợ nhu cầu tiếp tục khai thác.
Ngành công nghiệp khai khoáng hiện là ngành dành riêng cho việc xác định vị trí và khai thác các trữ lượng kim loại, khoáng sản trên thế giới. Dự trữ kim loại và khống sản trên tồn cầu được sử dụng trong sản xuất đồ trang sức, các ứng dụng công nghiệp và đầu tư. Lĩnh vực này có một số lượng đáng kể các cơng ty ở đa quốc gia và hoạt động mang về doanh thu lớn.
Công nghiệp khai thác và chế biến khống sản là một trong những ngành cơng nghiệp quan trọng đối với mỗi quốc gia, nó tạo ra nguồn nguyên liệu ổn định đáp ứng mọi nhu cầu trong nước, phần nào giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, giúp cho quốc gia sử dụng hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là những nước nghèo và chậm phát triển như Việt Nam.
Tuy nhiên thực trạng khai thác khoáng sản ở Việt Nam hiện vẫn diễn ra tràn lan với quy mô lớn. Công tác quản lý tại nhiều địa phương chưa đủ mạnh. Thậm chí nhiều địa phương cịn bng lỏng quản lý khiến tình trạng này dây dưa kéo dài. Vấn đề phối hợp trong quản lý khai thác, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác giữa một số địa phương còn hạn chế. Chưa xử lý triệt để hoạt động khai thác khoáng sản trái phép. Chưa kiên quyết xử lý người đứng đầu chính quyền địa
3
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">phương hoặc xử lý chưa kiên quyết,... do vậy cần nghiên cứu để đưa ra được biện pháp khắc phục, nâng cao hiệu quả quản lý.
Em xin được trình bày về đề tài: “Đánh giá hiện trạng khai thác khoáng sản tại Việt Nam và đề xuất giải pháp” .
<b>B. NỘI DUNG</b>
<b>I_ Khái niệm</b>
Theo Khoản 1 Điều 2 Luật khoáng sản năm 2010 quy định:
Khoáng sản là những dạng vật chất rất gần gũi và đóng vai trò to lớn trong đời sống con người như sắt, than đá, kẽm, vàng, dầu khí, nước khống thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên... Giá trị to lớn của khống sản cũng như tính phúc tạp của các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khảo sát, thăm dị, khai thác, chế biến khống sản tất yếu dẫn tới Nhà nước quản lí khống sản bằng pháp luật. Dưới góc độ pháp luật, khoáng sản được hiểu bao gồm các tài nguyên trong lịng đất, trên mặt đất dưới dạng những tích tụ tự nhiên khống vật, khống chất có ích ở thể rắn, thể lỏng, thể khí, hiện tại hoặc sau này có thể được khai.
Theo quy định tại Khoản 7 Điều 2 Luật Khoáng sản 2010 thì khai thác khống sản được hiểu như sau:
Khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạtđộng khác có liên quan.
Ngồi ra, cần hiểu thêm một số định nghĩa khác tại Luật này, cụ thể như sau: 1. Khoáng sản là khoáng vật, khống chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lịng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ.
4
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">2. Nước nóng thiên nhiên là nước thiên nhiên dưới đất, có nơi lộ trên mặt đất, ln có nhiệt độ tại nguồn đápứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam hoặc tiêu chuẩn nước ngoài được phép áp dụng tại Việt Nam.
3. Điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản là hoạt động nghiên cứu, điều tra về cấu trúc, thành phần vật chất, lịch sử phát sinh, phát triển vỏ trái đất và các điều kiện, quy luật sinh khoáng liên quan để đánh giá tổng quan tiềm năng khoáng sản làm căn cứ khoa học cho việc định hướng hoạt động thăm dị khống sản.
<b>II_ Hiện trạng khai thác khống sản tại Việt Nam.</b>
Từ khi đất nước ta hồn tồn giải phóng, cơng tác điều tra địa chất và tìm kiếm thăm dị khống sản mới được triển khai trên quy mơ tồn lãnh thổ Việt Nam. Trong công tác điều tra cơ bản, bằng việc lập bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1/50.000, đã phát hiện thêm nhiều vùng, điểm mỏ có triển vọng lớn. Kết quả của cơng tác điều tra, khảo sát, thăm dò địa chất cho thấy, Việt Nam có tiềm năng khống sản khá phong phú, đa dạng. Nhiều khống sản có trữ lượng lớn như bơxit, quặng sắt, đất hiếm, apatít,… chủng loại khống sản đa dạng.
<b>1. Hiện trạng khai thác và chế biến một số khống sản kim loại chính: Về quặng sắt:</b>
Ở Việt Nam hiện nay đã phát hiện và khoanh định được trên 216 vị trí có quặng sắt, có 13 mỏ trữ lượng trên 2 triệu tấn, phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở vùng núi phía Bắc.
Trong tất cả các mỏ quặng sắt của Việt Nam, đáng chú ý nhất là có hai mỏ lớn đó là mỏ sắt Quý Xa ở Lào Cai và mỏ sắt Thạch Khê ở Hà Tĩnh. Hàng năm, số lượng quặng sắt khai thác và chế biến ở Việt Nam đạt từ 300.000 – 450.000 tấn. Công suất khai thác của mỏ hiện nay là thấp hơn rất nhiều so với công suất thiết kế được phê duyệt. Công nghệ và thiết bị khai thác, chế biến ở mức trung bình, một số thiết bị khai thác cũ và lạc hậu, nên công suất bị hạn chế và không đảm bảo khai thác hết công suất theo các dự án được phê duyệt
Các mỏ cấp giấy phép tận thu khơng có thiết kế khai thác, hoặc có nhưng khi
5
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">khai thác khơng theo thiết kế. Vì chạy theo lợi nhuận trước mắt, các doanh nghiệp khai thác tận thu đã làm tổn thất tài nguyên (Không thu được quặng cám cỡ hạt từ 0-8mm) và môi trường bị ảnh hưởng.
Năng lực khai thác quặng sắt hiện nay có thể đáp ứng sản lượng là 500.000 tấn/năm. Thị trường quặng sắt hiện nay: 80% sử dụng trong nước, chủ yếu là để luyện thép, còn 20% xuất khẩu
<b> Về bơ xít</b>
Nước ta có tiềm năng rất lớn về quặng bơxít với tổng trữ lượng và tài nguyên dự báo đạt khoảng 5,5 tỷ tấn, phân bố chủ yếu ở tỉnh Đắc Nông, Lâm Đồng, Gia Lai, Bình Phước,…
Nhìn chung, nước ta có trữ lượng tài ngun bơxít lớn, chất lượng tương đối tốt, phân bố tập trung, điều kiện khai thác thuận lợi. Mặt khác, thị trường cung – cầu sản phẩm alumin trên thị trường thế giới hiện nay rất thuận lợi cho phát triển ngành công nghiệp nhôm ở nước ta. Bên cạnh nước ta là Trung Quốc có nhu cầu nhập khẩu rất lớn về alumin, hàng năm khoảng 5-6 triệu tấn alumin. Do vậy, cần phải khai thác và chế biến sâu bơxít, điện phân nhơm để phát triển ngành công nghiệp nhôm phục vụ sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước.
<b> Về quặng titan:</b>
- Tài nguyên quặng titan:
Theo kết quả điều tra, thăm dò địa chất, cho tới nay đã phát hiện 59 mỏ và điểm quặng titan, trong đó có 6 mỏ lớn có trữ lượng từ 1 đến 5 triệu tấn, 8 mỏ trung bình có trữ lượng > 100.000 tấn và 45 mỏ nhỏ và điểm quặng.
Xét về tổng thể, quặng titan Việt Nam không nhiều, nhưng đủ điều kiện để phát triển ngành titan đồng bộ từ khâu khai thác và chế biến sâu với quy mô công nghiệp không lớn, đáp ứng nhu cầu trong nước, thay nhập khẩu, có hiệu quả hn nhiều so với xuất khẩu quặng tinh và nhập khẩu pigment, ilmenhit hoàn nguyên và zircon mịn ngay trước mắt và lâu dài cho các ngành công nghiệp
- Hiện trạng khai thác và chế biến quặng titan:
6
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">Do thuận lợi về mặt tài nguyên, công nghệ và thiết bị đơn giản và có thể tự chế tạo trong nước, vốn đầu tư khơng lớn, có thị trường, lợi nhuận cao cho nên khai thác, chế biến và xuất khẩu quặng titan Việt Nam đang phát triển. Ngành Titan hoạt động với giá trị xuất khẩu quặng tinh titan 20-30 triệu USD/năm, có hiệu quả kinh tế đáng kể, đặc biệt có ý nghĩa kinh tế xã hội với nhiều địa phương suốt dọc ven biển từ Thanh Hố đến Bình Thuận.
Tuy nhiên trong những năm gần đây, do quản lý không chặt chẽ, và lợi dụng hình thức “khai thác tận thu” đơn vị khai thác và chế biến quặng titan, chỉ đầu tư nửa vời, tách được ilmenhít, phần cịn lại giàu zircon rutin và momazít được bán ra nước ngồi ở dạng thơ, trong đó có cả các đơn vị không đủ khả năng, năng lực chuyên môn, kinh nghiệm quản lý, khai thác bừa bãi bất hợp pháp, “nhảy cóc” gây lãng phí tài ngun, gây tác động xấu đến mơi trường, gây tình trạng tranh chấp trong sản xuất và thị trường. Chế biến quặng tinh và nghiền mịn zircon mới được thực hiện ở số ít doanh nghiệp khai thác và chế biến quặng titan.
Tóm lại, có thể đánh giá hiện trạng cơng nghệ khai thác và tuyển quặng titan ở Việt Nam như sau:
- Tài nguyên trữ lượng quặng titan – zircon của Việt Nam không nhiều, chiếm khoảng 0,5% của thế giới.
- Ngành Titan Việt Nam đã làm chủ hồn tồn được cơng nghệ khai thác và tuyển quặng titan, các chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật đạt mức tiên tiến của khu vực và thế giới, thu được các quặng tinh riêng rẽ, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. - Thiết bị cho công nghệ tuyển và phụ trợ hồn tồn có thể sản xuất trong nước với chất lượng khá tốt và giá thành rất cạnh tranh về thiết bị khai thác chỉ nhập thiết bị xúc bốc như máy đào, gạt, ôtô vận tải. Tuy nhiên, hiện nay nước ta chưa có công nghệ chế biến sâu quặng titan.
- Ngành Titan phát triển thiếu quy hoạch, mất cân đối, chưa có cơng nghệ chế biến sâu, hiện nay đang phải xuất quặng tinh, nhưng đang phải nhập khẩu các chế phẩm từ quặng titan cho nhu cầu trong nước với mức độ tăng.
7
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8"><b> Về quặng thiếc:</b>
Ở nước ta, thiếc được khai thác sớm nhất tại vùng Pia Oắc – Cao Bằng khoảng cuối thế kỷ XVIII. Đến 1945, người Pháp đã khai thác khoảng 32.500 tấn tinh quặng SnO2. Sau hồ bình lập lại, mỏ thiếc Tĩnh Túc Cao Bằng được Liên Xô (cũ) thiết kế và trang bị bắt đầu hoạt động từ 1954. Đây cũng là mỏ thiếc lớn đầu tiên khai thác, chế biến có quy mơ công nghiệp.
Công nghệ khai thác ở các mỏ quy mô công nghiệp chủ yếu là khai thác bằng ôtô, máy xúc, tuyển trọng lực, tuyển từ, tuyển điện và cơng nghệ luyện kim bằng lị phản xạ, lị điện hồ quang.
Hiện nay, cơng nghệ luyện thiếc bằng lị điện hồ quang do Viện Nghiên cứu Mỏ và Luyện kim nghiên cứu thành công và chuyển giao, ứng dụng vào sản xuất đã đạt được những chỉ tiêu KT-KT tiên tiến. Bằng việc nghiên cứu ứng dụng điện phân thiếc đạt thiếc thương phẩm loại I: 99,95%; Viện Nghiên cứu Mỏ và Luyện kim và Công ty Luyện kim mầu Thái Nguyên đã xây dựng các xưởng điện phân thiếc với công suất: 500-600t/n xưởng. Hiện nay, có ba xưởng điện phân thiếc thương phẩm loại I xuất khẩu với tổng công suất là 1.500t/năm - 1.800t/năm.
<b> Về quặng đồng:</b>
Quặng đồng phát hiện ở Việt Nam cho tới nay đáng kể nhất là ở mỏ đồng Sinh Quyền – Lào Cai, sau đó là mỏ đồng Niken – Bản Phúc.
Dự án đầu tư xây dựng liên hợp mỏ tuyển luyện đồng Sinh Quyền quy mô lớn đang thực hiện, chủ đầu tư là Tổng cơng ty Khống sản Việt Nam thuộc Tập đồn Cơng nghiệp Than – Khống sản Việt Nam – với công nghệ và thiết bị nhập của Trung Quốc. Khu luyện kim và axit được xây dựng tại khu Công nghiệp Tằng Loỏng - Lào Cai.
Công nghệ khai thác lộ thiên kết hợp với hầm lị. Cơng nghệ tuyển nổi đồng để thu được quặng tinh đồng, tinh quặng đất hiếm và tinh quặng manhêtit. Khâu luyện kim áp dụng phương pháp thuỷ khẩu sơn (luyện bể) cho ra đồng thô, sau
8
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">đó qua lị phản xạ để tinh luyện và đúc dương cực, sản phẩm đồng âm cực được điện phân cho đồng thương phẩm.
<b> Về quặng kẽm chì:</b>
Các mỏ kẽm chì ở nước ta đã được phát hiện và khai thác, chế biến từ hàng trăm năm nay.
Hiện nay, Công ty Kim loại mầu Thái Nguyên đã xây dựng xong nhà máy điện phân kẽm kim loại tại khu Công nghiệp Sông Công Thái Nguyên với công nghệ, thiết bị của Trung Quốc công suất kẽm điện phân là: 10.000t/năm. Trên cơ sở nắm chắc tài nguyên, và kết quả thăm dị trong các năm 2008-2010, Tổng cơng ty KSVN sẽ tiến hành đầu tư khai thác và tuyển các mỏ kẽm – chì Nơng Tiến – Tràng Đà, Thượng ấn, Cúc Đường, Ba Bồ,… với quy mô công suất tuyển từ 40.000-60.000 tấn quặng nguyên khai/năm. Từ nguồn nguyên liệu là tinh quặng tuyển nổi và bột kẽm từ 50.000-100.000 tấn quặng nguyên khai/năm, sẽ tiến hành xây dựng hai nhà máy điện phân kẽm tại Tuyên Quang và Bắc Cạn với công suất mỗi nhà máy khoảng 20.000 tấn kẽm/năm. Xây dựng một nhà máy luyện chì và tách bạc với cơng suất 10.000 tấn chì thỏi và 15.000 kg bạc/năm. Các nhà máy điện phân kẽm và luyện chì dự kiến sẽ xây dựng trong giai đoạn 2008-2015.
Như vậy, nếu tài nguyên cho phép sau khi đã thăm dị nâng cấp trữ lượng, thì dự kiến đến năm 2010, sản lượng kẽm thỏi sẽ đạt 20.000-30.000 tấn/năm và khoảng 10.000 tấn chì thỏi/năm, đưa tổng thu nhập lên 35 triệu USD/năm.
<b>2. Ưu điểm của khai thác khoáng sản:</b>
Cơng nghiệp khai thác khống sản là phương tiện đi đến xóa đói, giảm nghèo và phát triển bền vững. Như vậy, về lý thuyết, khai thác khống sản góp phần làm tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và cải thiện cơ sở hạ tầng. Những yếu tố này chính là động lực cho xóa đói, giảm nghèo.
9
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10"><b>3. Nhược điểm của khai thác khoáng sản: </b>
Hiện nay, cơng nghiệp khai khống ở nước ta chỉ tập trung chủ yếu là khai thác than ở Quảng Ninh, sắt ở Trại Cau (Thái Nguyên), đồng ở Sinh Quyền (Lào Cai), vàng Bồng Miêu, titan ở Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Bình Định, Bình Thuận..., cịn ở các địa phương khác thì khai thác chế biến quy mơ rất nhỏ như chì, kẽm, thiếc, antimoan, crơm… và một số ngun liệu khống như đá vơi, đá trắng, cao lanh… Những cơ sở nhỏ thường không đem lại nguồn thu cho ngân sách nhiều do sản lượng thấp, sản phẩm thô, công nghệ lạc hậu và khai thác chế biến không hiệu quả. Một số dự án lớn đang được triển khai như: Titan Bình Định, Bình Thuận, sắt Quý Xa, sắt Thạch Khê… đang ít nhiều gặp phải các vấn đề về môi trường, công nghệ chế biến, nguồn vốn và thị trường tiêu thụ. Đặc biệt, công nghiệp khai khống là ngành địi hỏi đầu tư dài hạn lại chịu nhiều rủi ro. Dài hạn là vì trước khi đầu tư cơ sở sản xuất, chế biến ra sản phẩm, các dự án liên quan đến khai khống cịn phải trải qua giai đoạn điều tra, thăm dò địa chất để đánh giá hàm lượng và trữ lượng của mỏ. Tiếp theo là công tác thiết kế khai trường và nhiều công đoạn khác, hoặc gặp rủi ro khi chính sách có thể thay đổi hay liên quan đến thuế tài nguyên, nhiều khoản lệ phí thu theo quy định của địa phương (mỗi nơi mỗi kiểu thu). Ví dụ, với quặng sắt thì thuế tài ngun có tỉnh thu 45.000đ/tấn, có tỉnh thu 10.000đ/tấn (tùy thuộc vào giá tính thuế do tỉnh quy định), hay ngồi lệ phí tài ngun, có tỉnh cịn thu phí giao thơng
60.000đ/tấn. Các mức thu thuế và lệ phí trên hồn tồn có thể thay đổi theo hướng tăng lên khiến chi phí của nhà đầu tư luôn phải chịu những biến động khó lường. Chưa hết, rủi ro tiếp theo là từ công tác địa chất, ngành đánh giá theo số liệu dự báo về trữ lượng và hàm lượng bình quân của tài nguyên khoáng sản mà mỗi cấp độ dự báo chính xác càng cao thì chi phí càng lớn. Để có số liệu đi đến quyết định cuối cùng thì nhà đầu tư đã phải bỏ ra nhiều tỷ đồng để làm công tác địa chất, quyết định đó có thể là tài ngun khơng đủ để đầu tư khai thác công nghiệp và chịu thua lỗ chi phí làm địa chất. Hoặc trữ lượng tài ngun khơng đạt được con số kỳ vọng, chi phí làm địa chất phân bổ sẽ chiếm tỷ trọng
10
</div>