Tải bản đầy đủ (.pdf) (153 trang)

Giải pháp giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện mộc châu, tỉnh sơn la

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.87 MB, 153 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>––––––––––––––––––––––––––– </b>

<b>HÀ VĂN CƯỜNG </b>

<b>GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI </b>

<b> HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA </b>

<b>LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG <small>NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ </small></b>

<b>THÁI NGUYÊN - 2022</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH ––––––––––––––––––––––––––– </b>

<b>HÀ VĂN CƯỜNG </b>

<b>GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI </b>

<b> HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA </b>

<b><small>NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ Mã số: 8.34.04.10 </small></b>

<b><small>LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG </small></b>

<b><small>Giáo viên hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Việt Dũng </small></b>

<b>THÁI NGUYÊN - 2022 </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>LỜI CAM ĐOAN </b>

Tôi xin cam đoan luận văn này là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa công bố tại bất kỳ nơi nào, mọi số liệu sử dụng trong luận văn này là những thông tin xác thực. Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình.

<i>Thái Nguyên, ngày tháng năm 2022 </i>

<b> Tác giả luận văn </b>

<b> Hà Văn Cường </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>LỜI CẢM ƠN </b>

Để hồn thành được luận văn này, tơi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và động viên từ các thầy cơ giáo, các ban ngành cùng tồn thể cán bộ nơi tôi chọn làm địa bàn nghiên cứu, gia đình và bạn bè.

Trước tiên, tơi xin trân trọng cảm ơn tồn thể các thầy cơ giáo và Ban giám hiệu nhà trường Đại học kinh tế và Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản và tạo điều kiện giúp đỡ tơi hồn thành luận văn này.

Đặc biệt, tơi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS. Nguyễn Việt Dũng, người đã dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tơi hồn thành q trình nghiên cứu đề tài này.

Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Chủ tịch huyện Mộc Châu, các phòng ban, cán bộ công nhân viên huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiếp cận và thu thập những thông tin cần thiết cho đề tài.

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã động viên và giúp đỡ tôi về tinh thần, vật chất trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.

<i>Tôi xin chân thành cảm ơn! </i>

<i><small>Thái Nguyên, ngày tháng năm 2021 </small></i>

<i><b><small> Tác giả luận văn </small></b></i>

<b><small> Hà Văn Cường </small></b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<small>1. Tính cấp thiết của đề tài ... 1</small>

<small>2. Mục tiêu nghiên cứu ... 3</small>

<small>3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ... 3</small>

<small>4. Kết cấu của luận văn ... 3</small>

<b>CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ ... 5</b>

<small>1.1. Những vấn đề chung về giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số ... 5</small>

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm đồng bào dân tộc thiểu số ... 5

1.1.2. Khái niệm và sự cần thiết giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số ... 9

1.1.3. Các tiêu chí đánh giá, đo lường mức mức nghèo đa chiều ... 26

<small>1.2. Nội dung giảm nghèo theo tiếp cận đa chiều ... 31</small>

1.2.1. Xây dựng kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều ... 31

1.2.2. Tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch giảm nghèo tiếp cận đa chiều .. 32

1.2.3. Kiểm tra, giám sát và đánh giá thực hiện kế hoạch giảm nghèo tiếp cận

<small>1.4. Kinh nghiệm thực hiện giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số ở một số địa phương và bài học có thể vận dụng cho huyện mộc châu, tỉnh sơn la. ... 42</small> 1.4.1 Kinh nghiệm thực hiện giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An ... 42

1.4.2 Kinh nghiệm thực hiện giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai ... 45

1.4.3. Bài học kinh nghiệm đối với huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La ... 48

<b>CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ... 51</b>

<small>2.1. Câu hỏi nghiên cứu ... 51</small>

<small>2.2. Phương pháp nghiên cứu ... 51</small>

2.2.1. Phương pháp thu thập thông tin ... 51

2.2.3. Phương pháp phân tích số liệu ... 53

<small>2.3. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu ... 55</small>

2.3.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh thực trạng kinh tế ... 55

2.3.2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh thực trạng nghèo đa chiều ... 55

2.3.3. Nhóm chỉ tiêu phản ánh việc thực hiện chính sách giảm nghèo ... 56

2.3.4. Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ bền vững của giảm nghèo theo tiếp cận đa chiều…….. ... 56

<b>CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA... 57</b>

<small>3.1. Khái quát chung huyện mộc châu, tỉnh sơn la. ... 57</small>

3.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên... 57

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội ... 59

3.1.3. Thực trạng nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La…………. ... 63

<small>3.2. Thực trạng giảm nghèo theo tiếp cận đa chiều của đồng bào dân tộc thiểu số huyện mộc châu, tỉnh sơn la. ... 70</small>

3.2.1. Xây dựng kế hoạch giảm nghèo theo tiếp cận đa chiều cho đồng bào dân tộc thiểu số ... 70

3.2.2. Công tác tổ chức triển khai kế hoạch giảm nghèo theo tiếp cận đa chiều của đồng bào dân tộc thiểu số huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La ... 72 3.2.3. Thực trạng công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá thực hiện kế hoạch

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

giảm nghèo tiếp cận đa chiều ... 100

<small>3.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện mộc châu. ... 103</small>

3.5.3. Nguyên nhân của hạn chế ... 122

<b>CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA ... 126</b>

<small>4.1. Mục tiêu giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số huyện mộc châu, tỉnh sơn la đến năm 2025. ... 126</small>

4.1.1. Mục tiêu chung ... 127

4.1.2. Chỉ tiêu cụ thể ... 127

<small>4.2. Giải pháp hồn thiện cơng tác giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số huyện mộc châu, tỉnh sơn la. ... 128</small>

4.2.1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nhận thức về giảm nghèo đa chiều tới các cấp, các ngành và người dân. ... 128

4.2.2. Hồn thiện cơ chế chính sách của nhà nước và địa phương về giảm nghèo theo tiếp cận đa chiều. ... 129

4.2.3. Giải pháp hỗ trợ người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản ... 131

4.2.4. Một số giải pháp khác ... 135

<b>KẾT LUẬN ... 136</b>

<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO ... 137</b>

<b>PHỤ LỤC ... 139</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<b>DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT </b>

BHYT : Bảo hiểm y tế

HĐND : Hội đồng nhân dân

LĐTB&XH : Lao động thương binh và xã hội NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

NTM : Nông thôn mới

UBND : Ủy ban nhân dân XĐGN : Xóa đói giảm nghèo

DTTS : Dân tộc thiểu số

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

<b>DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ </b>

Bảng 1.1:Xác định nghèo đa chiều ở Việt Nam ... 12 Bảng 3.1: Dân số trung bình huyện Mộc Châu giai đoạn 2018 – 2020 ... 60 Bảng 3.2:Thực trạng hộ nghèo dân tộc thiểu số giai đoạn 2019 – 2021 huyện Bảng 3.7: Kinh phí thực hiện các chính sách giáo dục và đào tạo ... 79 Bảng 3.8: Thực trạng thiếu hụt về y tế của hộ nghèo DTTS giai đoạn 2019 –

2021 huyện Mộc Châu ... 82 Bảng 3.9: Thực trạng thiếu hụt về nhà ở của hộ nghèo DTTS giai đoạn 2019 –

2021 huyện Mộc Châu ... 87 Bảng 3.10: Thực trạng thiếu hụt về điều kiện sống của hộ nghèo DTTS giai

đoạn 2019 – 2021 huyện Mộc Châu ... 90 Bảng 3.11: Thực trạng thiếu hụt về tiếp cận thông tin của hộ nghèo DTTS giai

đoạn 2019 – 2021 huyện Mộc Châu ... 93 Bảng 3.12: Khảo sát tổ chức triển khai kế hoạch giảm nghèo theo t iếp cận đa

chiều của đồng bào DTTS huyện Mộc Châu ... 99 Bảng 3.13:Khảo sát công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá thực hiện kế hoạch

giảm nghèo tiếp cận đa chiều cho đồng bào DTTS huyện Mộc Châu ... 102 Bảng 3.14: Các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đa chiều của hộ nghèo DTTS

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

huyện Mộc Châu năm 2021 ... 104 Bảng 3.15:Trình độ học vấn của chủ hộ điều tra ... 107 Bảng 3.16: Khảo sát năng lực vươn lên thoát nghèo của đồng bào DTTS huyện

Mộc Châu ... 108 Bảng 3.17Số hộ nhân khẩu của hộ nghèo DTTS ... 109 Bảng 3.18:Khảo sát bộ máy tổ chức quản lý thực hiện giảm nghèo tiếp cận đa

chiều cho đồng bào DTTS huyện Mộc Châu ... 111 Bảng 3.19: Khảo sát cơ chế chính sách của nhà nước và địa phương ảnh hưởng

đến giảm nghèo tiếp cận đa chiều cho đồng bào DTTS huyện Mộc Châu ... 114 Bảng 3.20: Khảo sát sự phối hợp của các ban ngành, các tổ chức chính trị xã

hội ảnh hưởng đến giảm nghèo tiếp cận đa chiều cho đồng bào DTTS huyện Mộc Châu ... 115

Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Mộc Châu ... 57 Hình 3.2: Số hộ nghèo thiếu hụt các tiêu chí theo cách tiếp cận đa chiều ... 98

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

<b>LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài </b>

<small>Giảm nghèo cho dân tộc thiểu số là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, các dân tộc, nhóm dân cư. Đây là những nội dung quan trọng trong chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, bởi trong quá trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì vấn đề đói nghèo của quốc gia nói chung, đói nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng đang là vấn đề cấp thiết được đặt ra. Vì vậy, cơng tác giảm nghèo đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ở nước ta là mục tiêu quan trọng trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước và hội nhập sâu rộng nền kinh tế thế giới. </small>

<small>Mộc Châu là huyện miền núi, cao nguyên và biên giới, nằm ở hướng Đơng Nam của tỉnh Sơn La. Diện tích tự nhiên là 1.081,66 km</small><sup>2</sup><small>, chiếm 7,49% diện tích của tỉnh Sơn La, đứng thứ 8 trong số 12 huyện, thành phố của tỉnh Sơn La. Mộc Châu có đặc điểm đặc trưng địa hình vùng miền núi Tây Bắc, chia cắt phức tạp, nằm trên hệ thống núi đá vơi, có cao nguyên Mộc Châu với địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ, khí hậu mát mẻ. Với ưu thế về vị trí địa lý cùng tiềm năng về đất đai, tài nguyên và con người, trong những năm đổi mới đã tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, phát triển cơng nghiệp, ngành nghề. Tồn huyện có 15 đơn vị hành chính (13 xã; 02 thị trấn). (UBND huyện Mộc Châu, 2016 – 2020) </small>

<small>Trong những năm gần đây huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã áp dụng nhiều các giải pháp giảm nghèo nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đạt được những thành tựu nhất định. Việc thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc luôn được huyện đặc biệt quan tâm, tập trung triển khai, như: Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo theo Quyết định 102 của Thủ tướng Chính phủ, Chương trình 135; hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo theo Quyết định số 755 của Thủ tướng Chính phủ; chính sách hỗ trợ hộ nghèo vay vốn phát triển sản xuất, chính sách đối với người có uy tín... Tỷ lệ người dân được tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản, cơ sở hạ tầng được cải thiện rõ rệt, đời </small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

<small>sống người nghèo được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể. Theo báo cáo của UBND huyện Mộc Châu (tỉnh Sơn la), trong 05 năm giai đoạn 2016 – 2020, thông qua việc thực hiện các dự án, chính sách thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo đã tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần người dân trong huyện. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 12,74% xuống còn 4,94 % năm 2019, giảm 7,8% so với năm 2016. Bản đặc biệt khó khăn giảm từ 43 bản xuống cịn 28 bản, giảm 15 bản so với năm 2017; Xã đặc biệt khó khăn giảm từ 5 xã xuống còn 3 xã. Phát huy những kết quả đạt được đồng thời từ những bài học kinh nghiệm trong quá trình tổ chức thực hiện cơng tác giảm nghèo, Mộc Châu đã có một số kế hoạch định hướng hoạt động trong giai đoạn từ nay đến năm 2025. Trong các chỉ tiêu chủ yếu về xã hội huyện đề ra, bên cạnh những chỉ tiêu như tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế, đạt 95% trở lên, nâng tổng số trường học đạt chuẩn quốc gia là 30 trường, 78% gia đình đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa”... huyện Mộc Châu cịn xây dựng chỉ tiêu phấn đấu tỷ lệ hộ nghèo giảm còn dưới 3%, trung bình mỗi năm giảm 0,3% [13] Tuy nhiên, với chuẩn nghèo mới thì lỉ lệ nghèo cịn cao, kết quả giảm nghèo của thời gian qua chưa thực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo cao. Hoạt động của ban chỉ đạo cấp huyện và cấp xã cũng bộc lộ nhiều vấn đề hạn chế, bất cập, tình trạng trông chờ, ý lại của một bộ phận hộ nghèo chưa được khắc phục, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Chính vì vậy, rất cần có cơng trình nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống về vấn đề này, nhưng cho đến nay, chưa có cơng trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về lý luận cũng như thực tiễn đối với hoạt động thực hiện giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Xuất phát nhận thức đó, cùng với những kiến thực đã tiếp thu được trong suốt quá trình học tập </small>

<b><small>và nghiên cứu, học viên chọn đề tài “Giải pháp giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số tại Huyện Mộc Châu, Tỉnh Sơn La” làm luận văn thạc sỹ, nhằm mục đích </small></b>

<small>phân tích thực trạng giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Mộc Châu, từ đó rút ra những mặt được, mặt cịn hạn chế; từ đó đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số tại Huyện Mộc Châu, Tỉnh Sơn La trong thời gian tới, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của huyện Mộc Châu, của Tỉnh Sơn La. </small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

<b>2. Mục tiêu nghiên cứu 2.1. Mục tiêu chung </b>

Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng quản lý giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La giai đoạn 2019 -2021, luận văn đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý giảm nghèo cho đồng dân tộc thiểu số địa bàn huyện Mộc Châu trong thời gian tới.

<b>2.2. Mục tiêu cụ thể </b>

+ Hệ thống hóa những cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo.

+ Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện giảm nghèo cho đồng bào dân tốc thiểu số của huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La trong giai đoạn 2019 – 2021.

+ Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số của huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La trong giai đoạn 2019 – 2021.

+ Trên cơ sở phân tích rõ thực trạng giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Mộc Châu, Sơn La.

<b>3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu </b>

Nghiên cứu vấn đề hoạt động giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số.

<b>3.2. Phạm vi nghiên cứu </b>

<i><b>Về nội dung: Quản lý nhà nước về hoạt động giảm nghèo cho cho đồng </b></i>

bào dân tộc thiểu số theo tiếp cận đa chiều.

<i>Về không gian: Luận văn nghiên cứu trên địa bàn huyện Mộc Châu, tỉnh </i>

Sơn La.

<i>Về thời gian: Số liệu phân tích chủ yếu tập trung trong giai đoạn 2019 – 2021. </i>

<b>4. Kết cấu của luận văn </b>

Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, luận văn có 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số.

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.

Chương 3: Thực trạng giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

Chương 4: Định hướng và giải pháp giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

<b>CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ </b>

<b>1.1. Những vấn đề chung về giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số </b>

<i><b>1.1.1 Khái niệm và đặc điểm đồng bào dân tộc thiểu số </b></i>

<i>1.1.1.1 Khái niệm dân tộc thiểu số </i>

Khái niệm “dân tộc thiểu số” được sử dụng chính thức trong các văn kiện quốc tế và pháp luật của các quốc gia. Năm 1992, Đại hội đồng LHQ đã thông qua thuật ngữ “dân tộc thiểu số” dựa vào quan điểm của Gs. Francesco Capotorti (đặc phái viên của LHQ) đã đưa ra vào năm 1977:

Dân tộc thiểu số là thuật ngữ ám chỉ cho một nhóm người:

+ Cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là công dân của quốc gia này

+ Duy trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinh sống

+ Thể hiện bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tơn giáo và ngôn ngữ của họ

+ Đủ tư cách đại diện cho nhóm dân tộc của họ, mặc dù số lượng ít hơn trong quốc gia này hay tại một khu vực của quốc gia này

+ Có mối quan tâm đến vấn đề bảo tồn bản sắc chung của họ, bao gồm cả yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo và ngôn ngữ của họ.

Năm 1995, Liên Hiệp Âu Châu đưa ra khái niệm về dân tộc thiểu số trong công ước của Liên Hiệp Âu Châu về dân tộc thiểu số, rất gần với khái niệm của LHQ biểu quyết năm 1992: Dân tộc thiểu số ám chỉ cho một nhóm người từ một quốc gia khác đến cư trú trên lãnh thổ của quốc gia thuộc Liên Hiệp Âu Châu và có quốc tịch của khối Âu Châu

Tại khu vực Đông Nam Á, ASEAN chưa đưa ra một thuật ngữ chính thức nào về dân tộc thiểu số. Quan niệm thế nào là dân tộc thiểu số hoàn toàn phụ thuộc vào quan niệm của từng quốc gia.

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

Ở Việt Nam, khái niệm dân tộc thiểu số được sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp luật cũng như trong công tác nghiên cứu, học tập và trong hoạt động thực tiễn. Thuật ngữ này cũng được sử dụng chính thức trong các bản hiến pháp. Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về cơng tác dân tộc đưa ra khái niệm tại khoản 2 - điều 4 “dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

Dân tộc thiêu số là những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ lệ thấp trong tổng dân số cả nước, đa số các dân tộc thiểu số đều tập trung sinh sống ở những khu vực giáp biên giới, vùng sâu vùng xa, có điều kiện kinh tế khó khăn, vấn đề giáo dục, chăm sóc sức khỏe người dân cịn nhiều hạn chế.

Ngồi ra cộng đồng các dân tộc thiểu số ít người thường khó hịa nhập do họ sử dụng ngơn ngữ riêng, nhận thức cịn hạn chế, có nhiều phong tục tập qn cổ hủ.

Ở nước ta thì chỉ có dân tộc Kinh được coi là dân tộc đa số, chiếm tỷ lệ dân số lớn trong tổng số dân số cả nước, còn 53 dân tộc còn lại đều được xếp vào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên hiện nay số dân của một số dân tộc ngày càng tăng lên như Tày, Thái, Mường….đồng thời địa bàn sinh sống đã tản ra, trình độ văn hóa, kinh tế phát triển mạnh.

Do đặc điểm của cộng đồng dân tộc thiểu số mà trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm chú trọng đến việc phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa, giáo dục tại địa bàn các khu vực có dân tộc thiểu số sinh sống, góp phần tạo lập sự bình đẳng, phát triển đồng đều trên cả nước.

<i>1.1.1.2 Đặc điểm dân tộc thiểu số </i>

Dân tộc thiểu sồ thường được nhận biết thông qua những đặc điểm chủ yếu sau đây:

+ Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế. Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc. Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của cộng đồng dân tộc.

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

+ Có thể cư trú tập trung trên một vùng lãnh thổ của một quốc gia, hoặc cư trú đan xen với nhiều dân tộc anh em. Vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ đất nước.

+ Có ngơn ngữ riêng và có thế có chữ viết riêng (trên cơ sở ngôn ngữ chung của quốc gia) làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, tình cảm…

+ Có nét tâm lỳ riêng (nét tâm lý dân tộc) biểu hiện kết tinh trong nền văn hóa dân tộc và tạo nên bản sắc riêng của nền văn hóa dân tộc, gắn bó với nền văn hóa của cả cộng đồng các dân tộc (quốc gia dân tộc).

Như vậy, cộng đồng người ổn định chỉ trở thành dân tộc khi có đủ các đặc trưng trên, các đặc trưng của dân tộc là một chỉnh thể gắn bó chặt chẽ với nhau, đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định. Sự tổng hợp các đặc trưng nêu trên làm cho các cộng đồng dân tộc được đề cập ở đây - về thực chất là một cộng đồng xã hội – tộc người, trong đó những nhân tố tộc người đan kết, hòa quyện vào các nhân tố xã hội. Điều đó làm cho khái niệm dân tộc khác với khái niệm sắc tộc, chủng tộc – thường chỉ căn cứ vào các đặc điểm tự nhiên, chẳng hạn như màu da.

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, với 54 tộc người cùng sinh sống. Thực tiễn dân tộc ở Việt Nam là sự hình thành và phát triển của các khối cộng đồng người, các mối quan hệ tộc người xuất hiện từ rất sớm trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Vì vậy, DTTS Việt Nam có những nét đặc thù riêng như sau:

- Một là, các DTTS ở nước ta có dân số ít, quy mô không đồng đều và sống xen kẽ nhau. Các DTTS ở Việt Nam không sinh sống riêng biệt mà xen kẽ với các dân tộc khác. Thực tế hiện nay ở tất cả các tỉnh đều có nhiều DTTS cùng cư trú, sinh sống, đan xen lẫn nhau trên cùng đơn vị hành chính cấp xã, thơn bản. Mỗi địa phương đều có nhiều dân tộc cùng sinh sống. Đặc điểm này một mặt tạo ra sự gắn kết, chia sẻ, giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

dân tộc, song cũng tạo ra những khó khăn, thách thức khi thực hiện các chính sách về phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với từng dân tộc

- Hai là, DTTS ở nước ta cư trú chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới khó khăn. Mặc dù có dân số ít, song các DTTS ở nước ta lại cư trú hầu hết các tỉnh thành của cả nước. Địa bàn cư trú chủ yếu là vùng miền núi phía Bắc, vùng Tây duyên hải miền Trung, vùng Tây Nguyên, vùng Đông và Tây Nam bộ. Trên địa bàn mỗi tỉnh, hầu hết các DTTS (trừ một số dân tộc Hoa, Khmer, Chăm cư trú, sinh sống ở vùng đồng bằng, thành phố, thị trấn, thị tứ) cư trú ở khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, núi cao, địa hình bị chia cắt mạnh. Điểm tương đồng về địa bàn cư trú, sinh sống chủ yếu của đồng bào DTTS là nơi có cơ sở hạ tầng khó khăn. Vì vậy, gói đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng rất cao. Nhiều tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Tây duyên hải miền Trung thường xuyên bị thiếu nước sinh hoạt, nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, tưới tiêu. Thời tiết khắc nghiệt, mùa đông rét đậm, rét hại, băng giá, sương muối, mùa mưa thường xảy ra lũ quét, sạt lở đất…

- Ba là, các DTTS ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều. Các DTTS có sự phát triển khơng đồng đều, một số dân tộc có mức phát triển kinh tế - xã hội khá (Hoa, Tày, Sán Dìu…), tỷ lệ hộ nghèo thấp, các chỉ tiêu về giáo dục, đào tạo, nguồn nhân lực khá cao… nhưng cũng có nhiều dân tộc cịn rất khó khăn, tỷ lệ nghèo cao như Mông, Khơ Mú, La Hủ… Khoảng cách chênh lệch về đời sống, kinh tế - xã hội của các DTTS so với mặt bằng chung cả nước và dân tộc đa số trong thời gian gần đây có xu hướng ngày càng tăng. Đặc biệt, khoảng cách phát triển ngày càng xa giữa vùng DTTS ở miền núi, vùng sâu, vùng xa với vùng đồng bằng, thị trấn, thị tứ, thành phố. Phân tầng xã hội và khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng ngày càng lớn. Bên cạnh một số dân tộc đã tiếp cận với trình độ phát triển chung của đất nước thì đa số dân tộc vẫn cịn ở trình độ thấp, thậm chí rất thấp, nhất là các dân tộc ít người, các cộng đồng sống ở vùng núi cao phía bắc và Trường Sơn - Tây Nguyên.

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

Sinh kế của đồng bào các DTTS hiện nay chủ yếu thuộc lĩnh vực nông, lâm nghiệp. Tỷ lệ hộ nghèo cao hơn 2-3 lần so với mức trung bình cả nước.

- Bốn là, mỗi dân tộc có ngơn ngữ và văn hóa riêng. Sự đa dạng và những nét đặc thù về văn hóa thể hiện rõ nét trong từng dân tộc, nhóm dân tộc và vùng, miền đã góp phần tạo nên nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Mỗi dân tộc có phong tục, tập quán mang sắc thái riêng, độc đáo, tạo nên văn hóa tộc người. Nhiều cơng trình, sản phẩm văn hóa của đồng bào các dân tộc đã được bảo tồn, tôn vinh trở thành giá trị văn hóa của nhân loại.

- Năm là, một số DTTS ở Việt Nam có quan hệ đồng tộc xuyên biên giới với các nước láng giềng. Hiện nay, có nhiều DTTS ở nước ta có quan hệ đồng tộc xuyên biên giới với các nước láng giềng. Trong đó, nhiều nhất là với Trung Quốc có khoảng 22 dân tộc, với Lào có khoảng 14 dân tộc và với Campuchia có khoảng 9 dân tộc. Đây là yếu tố thuận lợi thúc đẩy quá trình gìn giữ, xây dựng, củng cố quan hệ hịa bình, hữu nghĩa và cùng phát triển giữa Việt Nam với các nước láng giềng. Nhưng đồng thời cũng đặt ra khơng ít khó khăn thách thức về quốc phòng, an ninh trật tự xã hội, đối ngoại, nhất là khu vực biên giới.

- Sáu là, một số DTTS gắn bó mật thiết với các tơn giáo. Hiện nay ở Việt Nam có một số dân tộc có đời sống, kinh tế - xã hội gắn liền với các tôn giáo. Trong đời sống tơn giáo tín ngưỡng, các tơn giáo, đặc biệt là đội ngũ chức sắc tơn giáo có vai trò rất lớn đối với đồng bào. Bên cạnh những tôn giáo truyền thống lâu đời gắn liền với các dân tộc như Phật giáo Nam tông đối với người Khmer; đạo Hồi, Bà Ni đối với người Chăm… những năm gần đây trong một số DTTS, đạo Tin Lành phát triển khá mạnh ở các tỉnh miền núi phía Bắc và khu vực Trường Sơn, Tây Nguyên.

<i><b>1.1.2. Khái niệm và sự cần thiết giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số </b></i>

<i>1.1.2.1 Khái niệm về nghèo và chuẩn nghèo theo cách tiếp cận đa chiều </i>

<i><b>a. Khái niệm về nghèo </b></i>

Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là khơng có đủ

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

ăn, đủ mặc, không được đi học, khơng được khám chữa bệnh, khơng có đất đai để trồng trọt hoặc khơng có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là khơng an tồn, khơng có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, khơng tiếp cận được nước sạch và cơng trình vệ sinh”. (Liên hợp quốc (UN), 6/2008)

“Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập. Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều. Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản.” (Đặng Nguyên Anh, 2015)

Tuy nhiên, “chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số khơng liên quan đến mức thu nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản” (OXFAM ActionAid, 2010). Theo tiêu chuẩn quốc tế, chỉ số nghèo đa chiều gồm có chiều về y tế, chiều về giáo dục và chiều về điều kiện sống, là một thước đo quan trọng bổ sung thêm tiêu chí đo lường ngồi tiêu chí về thu nhập.

Quan điểm nghèo đó theo tiếp cận đa chiều được sự thống nhất giữa các nhà khoa học xã hội, chính trị gia của hầu hết các quốc gia, Cụ thể như sau:

<i>“Nghèo đa chiều là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.” (Đặng Nguyên Anh, 2015) </i>

Ở Việt Nam, Chính phủ ban hành Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững cho mỗi giai đoạn 5 năm trên cơ sở công bố chuẩn nghèo để đo lường sự thay đổi của tình trạng nghèo trong giai đoạn tương ứng. Từ 2015 trở về trước, Việt Nam vẫn sử dụng phương pháp đo lường nghèo đơn chiều theo chuẩn nghèo thu nhập. Bên cạnh đó, Ngân hàng Thế giới và Tổng cục Thống kê

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

(TCTK) cũng ước lượng tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo chi tiêu bình qn. Để chuyển đổi mạnh mẽ chính sách giảm nghèo theo hướng bền vững trong bối cảnh đổi mới mơ hình tăng trưởng, năm 2014, Quốc hội đã quyết định việc giao Chính phủ xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản để thực hiện từ năm 2016. Trên cơ sở đó, vào năm 2015, Chính phủ Việt Nam đã thơng qua phương pháp tiếp cận đa chiều để đo lường nghèo đói. “Theo đó nghèo đa chiều được đo lường bằng mức độ thiếu hụt tiếp cận 5 dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm: y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; và thông tin, và được đo bằng 10 chỉ số. Hộ được coi là nghèo đa chiều nếu thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt (trên tổng số 10 chỉ số nói trên) trở lên.” (Bộ Lao động TB&XH, 2015)

<i>b. Tiêu chí xác định nghèo tiếp cận đa chiều của Việt Nam </i>

Để thực hiện mục tiêu giảm nghèo hiệu quả, Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 7 đã thơng qua Nghị quyết số 76/2014/QH13 về việc đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, trong đó nêu rõ, Xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và đáp ứng các dịch vụ xã hội cơ bản; Quyết định số 2324/QĐ-TTg ngày 19/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết số 76/2014/QH13 của Quốc hội đã xác định rõ nhiệm vụ xây dựng, nghiên cứu xây dựng đề án tổng thể về đổi mới phương pháp tiếp cận nghèo đói ở Việt Nam từ đơn chiều sang đa chiều. Tiếp đó, ngày 15-9-2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 1614/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tổng thể Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020. Theo quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 19 tháng 11 năm 2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020 đã quy định rõ các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020. Theo đó, các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 gồm tiêu chí về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.

“Chuẩn nghèo cụ thể như sau: Tại khu vực nông thôn, hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí. Một là, có thu nhập bình qn đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống. Hai là, có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Tại khu vực thành thị, hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí. Một là, có thu nhập bình qn đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống. Hai là, có thu nhập bình qn đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ số: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình qn đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thơng tin..” (Chính Phủ, 2015a)

Bộ Lao động – TB&XH đã xây dựng 10 chỉ số đo lường mức độ thiếu

<i>hụt trong nghèo đa chiều tương ứng với 5 chiều cạnh nghèo là: “Giáo dục người </i>

lớn, giáo dục trẻ em, khám chữa bệnh, bảo hiểm y tế, nhà ở, nước sạch, hố xí, dịch vụ viễn thông, tài sản phục vụ tiếp cận thơng tin.” (Chính Phủ, 2015a)

<b>Bảng 1.1:Xác định nghèo đa chiều ở Việt Nam </b>

<b><small>Chiều nghèo Chỉ số đo lường Mức độ thiếu hụt Cơ sở pháp lý </small></b>

<b><small>1) Giáo dục </small><sup>1.1 Trình độ giáo </sup><small>dục của người lớn </small></b>

<small>“Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên đủ 15 tuổi sinh từ năm 1986 trở lại không tốt nghiệp trung học cơ sở và hiện không đi học” </small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

<b><small>Chiều nghèo Chỉ số đo lường Mức độ thiếu hụt Cơ sở pháp lý </small></b> <small>trong độ tuổi đi học (5 - 14 tuổi) hiện khơng đi học” </small>

<small>“Hộ gia đình có người bị ốm đau nhưng khơng đi khám chữa bệnh (ốm đau được xác định là bị bệnh/ chấn thương nặng đến mức phải nằm một chỗ và phải có người chăm sóc tại giường hoặc nghỉ việc/học không tham gia được các hoạt động bình viên từ 6 tuổi trở lên hiện tại khơng có bảo hiểm y tế” </small>

<small>“Hộ gia đình đang ở trong nhà </small>

<small>thiếu kiên cố hoặc nhà đơn sơ” </small> <sup>Luật Nhà ở 2014. </sup> <small>“(Nhà ở chia thành 4 cấp độ: nhà </small>

<small>kiên cố, bán kiên cố, nhà thiếu kiên cố, nhà đơn sơ)” </small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

<b><small>Chiều nghèo Chỉ số đo lường Mức độ thiếu hụt Cơ sở pháp lý </small></b> <small>phủ Phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia </small>

<small>“Hộ gia đình khơng được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh” </small>

<small>“Hộ gia đình khơng có tài sản nào trong số các tài sản: Tivi, đài, máy vi tính; và khơng nghe được hệ thống loa đài truyền </small>

<i>Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2015 (Chính Phủ, 2015a) </i>

Mới đây, Chính phủ ban hành Nghị định số 07/2021/NĐ-CP quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/3/2021.

Nghị định đưa ra các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều; chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình và trách nhiệm tổ chức thực hiện cơng tác giảm nghèo giai đoạn 2021 - 2025. Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều năm 2021 và giai đoạn 2022 - 2025 được quy định cụ thể như sau:

<b>Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều năm 2021 </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

Từ ngày 01/01/2021, tiếp tục thực hiện chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội và hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác năm 2021.

<b>Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 </b>

<i>* Các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025: </i>

- Tiêu chí thu nhập: Khu vực nông thôn: 1.500.000 đồng/người/tháng; khu vực thành thị: 2.000.000 đồng/người/tháng.

- Tiêu chí mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, gồm:

(1) Các dịch vụ xã hội cơ bản (06 dịch vụ), gồm: việc làm; y tế; giáo dục; nhà ở; nước sinh hoạt và vệ sinh; thông tin.

(2) Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản (12 chỉ số), gồm: việc làm; người phụ thuộc trong hộ gia đình; dinh dưỡng; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình qn đầu người; nguồn nước sinh hoạt; nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; phương tiện phục vụ tiếp cận thông tin.

(3) Dịch vụ xã hội cơ bản, chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản và ngưỡng thiếu hụt quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.

<i>* Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình giai đoạn 2022 - 2025 </i>

- Chuẩn hộ nghèo: Hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên ở khu vực nơng thơn. Hoặc hộ gia đình có thu nhập bình qn đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên ở khu vực thành thị.

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

- Chuẩn hộ cận nghèo: Hộ gia đình có thu nhập bình qn đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản ở khu vực nơng thơn. Hoặc hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản ở khu vực thành thị.

- Chuẩn hộ có mức sống trung bình: Hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.500.000 đồng đến 2.250.000 đồng ở khu vực nông thôn. Hoặc hộ gia đình có thu nhập bình qn đầu người/tháng trên 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng ở khu vực thành thị.

Chuẩn hộ nghèo, chuẩn hộ cận nghèo, chuẩn hộ có mức sống trung bình là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội và hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác giai đoạn 2022 - 2025.

Bên cạnh đóm tại khoản 7 Điều 4 Nghị định số 07/2021/NĐ-CP, Chính phủ yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thực hiện những nhiệm vụ sau:

<i>Thứ nhất, truyền thông, nâng cao nhận thức của các cấp, ngành và người </i>

dân về chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025 trên địa bàn; việc rà soát, xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo.

<i>Thứ hai, tổ chức rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo đầu kỳ; rà soát hộ nghèo, </i>

hộ cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025; phân loại đối tượng thụ hưởng chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội hằng năm; xác định hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình hằng năm.

<i>Thứ ba, tổ chức thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập và khả </i>

năng tiếp cận, sử dụng hiệu quả các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân trên địa bàn.

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

<i>Thứ tư, căn cứ điều kiện và khả năng thực tế của địa phương, các tỉnh, </i>

thành phố trực thuộc Trung ương có thể nâng tiêu chí thu nhập cao hơn chuẩn nghèo đa chiều quốc gia với điều kiện tự cân đối ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật và bổ sung tiêu chí mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản (dịch vụ, chỉ số thiếu hụt), điều chỉnh ngưỡng đo lường các chỉ số thiếu hụt để thực hiện các chương trình, chính sách hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn.

Một số khó khăn, vướng mắc khi chuyển đổi từ cách tiếp cận đơn chiều sang cách tiếp cận đa chiều tại Việt Nam, đó là:

“- Cách tiếp cận nghèo đa chiều còn mới mẻ, khác hẳn quan niệm về nghèo thu nhập/chi tiêu, đòi hỏi cần có thời gian để chuyển đổi và thích ứng.

- Khi tiếp cận đo lường nghèo đa chiều, khái niệm hộ nghèo sẽ khác về nội dung so với xác định chuẩn nghèo thu nhập như hiện nay. Trong khi đó, hệ thống chính sách giảm nghèo hiện hành vẫn dựa trên quy định tiêu chí hộ nghèo dựa vào thu nhập.

- Việc xác định các chiều nghèo, chỉ số đo lường, mức độ thiếu hụt đòi hỏi việc dựa trên cơ sở dữ liệu cập nhật và đầy đủ, song hiện nay các số liệu này còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng.

- Một số chính sách hiện hành sẽ cần phải thay đổi cùng với yêu cầu sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật, do đó địi hỏi phải có thời gian, lộ trình, bước đi cụ thể.

- Cần tạo được sự đồng thuận, thống nhất cao giữa các cấp, các ngành và cộng đồng, người dân trong tiếp cận nghèo đa chiều..”

<i>1.1.2.2 Khái niệm, yêu cầu và sự cần thiết quản lý giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số </i>

<i><b>a. Khái niệm quản lý giảm nghèo theo tiếp cận đa chiều </b></i>

<i>Giảm nghèo là tởng thể các biện pháp chính sách của Nhà nước và xã hội, của chính những đối tượng thuộc diện nghèo nhằm tạo điều kiện và nỗ lực </i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

<i>lao động để có thể tăng thu nhập, thốt khỏi tình trạng thu nhập khơng đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu theo quy định của chuẩn nghèo ở từng địa phương, khu vực, quốc gia... </i>

Thực tế cho thấy, có thể xóa được đói, nhưng khơng thể xóa được nghèo, mà chỉ có thể giảm được mức độ nghèo (gọi tắt là giảm nghèo). Bởi vì nghèo vẫn cịn tồn tại khi nền kinh tế thị trường vẫn còn chi phối và còn sự khác biệt về năng lực, thể chất, địa vị xã hội...giữa những con người và gia đình trong xã hội. Mặt khác, chuẩn nghèo cũng luôn được tăng lên theo xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Do đó, chỉ có thể từng bước giảm nghèo, chưa thể tiến tới xóa được nghèo.

Do việc đánh giá và cách nhìn nguồn gốc dẫn đến nghèo khác nhau, nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về giảm nghèo, cụ thể:

Nếu hiểu nghèo là do tính phi hiệu quả của phương thức sản xuất đã bị lạc hậu song vẫn cịn tồn tại thì giảm nghèo bền vững chính là q trình chuyển đổi sang phương thức sản xuất mới, tiến bộ hơn.

Nếu hiểu nghèo là do tình trạng phân phối giá trị gia tăng trong xã hội một cách bất cơng đối với người lao động, thì giảm nghèo chính là quá trình điều chỉnh lại quá trình phân phối này.

Nếu nghèo là do tình trạng thất nghiệp gia tăng hoặc tệ nạn xã hội thì giảm nghèo chính là tạo ra nhiều việc làm, ổn định xã hội và phòng chống tệ nạn...

Từ những phân tích trên, có thể rút ra nhận xét, nghèo là tình trạng xảy ra ở tất cả các địa phương, quốc gia. Nếu tình trạng nghèo đói khơng được quan tâm giải quyết thì nó sẽ tác động tiêu cực đến xã hội. Đói nghèo khơng những ngăn cản hộ nghèo có thể phát huy hết nguồn lực của chính họ và xã hội để có cuộc sống đầy đủ hơn, mà còn hạn chế sự phát triển kinh tế của đất nước, làm giảm năng suất lao động, làm mất đi một lượng GDP nhất định do không sử dụng tốt nguồn lực từ xã hội. Người nghèo có thu nhập thấp nên ít có điều kiện để chăm lo sức khỏe, khơng có kinh phí chữa bệnh dẫn đến tỷ lệ trẻ em suy

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

dinh dưỡng, trẻ em thất học cao. Đến lượt mình, chất lượng nhân lực thấp sẽ ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lao động tương lai của đất nước, làm hạn chế khả̉ năng áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất.... Về phía hộ nghèo, do trình độ học thức và tay nghề thấp nên họ khơng có cơ hội tìm được việc làm ổn định với thu nhập cao, họ cũng khơng có vốn, khơng có khả năng áp dụng tiến bộ kỹ thuật để tổ chức sản xuất tại gia đình một cách hiệu quả. Kết cục là, người nghèo dễ bị tổn thương khi xã hội vấp phải những khó khăn, đột biến, nhất là khơng có khả năng đối phó với rủi ro, thiên tai, bệnh tật...Nếu khơng có sự hỗ trợ của xã hội và Nhà nước thì nghèo - thất học, yếu ớt - lao động kém hiệu quả - nghèo đó sẽ đẩy người nghèo vào con đường bần cùng và ngày càng nghèo khổ hơn. Nghèo về kinh tế sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng tham gia vào các hoạt động xã hội và chính trị của người nghèo. Ngược lại, người nghèo, bi quan dễ dẫn người nghèo vào con đường phạm tội, tệ nạn... Nghèo không chỉ dẫn đến hậu quả KT - XH nghiêm trọng, mà cịn có thể gây ra xung đột chính trị...

Để giảm ngèo theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, các quốc gia cần xây dựng và thực hiện chiến lược tăng trưởng vì người nghèo. Chiến lược này phải đảm bảo thu nhập của người nghèo tăng nhiều hơn so với thu nhập trung bình của xã hội và góp phần giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quy định. Trong chiến lược đó vai trị của Chính phủ rất lớn. Hoạt động hỗ trợ giảm nghèo của Chính phủ thường hướng vào việc hoạch định và thực thi các chính sách, tạo dựng các điều kiện về thể chế kinh tế vĩ mô, cung cấp dịch vụ công, nhất là dịch vụ xã hội cơ bản... nhằm hỗ trợ hộ nghèo vươn lên làm giàu. Đồng thời Chính phủ cũng khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư góp phần tăng trưởng kinh tế, năng cao năng suất lao động, tạo việc làm cũng như khuyến khích sự tham gia của các đối tác xã hội vào công cuộc giảm nghèo. Các chính sách và chương trình giảm nghèo thường hướng vào khuyến khích xã nghèo, hộ nghèo vươn lên thoát nghèo trên cơ sở nâng cao năng lực của hộ nghèo trên thị trường

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

và đa dạng hóa sinh kế cho người nghèo. Một khi người nghèo tham gia tích cực vào thị trường, trở thành chủ thể chủ động trên thị trường, họ sẽ có cơ hội việc làm tốt hơn, thu nhập đa dạng hơn và khắc phục tính thụ động, trơng chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước.

Để thực hiện thường xuyên hoạt động giảm nghèo cần những hoạt động ưu tiên như: thường xuyên coi giảm nghèo là công tác trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế xã hội, trong đó tập trung vào các hoạt động hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo có tư liệu và phương tiện để sản xuất, dịch vụ, bảo đảm an ninh lương thực ở cấp hộ gia đình, nâng cao thu nhập để tự vượt qua người nghèo, tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là các dịch vụ giáo dục, y tế, nước sạch; giảm thiểu rủi ro thiên tai, bão lụt và tác động tiêu cực của quá trình cải cách kinh tế, bảo đảm giảm nghèo bền vững; tập trung giúp các địa phương nghèo phát triển kinh tế thông qua chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển sang cơ cấu cây trồng, vật ni có giá trị kinh tế cao, phát triển sản xuất hàng hóa, chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng dần tỷ trọng lao động trong công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng lao động trong nơng nghiệp.

Thực hiện chính sách trợ giúp xã hội, phòng chống thiên tai, giảm rủi ro của các nhóm yếu thế thơng qua cơ chế xã hội hóa, Nhà nước và nhân dân cùng làm. Tập trung hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội phù hợp để đáp ứng nhu cầu bức xúc và khẩn cấp của các nhóm dễ bị tổn thương, những người có hồn cảnh khó khăn, nạn nhân của chiến tranh và thiên tai, giúp họ hòa nhập cộng đồng, phịng ngừa và hạn chế tình trạng tái nghèo.

Động viên, hỗ trợ người nghèo phát huy nội lực, tự vươn lên thoát nghèo, kết hợp với sự hỗ trợ của Nhà nước thực hiện giảm nghèo bền vững.

<i>Từ sự phân tích trên cho thấy, quản lý giảm nghèo tiếp cận đa chiều là sự tác động của Nhà nước bằng kế hoạch, cơ chế, chính sách của tổ chức bộ máy nhằm quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện giảm nghèo đa chiều, từng </i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

<i>bước nâng cao thu nhập và giảm những thiếu hụt về nhu cầu cơ bản về giáo dục, y tế, nhà ở, điều kiện sống và tiếp cận thông tin của hộ nghèo. </i>

<i><b>b. Yêu cầu cơ bản quản lý giảm nghèo theo tiếp cận đa chiều </b></i>

<i> - Thứ nhất là tăng thu nhập cho người nghèo, vùng nghèo: Khi đánh giá </i>

vấn đề nghèo, các tổ chức quốc tế cũng như các nước khác nhau lựa chọn phương pháp và chỉ tiêu đánh giá cơ bản giống nhau. Song cách xác định và mức độ cụ thể có những khía cạnh khác nhau. Nhưng nhìn chung các quốc gia đều căn cứ vào chỉ tiêu chính là thu nhập để đánh giá. Như vậy, tăng thu nhập cho đối tượng nghèo là nội dung cần được quan tâm nhất đối với hoạt động giảm nghèo.

Phần lớn người nghèo ở các nước đang phát triển phụ thuộc vào thu nhập từ sức lao động, từ công việc trên mảnh đất của họ, từ tiền lương hay từ những hình thức lao động khác.

Sức lao động của người nghèo chỉ có thể được sử dụng để đem lại thu nhập khi họ kiếm được việc làm.Việc làm ổn định và việc làm tốt là cơ sở để người nghèo có thu nhập ổn định và nâng cao thu nhập đảm bảo cuộc sống của mình. Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, giảm nghèo là yếu tố cơ bản để đảm bảo công bằng xã hội và tăng trưởng kinh tế bền vững; ngược lại chỉ có tăng trưởng kinh tế cao và bền vững mới có sức mạnh vật chất để hỗ trợ và tạo cơ hội cho người nghèo vươn lên thốt khỏi đói nghèo. Mặt khác nếu lao động có sức khoẻ, được đào tạo, bồi dưỡng tốt cùng tinh thần làm việc hăng say, môi trường kinh tế của vùng nghèo được cải thiện thì năng suất lao động sẽ tăng lên, từ đó thu nhập của người nghèo sẽ khá hơn, dễ có cơ hội để vươn lên thoát nghèo.Tuy nhiên, trong thực tế tình trạng thiếu việc làm và năng suất lao động thấp dẫn đến thu nhập của người lao động thấp là khá phổ biến đối với người nghèo. Vì vậy, tăng năng suất lao động, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người nghèo, đẩy mạnh phát triển kinh tế vùng nghèo phải là nội dung quan trọng trong các giải pháp giảm nghèo ở nước ta hiện nay.

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

<i> - Thứ hai là tăng khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển đối với người nghèo, vùng nghèo. </i>

+ Phần lớn người nghèo tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn, nhất là vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa. Những nơi này thường là xa các trung tâm kinh tế và dịch vụ xã hội. Hệ thống cơ sở hạ tầng thiếu và yếu hơn so với những vùng khác. Phổ biến là tình trạng thiếu điện, thiếu nước tưới, nước sinh hoạt, thiếu thông tin, thiếu chợ đầu mối, thiếu vốn, đất sản xuất và thị trường, giao thơng đi lại khó khăn vv...Do đó, năng suất lao động thấp, giá cả của sản phẩm do người sản xuất bán lại rẻ vì vận chuyển khó khăn. Chính vì vậy cơ hội tự vươn lên của người nghèo ở những vùng này là rất khó khăn. Điều này cho thấy việc giải quyết bài tốn giảm nghèo khơng hề dễ, địi hỏi phải có thời gian.

+ Nghèo thường gắn liền với dân trí thấp. Do nghèo mà khơng có điều kiện đầu tư cho con cái học hành để nâng cao trình độ hiểu biết. Dân trí thấp thì khơng có khả năng để tiếp thu tiến bộ của khoa học kỹ thuật để áp dụng vào sản xuất và khơng có khả năng tiếp cận với những tiến bộ, văn minh của nhân loại nên dẫn đến nghèo về mọi mặt (kinh tế và tinh thần, chính trị). Vì vậy, để giảm nghèo phải nâng cao trình độ dân trí, nâng cao sự hiểu biết cho người nghèo là giải pháp có tính chiến lược lâu dài.

+ Một nội dung quan trọng nữa của công tác giảm nghèo là phải tạo điều kiện để giúp người nghèo tiếp cận có hiệu quả với các dịch vụ y tế, dịch vụ tài chính, tín dụng và tiến bộ của khoa học, kỹ thuật, công nghệ.vv...

+ Hỗ trợ người nghèo về y tế để họ có điều kiện chăm sóc sức khỏe tốt hơn, hạn chế được bệnh tật, từ đó có điều kiện tái sản xuất sức lao động, đây là yếu tố quan trọng để tăng trưởng và phát triển.

Người nghèo là những người có thu nhập thấp nên những lao động nghèo thường thiếu vốn để kinh doanh, thiếu kinh nghiệm, đất sản xuất, thiếu thông tin thị trường và thiếu kiến thức về khoa học công nghệ. Do vậy, hoạt động giảm nghèo phải hỗ trợ cho người nghèo có được sự tiếp cận tốt hơn những yếu tố trên.

</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">

<i> - Thứ ba là giảm nghèo phải mang tính bền vững: Trong thực tiễn giảm </i>

nghèo có tình trạng khá phổ biến là có rất nhiều hộ gia đình sau khi thoát nghèo một thời gian do nhiều nguyên nhân khác nhau như: gặp thiên tai, tai nạn, rủi ro trong kinh doanh, ốm đau, do tác động của phân hóa giàu - nghèo của q trình phát triển v.v.. lại trở thành những hộ nghèo. Ở nước ta, quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa cùng với đẩy mạnh sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) trong những năm vừa qua đã đạt được những thành quả quan trọng, khẳng định sự đúng đắn của đường lối đổi mới của Đảng, nhưng cũng cho thấy tình trạng phân hố giàu - nghèo gia tăng như một hệ quả tất yếu của q trình phát triển. Điều đó dặt ra cho chúng ta những thách thức lớn. Một mặt, nếu không tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và không thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH thì khơng thể tồn tại, phát triển và hội nhập quốc tế. Mặt khác, nếu đẩy mạnh CNH, HĐH, phát triển kinh tế thị trường nhiều thành phần, tất yếu sự phân hoá giàu nghèo sẽ gia tăng; trong khi có nhiều người giàu lên, đất nước giàu lên, thì cũng có một bộ phận dân cư nghèo đói, thậm chí mất tư liệu sản xuất.

Vì vậy, nhiệm vụ giảm nghèo không chỉ hỗ trợ để người nghèo vượt qua ngưỡng cửa nghèo một cách thụ động mà phải có giải pháp tích cực để bản thân người nghèo chủ động tự vươn lên thoát nghèo vững chắc tiến tới trở thành hộ khá, hộ giàu. Đồng thời Nhà nước phải có chính sách, giải pháp giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng và giảm nghèo. Phải xây dựng chiến lược giảm nghèo dài hạn và chiến lược này phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung của quốc gia, địa phương.

<i> - Thứ tư là giảm nghèo trước hết phải ưu tiên các đối tượng chính sách, vùng cách mạng, gắn giải quyết vấn đề kinh tế với chính trị - xã hội. </i>

Ở nước ta, trong những năm đổi mới nền kinh tế đã có bước phát triển vượt bậc, đời sống của đa số dân cư được cải thiện; công tác giảm nghèo đã thu được

</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">

những thành tựu đáng kể. Tuy vậy, mức sống của người dân vẫn cịn thấp, phân hóa thu nhập có xu hướng tăng lên, một bộ phận khá lớn dân cư vẫn cịn sống nghèo đói. Trong đó có một số vùng cách mạng, vùng dân tộc ít người và nhiều hộ gia đình có nhiều đóng góp cho cách mạng vẫn chịu nhiều thiệt thịi trong hịa nhập cộng đồng và khơng đủ sức tiếp nhận những thành quả do công cuộc đổi mới mang lại. Những giải pháp giảm nghèo tập trung cho đối tượng này vừa là yêu cầu cấp thiết đối với mục tiêu phát triển bền vững, vừa mang tính nhân văn sâu sắc.

<i><b>c. Sự cần thiết phải thực hiện giảm nghèo bền vững </b></i>

Xét tình hình thực tế, khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới thì sự phân hồ giàu nghèo diễn ra rất nhanh nếu khơng tích cực giảm nghèo và giải quyết tốt các vấn đề xã hội khác thì khó có thể đạt được mục tiêu xây dựng một cuộc sống ấm no về vật chất, tốt đẹp về tinh thần, vừa phát huy được truyền thống tốt đẹp của dân tộc và bản chất của chế độ vừa tiếp thu được yếu tố lành mạnh

<i>và tiến bộ của thời đại. </i>

Do đó trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhà nước đã xây dựng được các chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó có chương trình giảm nghèo quốc gia. Giảm nghèo không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần, mà nó cịn là vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng, do đó phải có sự chỉ đạo thống nhất giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội.

Xuất phát từ điều kiện thực tế nước ta hiện nay, giảm nghèo về kinh tế là điều kiện tiên quyết để giảm nghèo về văn hố, xã hội .Vì vậy, phải tiến hành thực hiện giảm nghèo cho các hộ nông dân sinh sống ở vùng cao, vùng sâu, hải đảo và những vùng căn cứ kháng chiến cách mạng cũ, nhằm phá vỡ thế sản xuất tự cung, tự cấp, độc canh, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế sản xuất nông nghiệp trên toàn quốc theo hướng sản xuất hàng hoá, phát triển công nghiệp nông thôn, mở rộng thị trường nông thôn, tạo việc làm tại chỗ, thu hút lao đông ở nông thôn vào sản xuát tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp và dịch

</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">

vụ là con đường cơ bản để xóa đói giảm nghèo ở nơng thơn. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn phải được xem như là 1 giải pháp hữu hiệu, tạo bước ngoặt cho phát triển ở nơng thơn, nhằm xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay.

Tiếp tục đổi mới nền kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá trên cơ sở nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Đó là con đường để cho mọi người vượt qua nghèo, để nhà nước có thêm tiềm lực về kinh tế để chủ động giảm nghèo. Đây là sự thể hiện tư tưởng kinh tế của Hồ Chủ tịch: "Giúp đỡ người vươn lên khá, ai khá vươn lên giàu, ai giàu thì vươn lên giàu thêm". Thực hiện thành cơng chương trình giảm nghèo khơng chỉ đem lại ý nghĩa về mặt kinh tế là tạo thêm thu nhập chính đáng cho người nơng dân ổn định cuộc sống lâu dài, mà giảm nghèo, phát triển kinh tế nơng thơn cịn là nền tảng, là cơ sở để cho sự tăng trưởng và phát triển 1 nền kinh tế bền vững, góp phần vào sự nghiệp đổi mới đất nước. Hơn thế nữa nó cịn có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị xã hội. Giảm nghèo nhằm nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc tốt sức khoẻ nhân dân, giúp họ có thể tự mình vươn lên trong cuộc sống, sớm hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng, xây dựng được các mối quan hệ xã hội lành mạnh, giảm được khoảng trống ngăn cách giữa người giàu với người nghèo, ổn định tinh thần, có niềm tin vào bản thân, từ đó có lịng tin vào đường lối và chủ trương của Đảng và Nhà nước. Đồng thời hạn chế và xóa bỏ được các tệ nạn xã hội khác, bảo vệ mơi trường sinh thái.

Ngồi ra cịn có thể nói rằng không giải quyết thành công các nhiệm vụ và u cầu giảm nghèo thì sẽ khơng chủ động giải quyết được xu hướng gia tăng phân hoá giàu nghèo, có nguy cơ đẩy tới phân hố giai cấp với hậu quả là sự bần cùng hoá và do vậy sẽ đe dọa tình hình ổn định chính trị và xã hội làm chệch hướng XHCN của sự phát triển kinh tế - xã hội. Không giải quyết thành cơng các chương trình giảm nghèo sẽ không thể thực hiện được công bằng xã hội và sự lành mạnh xã hội nói chung. Như thế mục tiêu phát triển và phát triển bền vững sẽ không thể thực hiện được. Không tập trung nỗ lực, khả năng và

</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">

điều kiện để xóa đói giảm nghèo sẽ khơng thể tạo được tiền đề để khai thác và phát triển nguồn lực con người phục vụ cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước nhằm đưa nước ta đạt tới trình độ phát triển tương đương với quốc tế và khu vực, thoát khỏi nguy cơ lạc hậu và tụt hậu.

<i><b>1.1.3. Các tiêu chí đánh giá, đo lường mức mức nghèo đa chiều </b></i>

<small>Theo Bộ Lao động – TB&XH, phương pháp đo lường nghèo đa chiều ở Việt Nam nhằm đạt được ba mục tiêu cơ bản sau: </small>

<small>- Đo lường quy mô và mức độ nghèo: Trên cơ sở đó nhằm theo dõi tiến trình giảm nghèo và đánh giá tác động của các chương trình, chính sách giảm nghèo và phát triển xã hội qua thời gian, giữa các vùng, các nhóm dân cư, đặc biệt là theo các chiều nghèo, đồng thời phục vụ cho hoạch định chương trình, chính sách phù hợp. </small>

<small>- Xác định đối tượng hộ nghèo: đặc biệt là những hộ nghèo nhất và các thiếu hụt của họ để đặt mục tiêu, thiết lập ưu tiên, xây dựng và thực hiện các chương trình, chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội hiệu quả, phù hợp với các đối tượng và nhu cầu khác nhau. </small>

<small> - Xác định đối tượng thụ hưởng chính sách: Thơng tin về tình trạng nghèo và đối tượng nghèo kết hợp với các tiêu chí bổ sung khác sẽ giúp từng chương trình, chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội xác định được các đối tượng phù hợp nhất cho các hỗ trợ của mình. </small>

<small> Các chiều thiếu hụt trong cuộc sống thực tế tùy thuộc vào đặc điểm cụ thể của mỗi quốc gia, đối với Việt Nam sẽ lựa chọn dựa vào các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống, gồm 5 chiều: y tế, giáo dục, điều kiện sống, tiếp cận thông tin, bảo hiểm và trợ giúp xã hội. </small>

<small> Các chiều, thể hiện quyền được đáp ứng các nhóm nhu cầu cơ bản được cho điểm bằng nhau, ví dụ: 5 chiều, mỗi chiều được 20 điểm, như vậy tổng số điểm thiếu hụt sẽ là 100 điểm. Trong mỗi chiều, các chỉ số cũng bằng nhau. Ví dụ: Giáo dục có 2 chỉ số, thì mỗi chỉ số sẽ được 10 điểm. Ở mỗi chỉ số này, nếu hộ gia đình khơng thiếu hụt thì sẽ có điểm bằng 0, nếu thiếu hụt sẽ có điểm là 10. Tổng điểm của tất cả các chỉ số thiếu hụt sẽ cộng thành điểm chung của cả hộ. Nếu số điểm này nhiều hơn chuẩn nghèo thì hộ sẽ bị coi là nghèo đa chiều.” (Bộ Lao động TB&XH, 2014) </small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">

<small>Theo quan niệm của các tổ chức quốc tế, một hộ gia đình thiếu 1/3 tổng điểm thiếu hụt trở lên sẽ bị coi là nghèo đa chiều. Chuẩn này sẽ được giữ không thay đổi trong thời gian nhất định, không phụ thuộc vào lượng ngân sách có sẵn, khơng thay đổi khi thay đổi mục tiêu hay khi tình hình thay đổi do tác động chính sách. Để phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội và khả năng cân đối ngân sách, có thể quy định chuẩn cận nghèo đa chiều và chuẩn nghèo đa chiều nghiêm trọng.” (Bộ Lao động TB&XH, 2014). Cụ thể, trong giai đoạn 2015-2020, chuẩn nghèo đa chiều được xác định như sau: “Một hộ gia đình được coi là hộ nghèo đa chiều nghiêm trọng nếu hộ gia đình thiếu từ 1/2 tổng số nhu cầu cơ bản trở lên (50 điểm trở lên). Một hộ gia đình được coi là hộ nghèo đa chiều nếu hộ gia đình thiếu từ 1/3 đến 1/2 tổng số nhu cầu cơ bản (33,3 đến dưới 50 điểm). Một hộ gia đình được coi là hộ cận nghèo đa chiều nếu hộ gia đình thiếu từ 1/5 đến 1/3 tổng số nhu cầu cơ bản (20 đến 33,3 điểm) (Bộ Lao động TB&XH, 2014). </small>

<i>1.1.3.1. Các tiêu chí về thu nhập </i>

<i><small>“Thu nhập (income or earnings) là khoản tiền thu được từ việc sở hữu và cung </small></i>

<small>ứng các nhân tố sản xuất trong một thời kỳ. Các khoản tiền thu được từ lao động, tư bản, đất đai và năng lực kinh doanh là thu nhập từ tiền lương, lãi suất, địa tô và lợi nhuận. Doanh nhân (người sở hữu năng lực kinh doanh) là người kết hợp các nhân tố sản xuất để tạo ra sản lượng và thu nhập cho các nhân tố sản xuất.” (Nguyễn Văn Ngọc, 2006). Các khoản tiền như tiền công, tiền lương, tiền cho thuê tài sản hiện có, lợi tức trong kinh doanh… được gọi là thu nhập. Có nhiều nguồn khác nhau để hình thành nên thu nhập, có thể từ việc sở hữu nguồn lực sản xuất, từ sở hữu sức lao động, có thể từ sự thừa kế, được biếu tặng… </small>

<small>Đối với hộ gia đình, con người trong xã hội, thu nhập tạo ra sẽ đáp ứng các nhu cầu đa dạng trong cuộc sống của con người. Khi con người, hộ gia đình có thu nhập cao, họ sẽ có nhu cầu đối với các dịch vụ tốt nhất về y tế, chất lượng cuộc sống được nâng cao, đáp ứng các nhu cầu đa dạng của cuộc sống. Tuy nhiên, đối với người nghèo, thu nhập mà họ tạo ra là rất thấp, với nguồn thu nhập thấp và hạn chế, họ phải tìm cách phân bổ nguồn chi tiêu cho các nhu cầu thiết yếu cơ bản nhất. Do đó, người nghèo sẽ khơng có đủ tiền để đáp ứng dịch vụ cơ bản của cuộc sống như giáo dục, y </small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">

<small>tế, nhà ở, các điều kiện sống và nhu cầu tiếp cận thông tin. Đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, đối với đồng bào dân tộc thiểu số thì việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trên càng trở lên khó khăn. </small>

<small>Như vậy, thu nhập là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá tình trạng nghèo đói của người dân, hộ gia đình. Đây là tiêu chí cần quan tâm phân tích, đánh giá khi phân tích về các chính sách giảm nghèo bền vững. </small>

<i>1.1.3.2. Các tiêu chí về mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. </i>

<i><b><small>a. Nghèo theo chiều giáo dục </small></b></i>

<small>Giáo dục là yếu tố then chốt để khăng định ngưỡng thiếu hụt về nghèo đa chiều. Giáo dục và nghề nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm và thu nhập của hộ, và do vậy ảnh hưởng lên tình trạng nghèo của hộ. Tỷ lệ nghèo đa chiều có tương quan mạnh mẽ với trình độ giáo dục của chủ hộ. </small>

<small>Nghiên cứu về ngheo theo chiều giáo dục được phản ánh qua 2 chỉ tiêu là trình độ giáo dục của người lớn và tình trạng đi học của trẻ em. Mức độ thiếu hụt của các chỉ tiêu này được chỉ rõ rằng: Nếu hộ gia đình có ít nhất một thành viên trong độ tuổi lao động chưa tốt nghiệp THCS và hiện không đi học hoặc hộ gia đình có ít nhất một trẻ em trong độ tuổi đi học (5-dưới 16 tuổi) hiện không đi học được xếp vào ngưỡng thiếu hụt về giáo dục. Trình độ học vấn thấp khơng bảo đảm được giáo dục tối thiểu khiến khả năng thoát nghèo thấp. </small>

<i><b><small>b. Nghèo theo chiều y tế </small></b></i>

<small>Đầu tư cho y tế cũng là một trong những mục tiêu của Chính phủ nhằm xố đói giảm nghèo cho bà con vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa và những đối tượng người nghèo nói riêng. Y tế với chăm sóc sức khỏe người dân là yếu tố quan trọng đảm bảo năng suất lao động, thu nhập và việc làm cho người dân. “Một nền y tế tốt khơng chỉ khám, chữa bệnh tốt, mà cịn khơng được làm nghèo người dân thơng qua chi phí khám chữa bệnh cao..” </small>

<small>Nghiên cứu nghèo theo chiều y tế chỉ rõ 2 chiều về y tế, gồm có: “(1) Khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế. Tức là nếu hộ gia đình có người bị ốm đâu nhưng không đi khám chữa bệnh (ốm đau được xác định là bị bệnh/ chấn thương nặng đến mức phải nằm một chỗ và phải có người chăm sóc tại giường hoặc nghỉ việc/học </small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">

<small>không tham gia được các hoạt động bình thường) thì xếp vào ngưỡng thiếu hụt về y tế. (2) Mức độ tham gia bảo hiểm y tế. Tức là nếu hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên từ 6 tuổi trở lên hiện tại khơng có bảo hiểm y tế thì xếp vào ngưỡng thiếu hụt về y tế.” (Chính Phủ, 2015a) </small>

<i><b><small>c. Nghèo theo chiều nhà ở </small></b></i>

<small>Người nghèo khơng có đủ thu nhập để đảm bảo nơi ở an tồn. Khi người nghèo khơng có đất ở, nhà ở, khơng có đất sản xuất thì họ sẽ khơng có cuộc sống ổn định, khơng có khả năng tiếp cận các dịch vụ sống cơ bản như điện, nước và các dịch vụ xã hội khác. Do đó, hỗ trợ về nhà ở và đất ở cho người nghèo là một trong những chính sách lớn của Nhà nước nhằm hỗ trợ cho người nghèo tiếp cận được với các dịch vụ xã hội cơ bản. </small>

<small>Nghiên cứu về nghèo đa chiều đã chỉ rõ tiêu chí theo chiều nhà ở được phản ánh qua 2 chỉ tiêu là chất lượng nhà ở và diện tích nhà ở bình quân đầu người. “Nếu hộ gia đình sinh sống trong ngồi nhà thiếu kiến cố hoặc diện tích nhà ở bình quân đầu người của hộ gia đình nhỏ hơn 8 m2 thì được xếp vào ngưỡng thiếu hụt về nhà ở” (Chính Phủ, 2015a). Trong các đối tượng dễ bị tổn thương, những hộ gia đình nghèo tại các khu vực vùng trung du miền núi, người lớn tuổi, khuyết tật cần được quan tâm, hỗ trợ nhiều hơn theo tiêu chí nhà ở. Bên cạnh đó, tại khu vực thành thị, nhà nước cần huy động đa dạng các nguồn lực trong cộng đồng hỗ trợ nhà ở cho người nghèo. </small>

<i><b><small>d. Nghèo theo chiều điều kiện sống </small></b></i>

<i><small>Điều kiện sống hay mức sống (standard of living) là khái niệm phản ánh điều </small></i>

<small>kiện sinh hoạt vật chất của các cá nhân trong nền kinh tế. Nó cịn được gọi là mức phúc lợi kinh tế, mức ích lợi hay mức thu nhập đầu người. Trong các phân tích kinh tế, mức sống được coi là bị quy định bởi mức tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ (bao gồm cả nghỉ ngơi). Tuy nhiên, mức thu nhập và tiêu dùng như nhau có thể đem lại phúc lợi khác nhau. Cho nên, khó khắc trong việc xác định mức sống là việc đánh giá những cái lợi và cái hại tác động tới phong cách sống của con người, nhưng khơng có giá trị kinh tế ước tính được. </small>

<small>Các yếu tố đánh giá điều kiện sống gồm có: (1) Thuận tiện: sự thuận tiện cơ bản cần thiết cho người dân để tham gia vào các hoạt động hàng ngày và tiếp cận với </small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">

<small>các thông tin. (2) An toàn / an ninh: an toàn tránh khỏi các rủi ro hoặc tình trạng khẩn cấp/tai nạn và bảo vệ cuộc sống, tài sản khỏi các tai họa và tội phạm. (3) Sức khỏe: tiếp cận với dịch vụ y tế cơ bản, tăng khả năng chống lại bệnh tật, ốm đau và có sức khỏe tốt hơn. (4) Tiện nghi: là những tiện ích cơ bản cho yếu tố xã hội và văn hóa cũng như mơi trường thuận lợi. (5) Năng lực: là tài sản và khả năng nâng cao năng lực (tài chính) của người dân. </small>

<small>Nghiên cứu về nghèo đa chiều theo chiều tiếp cận điều kiện sống chỉ ra rằng nguồn nước sinh hoạt; Hối xí/nhà vệ sinh là tiêu chí thiết yếu phản ánh điều kiện sống. Đây là các tiêu chí hỗ trợ cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của hộ gia đình. Nếu hộ gia đình khơng được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh; Không sử dụng hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh thì được xếp vào ngưỡng thiếu hụt về điều kiện sống, từ đó ảnh hưởng đến sức khỏe, bệnh tật và chất lượng cuộc sống suy giảm. Do đó, quan tâm đến yếu tố nước sạch, vệ sinh mơi trường trong xây dựng chính sách phát triển của địa phương là giải pháp tích cực thực hiện giảm nghèo đa chiều theo chiều tiếp cận điều kiện sống. </small>

<i><b><small>e. Nghèo theo chiều tiếp cận thông tin </small></b></i>

<small>Củng cố hệ thống thông tin để tuyên truyền đường lối, chính sách cũng như tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, kiến thức khoa học - kỹ thuật tới người dân miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo sẽ mở ra cơ hội tiếp cận thông tin cho người dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo đa chiều bền vững. (Nguyễn Thị Loan, 2017) </small>

<small>Nghiên cứu nghèo theo chiều tiếp cận thông tin được phản ánh qua 2 tiêu chí là khả năng sử dụng dịch vụ viễn thông và tài sản phục vụ tiếp cận thơng tin (Chính Phủ, 2015a). Các tài sản phục vụ tiếp cận thơng tin gồm có tivi, máy tính, đài phát thanh, hệ thống truyền thanh của địa phương (thôn/xã), thuê bao điện thoại cố định hoặc di động, dịch vụ internet… Nếu hộ gia đình có thành viên khơng có điện thoại di động, hoặc điện thoại cố định hoặc không được sử dụng các tài sản phục vụ tiếp cận thơng tin thì xếp nhóm loại ngưỡng thiếu hụt thơng tin. Do đó, muốn người nghèo tiếp cận thông tin cần thực hiện tốt các chương trình văn hóa truyền thơng, đồng thời có chính sách hỗ trợ người nghèo các tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. </small>

</div>

×