Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.79 MB, 128 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b>Sinh viên chịu trách nhiệm chính thực hiện đề tài: Đào Thị Ngọc Ánh Nữ </b>
Dân tộc: Kinh Lớp: K57EK1
Khoa: Kinh tế và Kinh doanh quốc tế Năm thứ: 3/Số năm đào tạo: 4
Ngành học: Kinh tế quốc tế
<b>Sinh viên chịu trách nhiệm chính thực hiện đề tài: Nguyễn Hải Anh Nữ </b>
Dân tộc: Kinh Lớp: K57EK1
Khoa: Kinh tế và Kinh doanh quốc tế Năm thứ: 3/Số năm đào tạo: 4
Ngành học: Kinh tế quốc tế
<b>Sinh viên chịu trách nhiệm chính thực hiện đề tài: Hoàng Thị Huyền Nữ </b>
Dân tộc: Kinh Lớp: K57EK2
Khoa: Kinh tế và Kinh doanh quốc tế Năm thứ: 3/Số năm đào tạo: 4
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">Ngành học: Kinh tế quốc tế
<b>Sinh viên chịu trách nhiệm chính thực hiện đề tài: Mai Thu Huyền Nữ </b>
Dân tộc: Kinh Lớp: K57EK2
Khoa: Kinh tế và Kinh doanh quốc tế Năm thứ: 3/Số năm đào tạo: 4
Ngành học: Kinh tế quốc tế
<b>Giảng viên hướng dẫn ThS. Lê Quốc Cường </b>
<i>Hà Nội, Tháng 2/2024 </i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4"><b>Khoa: Kinh tế và Kinh doanh quốc tế </b>
<b>Địa chỉ liên hệ: Hồ Tùng Mậu, Mai Dịch, Cầu Giấy, Hà Nội </b>
<b>Khoa: Kinh tế và Kinh doanh quốc tế Kết quả xếp loại học tập: Giỏi * Năm thứ 2: </b>
<b>Ngành học: Kinh tế quốc tế </b>
<b>Khoa: Kinh tế và Kinh doanh quốc tế Kết quả xếp loại học tập: Xuất sắc </b>
<b>Ngày 29 tháng 02 năm 2024 Sinh viên chịu trách nhiệm chính thực hiện đề tài </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5"><i><b>Trong q trình để hồn thành được bài báo cáo nghiên cứu khoa học “Vai trò của phát triển công nghệ đối với ảnh hưởng FDI đến chất lượng môi trường của các quốc gia khu vực Đơng Nam Á trong giai đoạn 2012-2022” nhóm đã nhận được nhiều sự </b></i>
giúp đỡ tận tâm. Trước hết chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các quý thầy cô đang giảng dạy tại Đại học Thương Mại.
<b>Đặc biệt nhóm xin lời cảm ơn sâu sắc đến Ths.Lê Quốc Cường đã giúp đỡ và hỗ </b>
trợ nhóm trong xun suốt q trình làm nghiên cứu để có thể hồn thành được bài báo cáo này.
Vì kiến thức bản thân cịn hạn chế nên bài báo cáo sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong các q thầy cơ của Đại học Thương Mại nói chung và Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế nói riêng cho chúng em những ý kiến đóng góp để có thể hồn thiện bài báo cáo của mình. Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn!
<b>Hà Nội, ngày 29 tháng 2 năm 2024 </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">Nhóm nghiên cứu xin cam đoan báo cáo nghiên cứu khoa học hoàn toàn là độc lập
<b>của nhóm dưới sự hướng dẫn của giảng viên Ths.Lê Quốc Cường. Các số liệu được sử </b>
dụng trong bài nghiên cứu có nguồn gốc rõ ràng và đã được cơng bố ở những nguồn chính thống. Kết quả trong bài báo cáo là hồn tồn trung thực dó nhóm tự tìm hiểu, nhóm xin chịu trách nhiệm nếu có vấn đề gì xảy ra.
<b>Hà Nội, ngày 29 tháng 2 năm 2024 </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7"><i><small>2.1.2.1. Phân loại FDI căn cứ theo liên kết đầu tư ... 28 </small></i>
<i><b><small>2.1.2.2. Phân loại FDI căn cứ theo cách thức thực hiện đầu tư... 29 </small></b></i>
<i><small>2.1.2.3. Phân loại FDI căn cứ vào tính pháp lý của đầu tư trực tiếp nước ngoài ... 29 </small></i>
<i><small>2.1.2.4. Phân loại FDI căn cứ vào lĩnh vực đầu tư ... 30 </small></i>
<i><small>2.1.2.5. Phân loại FDI căn cứ vào mục tiêu của chủ đầu tư ... 30 </small></i>
<i><small>2.1.3.1. Hình thức doanh nghiệp liên doanh ... 31 </small></i>
<i><small>2.1.3.2. Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ... 32 </small></i>
<i><small>2.1.3.3. Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) ... 33 </small></i>
<i><small>2.1.3.4. Hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) ... 33 </small></i>
<i><small>2.1.4.2. Tạo việc làm và nâng cao kỹ năng lao động ... 34 </small></i>
<i><small>2.1.4.3. FDI góp phần bổ sung nguồn vốn thiếu hụt ... 34 </small></i>
<i><small>2.1.4.4. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ... 35 </small></i>
<i><small>2.1.4.5. Bổ sung nguồn thu ngân sách ... 35 </small></i>
<i><small>2.1.4.6. Chuyển giao và lan tỏa cơng nghệ ... 35 </small></i>
<i><small>2.1.4.7. Các vai trị khác ... 36 </small></i>
<i><small>2.3.3.1. Khái niệm chỉ số phát triển chính phủ điện tử ... 39 </small></i>
<i><small>2.3.3.2. Đặc điểm chỉ số phát triển chính phủ điện tử ... 40 </small></i>
<i><small>2.4.1.1. Lý thuyết đường cong môi trường Kuznets (EKC) ... 43 </small></i>
<i><small>2.4.1.2. Giả thuyết nơi ẩn giấu ô nhiễm - Pollution Haven Hypothesis. ... 47 </small></i>
<i><small>3.1.1.1. Môi trường tự nhiên ... 54 </small></i>
<i><small>3.1.1.2. Môi trường chính trị - văn hóa xã hội ... 55 </small></i>
<i><small>3.1.1.3. Mơi trường kinh tế ... 56 </small></i>
<i><small>3.1.2.1. Quy mô đầu tư ... 58 </small></i>
<i><small>a, Lượng vốn FDI ... 58 </small></i>
<i><small>b, Cơ cấu theo ngành, lĩnh vực đầu tư ... 59 </small></i>
<i><small>3.1.2.2. Đối tác đầu tư ... 61 </small></i>
<i><small>3.1.2.3. Theo quốc gia ... 63 </small></i>
<i><small>3.1.2.4. Hình thức đầu tư ... 65 </small></i>
<i><small>4.1.2.1. Nghiên cứu định tính ... 77 </small></i>
<i><small>4.1.2.2. Nghiên cứu định lượng ... 77 </small></i>
<i><small>4.3.2.1. Vai trị của việc nâng cao dịch vụ cơng trực tuyến ... 88 </small></i>
<i><small>4.3.2.2. Vai trò của việc nâng cao hạ tầng viễn thơng ... 88 </small></i>
<i><small>4.3.2.3. Vai trị của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ... 89 </small></i>
<i><small>5.1.1.1. Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin ... 91 </small></i>
<i><small>5.1.1.2. Biến đổi khí hậu tồn cầu và cuộc đua Net zero ... 93 </small></i>
<i><small>5.1.1.3. Áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu ... 97 </small></i>
<b>Hình 1 – Lý thuyết về đường cong mơi trường Kuznets ... 47 Hình 2 – Tổng số vốn đầu tư nước ngồi rịng vào Đơng Nam Á trong giai đoạn Hình 8 – Chỉ số Chính phủ điện tử (EGDI) của các quốc gia Đông Nam Á trong giai đoạn 2012 - 2022 ... Error! Bookmark not defined. Hình 9 – Chỉ số Cung cấp dịch vụ (OSI) của các quốc gia Đông Nam Á trong giai </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13"><b>Bảng 1 – Tổng hợp các biến trong mơ hình nghiên cứu ... 51 </b>
<b>Bảng 2 – Đầu tư nước ngồi tại Đơng Nam Á theo ngành (Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến tháng 12/2022) ... 60 </b>
<b>Bảng 3 – Tổng số vốn đầu tư FDI vào khu vực Đông Nam Á phân theo quốc gia trong giai đoạn 2012 -2022 ... 63 </b>
<b>Bảng 4 – Lượng phát thải khí CO2 của các nước Đông Nam Á trong năm 2012, 2020 và 2022... 68 </b>
<b>Bảng 5 – Thống kê mô tả các biến số trong mơ hình nghiên cứu ... 79 </b>
<b>Bảng 6 – Giá trị trung bình các biến trong giai đoạn 2012 - 2022 ... 80 </b>
<b>Bảng 7 – Kết quả kiểm định tính dừng của các biến ... 81 </b>
<b>Bảng 8 – Kết quả kiểm định tính nội sinh của mơ hình ... 82 </b>
<b>Bảng 9 – Kết quả bảng hồi quy phương pháp S - GMM ... 83 </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">3 GII Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu 4 WIPO Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới
7 OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
9 UNCTAD Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc 10 M&A Mergers (Sáp nhập) và Acquisitions (Mua lại)
13 BOT hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
15 EQI Chỉ số Chất lượng môi trường tổng hợp
18 GII Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu 19 EGDI Chỉ số phát triển chính phủ điện tử
20 UNDESA Ủy ban các vấn đề kinh tế – xã hội của Liên Hợp Quốc
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">21 OSI Chỉ số dịch vụ công trực tuyến
25 UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc
33 S-GMM System Generalized Method of Moments
35 RCEP Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực
36 CPTPP Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương 37 APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
39 NDC Đóng góp do quốc gia tự quyết định
41 UNEP Chương trình Mơi trường Liên hiệp quốc
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI ln là một trong những nhân tố quan trọng đóng góp khơng nhỏ vào trong cơng cuộc phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia (Đỗ Thị Đàm, 2022). Việc thu hút nguồn vốn FDI có thể có những tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với từng khía cạnh của mỗi quốc gia. Đối với môi trường, việc thu hút nguồn vốn FDI có thể giúp cho quốc gia hoặc khu vực cải thiện được chất lượng cuộc sống, môi trường tuy nhiên cũng có thể gây ra các hiện tượng như phát thải lượng lớn khí CO2, làm ơ nhiễm nguồn nước, nguồn đất,... Đồng thời, một số doanh nghiệp FDI đầu tư vào khu vực Đông Nam Á về có trình độ cơng nghệ sản xuất trung bình, tiêu tốn nhiều tài nguyên thiên nhiên, lượng phát thải lớn, một số doanh nghiệp FDI đã gây ra sự cố môi trường nghiêm trọng, làm biến đổi hệ sinh thái, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, an sinh xã hội trên địa bàn. Theo Phịng nghiên cứu Chính sách PanNature, có tới 80% khu công nghiệp vi phạm quy định về môi trường; 23% doanh nghiệp FDI xả thải vượt quy chuẩn cho phép từ 5-12 lần. Đặc biệt, doanh nghiệp FDI chiếm 60% tổng số các doanh nghiệp xả thải vượt quy chuẩn.
Ơ nhiễm mơi trường đang là vấn đề quan ngại tại nhiều quốc gia trên thế giới, tuy nhiên, một số quốc gia trên thế giới lại chú trọng vấn đề phát triển kinh tế mà bỏ qua những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường (Solarin & cộng sự, 2017). Dữ liệu từ Báo cáo chất lượng khơng khí thế giới 2022 (Goldach, Thụy Sĩ) cho thấy, Tổng cộng 118 (90%) trong số 131 quốc gia và khu vực vượt quá giá trị hướng dẫn PM2.5 hàng năm của WHO là 5 Phag/m3 trong đó Châu Á là khu vực có mức độ ơ nhiễm nặng nề so với các châu lục khác. Thống kê năm 2022 cho thấy Trung Á và Nam Á có khơng khí ơ nhiễm nghiêm trọng, là nơi có 46/50 thành phố ô nhiễm nhất thế giới. Do vậy, việc tìm ra phương pháp giải quyết hiệu quả những tác động từ môi trường là vấn đề vô cùng cấp thiết đối với Chính phủ các nước.
Mặt khác, trong bối cảnh tồn cầu hóa hiện nay, cơng nghệ ngày càng có vai trị quan trọng trong việc giúp quốc gia và doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường thế giới. Việc phát triển công nghệ giúp thúc đẩy hình thành đội ngũ lao động có kỹ năng, tay nghề cao, gia tăng thu nhập cho người lao động, giảm sự phụ thuộc vào các ngành thâm dụng lao động thường gây ô nhiễm mơi trường và khuyến khích thu hút đầu tư nước
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">ngoài đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI. Đối mới, phát triển công nghệ đã trở thành một thành phần quan trọng trong chiến lược phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới.
Tại Đông Nam Á, đổi mới công nghệ và hấp thụ công nghệ là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, theo Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2023 do Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) công bố thứ hạng các nước Đông Nam Á lần lượt là Singapore đứng thứ 5, Malaysia thứ 36, Thái Lan thứ 43, Việt Nam thứ 48, Philippines thứ 56, Indonesia thứ 61, Campuchia thứ 101 và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào thứ 110. Các nền kinh tế này cũng dẫn đầu về các chỉ số đổi mới sáng tạo chủ chốt. Việt Nam dẫn đầu thế giới về nhập khẩu công nghệ cao và Philippines về xuất khẩu công nghệ cao.Việc phát triển công nghệ ở Đông Nam Á tạo động lực to lớn góp phần thu hút một lượng vốn FDI đáng kể vào khu vực. Trước bối cảnh của các nước, đặc biệt là các nước Đông Nam Á với chất lượng môi trường bị ảnh hưởng nghiêm trọng thể hiện ở các chỉ số về chất lượng khơng khí, đất, nước,...thì việc đánh giá chất lượng phát triển cơng nghệ có vai trị như thế nào trong q trình điều tiết sự ảnh hưởng của hai yếu tố tăng trưởng kinh tế và FDI đến môi trường là nội dung cần quan tâm. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là việc phát triển cơng nghệ có ảnh hưởng như thế nào đến tác động của việc thu hút FDI đến môi trường và những nghiên cứu về vai trị của cơng nghệ trong việc gia tăng hay hạn chế tác động tiêu cực của FDI lên môi trường cịn khá ít chủ yếu là chỉ nghiên cứu một vế về vai trị của cơng nghệ với việc thu hút FDI hoặc tác động của FDI lên môi trường, hầu như chưa đưa ra được những kết luận tổng quan về vấn đề trên. Xuất phát
<i>từ tình hình thực tế, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn đề tài “Vai trị của phát triển cơng nghệ đối với ảnh hưởng FDI đến chất lượng môi trường của các quốc gia khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn 2012-2022” làm đề tài nghiên cứu để tìm ra câu trả lời cho vấn </i>
đề được đề cập bên trên cũng như đưa ra những hàm ý chính sách phù hợp để cải thiện các yếu tố thuộc về công nghệ để giảm thiểu tác động của FDI lên môi trường của các quốc gia khu vực Đơng Nam Á.
<b>1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu </b>
<i><b>1.2.1. Các nghiên cứu tác động của FDI đến chất lượng mơi trường </b></i>
Cho đến nay, dịng vốn FDI đã được nhìn nhận như là một trong những “trụ cột” tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế, giúp các quốc gia phát triển năng động, đổi mới,
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">thu hút được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên bên cạnh những đóng góp tích cực, việc khai thác các lợi ích do dịng vốn FDI mang lại khiến mơi trường gặp nhiều vấn đề. FDI có ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên, gây ra nhiều hiện trạng ô nhiễm, tác động tiêu cực đến chất lượng mơi trường và hệ sinh thái. Có rất nhiều nghiên cứu quốc tế cũng như trong nước đã đề cập đến vấn đề này cụ thể:
<i>Trong nghiên cứu “Impact of FDI on environmental quality of China”, nhóm tác </i>
giả gồm Ahmad Zomorrodi và Xiaoyan Zhou đã phân tích hồi quy chuỗi thời gian, làm rõ 2 vấn đề là tác động của FDI đến ô nhiễm không khí ( SO2) và ô nhiễm nước và tác động khác nhau giữa 4 vùng kinh tế của Trung Quốc. Kết quả cuối cùng của nghiên cứu thực nghiệm là tác động môi trường của FDI trong trường hợp của Trung Quốc là rất đáng kể và quan trọng để thể hiện trong quá trình ra quyết định chính sách. Với việc nhấn mạnh sự tương tác giữa FDI và môi trường, nghiên cứu hiện tại cũng muốn đề xuất rằng chính phủ Trung Quốc nên tập trung vào việc đảm bảo sự thống nhất quy định về môi trường ở tất cả các khu vực, đảm bảo sử dụng công nghệ mới nhất để giảm lượng khí thải gây ô nhiễm không khí và nước.
<i>Bài nghiên cứu: “FDI, Growth and the Environment: Impact on Quality of Life in Malaysia FDI” của Mizan Bin Hitam và Halimahton Binti Borhanb được đăng trên báo </i>
Procedia - Social and Behavioral Sciences năm 2012. Bài viết này sử dụng mơ hình hồi quy phi tuyến tính trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến năm 2010, xác định rằng Malaysia có mơ hình "ơ nhiễm trước, kiểm sốt ơ nhiễm sau" với giả thuyết EKC được hỗ trợ trong trường hợp khí CO2.
<i>Bài nghiên cứu mang tên “The effect of FDI on environmental emissions: Evidence from a meta-analysis” của hai tác giả Binyam Afewerk Demena và Sylvanus Kwaku </i>
Afesorgbor đăng trên báo Energy Policy năm 2020. Nhận thấy có sự mơ hồ về mặt lý thuyết về mối quan hệ FDI - môi trường và nhiều tranh cãi của các nghiên cứu trước đó, nhóm tác giả quyết định tiến hành phân tích tổng hợp về tác động của FDI đến phát thải môi trường bằng cách sử dụng 65 nghiên cứu cơ bản tạo ra 1006 độ co giãn. Kết quả cho thấy tác động cơ bản của FDI đến phát thải môi trường gần bằng 0, tuy nhiên, sau khi tính đến tính khơng đồng nhất trong các nghiên cứu lại thấy rằng FDI làm giảm đáng kể lượng phát thải môi trường. Kết quả vẫn vững chắc sau khi phân chia tác động đối với
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">các quốc gia ở các mức độ phát triển khác nhau cũng như đối với các chất gây ô nhiễm khác nhau.
<i>Bài nghiên cứu: “Environmental Consequences of Economic Growth and Foreign Direct Investment: Evidence from Panel Data Analysis” của nhóm tác giả Muhammad, </i>
Shahbaz and Samia, Nasreen and Talat, Afza được đăng tải trên Munich Personal RePEc Archive. Bài viết này nhằm mục đích nghiên cứu mối quan hệ phi tuyến tính giữa đầu tư trực tiếp nước ngồi và suy thối môi trường bằng cách sử dụng dữ liệu bảng của 110 nền kinh tế phát triển và đang phát triển. Kết quả chỉ ra rằng đường cong Kuznets môi trường tồn tại và đầu tư trực tiếp nước ngồi làm tăng suy thối mơi trường.
<i>Đề tài nghiên cứu: “Environment, growth, and FDI revisited” của Nii Amon </i>
Neequaye và Reza Oladi được đăng trên báo International Review of Economics & Finance, năm 2015. Khi sử dụng mơ hình hiệu ứng cố định, các ước tính của nhóm tác giả cho thấy sự tồn tại của đường cong Kuznets môi trường đối với carbon dioxide (CO) cũng như tổng lượng phát thải khí nhà kính từ các ngành năng lượng và cơng nghiệp nhưng khơng có bằng chứng nào về hiện tượng này đối với oxit nitơ và tổng lượng phát thải khí nhà kính từ lĩnh vực chất thải. Tuy nhiên, nhóm tác giả đã khám phá khả năng khám phá khả năng tạo ra hiệu ứng kỹ thuật hoặc khả năng phổ biến công nghệ sạch hơn và ưu việt hơn vào nền kinh tế của các nước đang phát triển.
<i>Nghiên cứu “The impact of foreign direct investment on environmental quality: A bounds testing and causality analysis for Turkey” của các tác giả Fahri Seker, Hasan </i>
Murat Ertugrul và Murat Cetin được đăng trên báo Renewable and Sustainable Energy Reviews năm 2015. Nghiên cứu này nhằm mục đích điều tra tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), cùng với tổng sản phẩm quốc nội (GDP), bình phương GDP và tiêu thụ năng lượng, đối với lượng khí thải carbon dioxide (CO2) ở Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn 1974–2010. Các hệ số dài hạn của mơ hình ARDL chỉ ra rằng tác động của FDI đến phát thải CO2 là dương nhưng tương đối nhỏ, trong khi tác động của GDP và tiêu thụ năng lượng đến phát thải CO2 là khá đáng kể. Nhìn chung, các phát hiện cho thấy Thổ Nhĩ Kỳ nên thúc đẩy hiệu quả sử dụng năng lượng với tăng trưởng bền vững và khuyến khích nhiều dịng vốn FDI hơn, đặc biệt là trong các ngành sử dụng nhiều công nghệ và thân thiện với môi trường để cải thiện chất lượng môi trường.
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20"><i>Bài nghiên cứu “Nexus of innovation, renewable consumption, FDI, growth and CO2 emissions: The case of Vietnam” của các tác giả Phạm Xuân Hòa, Vũ Ngọc Xuân </i>
và Nguyễn Thị Phương Thu được đăng trên Journal of Open Innovation: Technology, Market, and Complexity năm 2023. Nghiên cứu nhằm xác định và tìm hiểu mối quan hệ giữa đổi mới, tiêu thụ năng lượng tái tạo, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tăng trưởng kinh tế và phát thải CO2 ở Việt Nam. Các tác giả đã thu thập thông tin hàng năm dựa trên số liệu hàng năm của Tổng cục Thống kê Việt Nam và Ngân hàng Thế giới từ năm 2000 đến năm 2022 và sử dụng hiệu ứng cố định không hạn chế để giải quyết bài toán nghiên cứu và sử dụng phương pháp dữ liệu bảng. Kết quả chỉ ra rằng dòng vốn FDI có tác động tích cực mạnh mẽ đến ơ nhiễm môi trường.
<i>Bài nghiên cứu mang tên “The Impact of Foreign Direct Investment to the Quality of the Environment in Indonesia” của nhóm tác giả Sasana Hadi, Rr. Sugiharti Retno và </i>
Setyaningsih Yuliani đăng trên báo EDP Sciences năm 2018. Nghiên cứu này nhằm mục đích phân tích tác động của FDI đến chất lượng môi trường được thể hiện qua lượng khí thải CO2. Ngồi FDI cịn lưu trữ các biến số kinh tế vĩ mơ khác để xem tác động đến môi trường trong nền kinh tế tổng hợp. Bằng cách sử dụng phân tích hồi quy chuỗi thời gian, kết quả cho thấy sự hiện diện của FDI có tác động đáng kể đến sự gia tăng lượng khí thải CO2. Trong khi biến số kinh tế vĩ mô khác, cụ thể là nghèo đói và tăng trưởng dân số, có tác động tiêu cực đến lượng khí thải CO2.
<i>Bài nghiên cứu “The Impact of Foreign Direct Investment on Environment Degradation: Evidence from Emerging Markets in Asia” của tác giả Tơ Anh Hồng, Đào </i>
Thị Thiếu Hà, Nguyễn Hà Minh và Võ Đức Hồng được đăng trên báo Environmental Research and Public Health năm 2019. Nghiên cứu này được thực hiện để xem xét mối lo ngại về việc đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) gây suy thối mơi trường và cũng để kiểm tra tính hợp lệ của Đường cong Kuznets Mơi trường (EKC) truyền thống trong bối cảnh các thị trường mới nổi ở khu vực Châu Á. Dữ liệu của các quốc gia này từ năm 1980–2016 được sử dụng. Các phát hiện từ nghiên cứu này chỉ ra rằng giả thuyết thiên đường ô nhiễm và đường cong EKC nhìn chung có giá trị trong khu vực. Ngồi ra, FDI cịn có tác động mạnh mẽ đến môi trường.
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21"><i><b>1.2.2. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của công nghệ đến tác động của FDI lên chất lượng môi trường </b></i>
Công nghệ từ lâu đã được cơng nhận là mang lại lợi ích lâu dài cho sự thịnh vượng kinh tế. Tuy nhiên, vai trị của các cơng nghệ khác nhau, tức là cơng nghệ mơi trường và tài chính, đối với suy thối mơi trường vẫn chưa rõ ràng. Một số nghiên cứu đã đề cập đến yếu tố cơng nghệ khi phân tích tác động của FDI đến môi trường cụ thể:
<i>Bài nghiên cứu “How do FDI and technical innovation affect environmental quality? Evidence from China” của các tác giả Yu Hao, Yerui Wu, Haitao Wu & Siyu </i>
Ren sử dụng dữ liệu bảng của 30 đơn vị cấp tỉnh ở Trung Quốc từ năm 1998 đến năm 2016 để điều tra tác động của FDI và đổi mới công nghệ đối với ô nhiễm môi trường. Kết quả cho thấy FDI tăng có thể làm giảm ô nhiễm môi trường nhờ việc đổi mới cơng nghệ có thể làm giảm lượng khí thải sulfur dioxide và bụi khói, khẳng định sự tồn tại của “giả thuyết quầng ô nhiễm”.
<i>Đề tài nghiên cứu: “FDI, Growth and the Environment: Impact on Quality of Life in Malaysia FDI” của Mizan Bin Hitam và Halimahton Binti Borhanb rút ra rằng chính </i>
phủ cần đưa ra các biện pháp áp dụng cơng nghệ kiểm sốt ơ nhiễm tiên tiến hơn để giảm chi phí - ô nhiễm môi trường tăng lợi ích- tăng trưởng kinh tế của FDI.
<i>Với nghiên cứu “Impact of FDI on environmental quality of China”, nhóm tác giả </i>
gồm Ahmad Zomorrodi và Xiaoyan Zhou đã làm rõ 2 vấn đề là tác động của FDI đến ơ nhiễm khơng khí ( SO2) và ô nhiễm nước và tác động khác nhau giữa 4 vùng kinh tế của Trung Quốc. Kết quả cuối cùng của nghiên cứu thực nghiệm là tác động môi trường của FDI trong trường hợp của Trung Quốc là rất đáng kể và quan trọng để thể hiện trong quá trình ra quyết định. Đặc biệt nghiên cứu đề xuất rằng Chính phủ Trung Quốc nên tập trung vào thu hút FDI để đảm bảo sử dụng công nghệ mới nhất để giảm lượng khí thải gây ơ nhiễm khơng khí và nước.
<i>Bài nghiên cứu “Exploring the asymmetric impact of economic complexity, FDI, and green technology on carbon emissions: Policy stringency for clean-energy investing countries” của hai tác giả Najia Saqib , Gheorghița Dincă sau khi xem xét kỹ lưỡng </i>
tác động của các cú sốc về độ phức tạp kinh tế, FDI, công nghệ môi trường và năng lượng tái tạo đối với phát thải carbon ở các quốc gia đầu tư vào năng lượng sạch hàng đầu, kéo dài trong giai đoạn từ 1995 đến 2020, cho thấy những cú sốc tích cực về độ
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">phức tạp kinh tế, FDI, công nghệ môi trường và năng lượng tái tạo làm giảm lượng khí thải carbon trong khi những cú sốc tiêu cực có thể dẫn đến mức độ ô nhiễm tăng cao về lâu dài và nhận định rằng các nước đầu tư năng lượng sạch hàng đầu nên tập trung vào thay đổi cơ cấu, FDI, công nghệ và tiêu thụ năng lượng tái tạo.
<i>Đề tài nghiên cứu “Sustainable FDI in the Digital Economy” của hai tác giả Aneta </i>
Bobenič Hintošová & Glória Bódy khẳng định việc chuyển đổi sang nền kinh tế kỹ thuật số sẽ dẫn đến những thay đổi trong phương pháp phân bổ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đặc biệt là khi nhu cầu chuyển giao tài sản vật chất giảm xuống. Bài viết tìm hiểu mối liên hệ giữa các thuộc tính bền vững của FDI và sự phát triển của nền kinh tế kỹ thuật số bằng cách phân tích cụm theo điều kiện của các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu. Kết quả phân tích cụm được thực hiện trong hai giai đoạn cho thấy những điểm tương đồng nhất định, đặc biệt là trong các nhóm quốc gia Bắc Âu, Visegrad, Balkan và Baltic. Nhóm đầu tiên được đề cập có thể được đặc trưng bởi sự phát triển kỹ thuật số tiên tiến như một trong những động lực có thể thu hút FDI bền vững. Các nhóm cịn lại đều thể hiện những khác biệt nhất định về mặt này. Dựa trên kết quả, bài viết đưa ra một số hàm ý chính sách theo hướng nhấn mạnh tính bền vững của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền kinh tế số, đặc biệt thông qua việc thực hiện khái niệm chính sách xúc tiến đầu tư bền vững.
<i>Bài nghiên cứu “Has information and communication technology improved environmental quality in the OECD? - a dynamic panel analysis” của hai tác giả </i>
Olatunji Abdul Shobande, Lawrence Ogbeifun. Trong nghiên cứu này, tác giả xem xét vai trị của CNTT trong tính bền vững mơi trường đối với nhóm gồm 24 quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu hàng năm thu được từ Ngân hàng Thế giới trong 40 năm (1980–2019). Những phát hiện thực nghiệm của nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng CNTT để thúc đẩy tính bền vững của mơi trường. Ngồi ra, tác giả xác định các cơ chế mà CNTT có thể ảnh hưởng đến mơi trường, đặc biệt là giáo dục, giao thông vận tải, đầu tư trực tiếp nước ngoài, chất lượng quy định và chất lượng thể chế. Dựa vào kết quả, chính phủ đưa ra chính sách khơng chỉ nên chú ý đến CNTT mà còn các cơ chế đã được xác định khác đóng vai trị bổ sung trong việc thúc đẩy môi trường bền vững.
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23"><b>1.3. Xác định khoảng trống nghiên cứu </b>
Thông qua tổng hợp một số tài liệu nghiên cứu đã được cơng bố như trên, nhóm nghiên cứu đã tìm ra được những khoảng trống nghiên cứu như sau:
<i>Thứ nhất, các nghiên cứu về mối quan hệ của FDI đến mơi trường chưa có tính cập nhật, </i>
số liệu kiểm chứng và thông tin đều bị giới hạn về giai đoạn nghiên cứu.
<i>Thứ hai có hạn chế nghiên cứu làm rõ được vai trị của cơng nghệ trong việc cải thiện </i>
tác động của FDI lên mơi trường.
<i>Thứ ba, các mơ hình nghiên cứu đa số đang chưa giải quyết được vấn đề nội sinh có </i>
trong mơ hình.
<i>Thứ tư, các nghiên cứu trong nước về mối quan hệ giữa phát triển công nghệ, FDI với </i>
mơi trường Đơng Nam Á vẫn cịn rất nhiều hạn chế, nghiên cứu định lượng vẫn còn rất ít, chưa thể hiện được tính trực quan, thuyết phục, chưa bám sát với điều kiện hiện nay để đưa ra hướng đi, giải pháp cụ thể.
Vậy nên, nhóm nghiên cứu nhận thấy việc sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, làm rõ các số liệu dựa trên các cơ sở lí luận đã có để khắc phục những hạn chế của các mô hình trước đây là rất cần thiết.
Từ tất cả những khoảng trống nghiên cứu đã được xác định ở trên, nhóm nghiên cứu khẳng định rằng, đề tài nghiên cứu “Vai trị của phát triển cơng nghệ đối với tác động của FDI lên môi trường các quốc gia Đông Nam Á” là vô cùng cần thiết.
<b>1.4. Mục tiêu nghiên cứu </b>
<i><b>1.4.1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát </b></i>
Xác định mức độ và chiều tác động của FDI lên chất lượng môi trường tại các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á; làm rõ vai trị của cơng nghệ đối với tác động của FDI lên mơi trường, từ đó đề xuất một số giải pháp cải thiện tác động của hoạt động thu hút FDI lên môi trường của các các nước thuộc khu vực Đông Nam Á.
<i><b>1.4.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể </b></i>
Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, các yếu tố tác động đến thu hút FDI, các yếu tố đánh giá chất lượng môi trường, tác động của FDI đến các yếu tố đó và vai trị của cơng nghệ đối với tác động của FDI đến chất lượng môi trường.
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">Phân tích thực trạng thu hút đầu tư FDI của các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn 2012 - 2022.
Phân tích thực trạng mơi trường tại các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn 2012 - 2022.
Sử dụng mơ hình hồi quy để đánh giá tác động của FDI lên chất lượng mơi trường và vai trị của cơng nghệ đối với tác động đó tới mơi trường tại các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á.
Đề xuất một số hàm ý chính sách giải pháp để cải thiện và thúc đẩy các tác động tích cực của FDI lên chất lượng môi trường tại các quốc gia Đông Nam Á
<b>1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu </b>
<i><b>1.5.1. Đối tượng nghiên cứu </b></i>
Khu vực Đông Nam Á hiện được coi là khu vực tiềm năng thu hút một lượng lớn FDI. Tuy nhiên, vấn đề phát triển công nghệ và việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động đáng kể tới chất lượng mơi trường đồng thời FDI lại có tác động đến mơi trường tại mỗi quốc gia là khác nhau. Điều này cần nghiên cứu một cách cụ thể và chuyên sâu để từ đó có những định hướng cho việc phát triển công nghệ để thu hút FDI và sử dụng nguồn vốn FDI sao cho hiệu quả đối với mơi trường. Vì thế, đối tượng nghiên cứu của bài nghiên cứu là: Vai trị của cơng nghệ đối với tác động của FDI tới các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á.
<i><b>1.5.2. Phạm vi nghiên cứu </b></i>
<i>- Về thời gian: Bài nghiên cứu tập trung nghiên cứu vai trị của cơng nghệ đối với tác </i>
động của FDI tới các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn 2012 - 2022. Đây là giai đoạn có nhiều chuyển biến trong nền kinh tế thị trường và việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á.
<i>- Về không gian: Bài nghiên cứu được giới hạn tại khu vực Đơng Nam Á gồm 11 quốc </i>
gia đó là: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar, Philippines, Singapore, Indonesia, Đông Timor, Brunei, Malaysia.
<i>- Về nội dung: Thông qua chỉ số tác động của FDI đến chất lượng mơi trường đánh giá </i>
vai trị của cơng nghệ đối với tác động đó tới các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á.
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25"><b>1.6. Ý nghĩa của nghiên cứu </b>
<i><b>1.6.1. Về lý luận </b></i>
<i>Kết quả nghiên cứu của đề tài “Vai trò của phát triển công nghệ đối với tác động của FDI lên chất lượng môi trường các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2012-2022 ” </i>
sẽ là cơ sở giúp các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định nền kinh tế có góc nhìn cụ thể hơn về vấn đề cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường dưới vai trị của phát triển cơng nghệ đối với tác động của FDI trong khu vực Đông Nam Á nói chung và đối với Việt Nam nói riêng. Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng trở thành tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu khác về các lĩnh vực có liên quan.
<i><b>1.6.2. Về thực tiễn </b></i>
Đề tài là cơ sở xác định và đánh giá sự tác động của FDI lên chất lượng môi trường trong khu vực Đông Nam Á và nghiên cứu sự khác biệt giữa các quốc gia trong khu vực. Từ đó giúp chính phủ, các doanh nghiệp, các nhà đầu tư đưa ra các giải pháp thúc đẩy thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI hiệu quả. Đặc biệt là hướng tới tác động tích cực và cải thiện chất lượng môi trường.
Việc đánh giá và cải thiện sự tác động của FDI lên chất lượng môi trường Việt Nam góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của quốc gia ln là một bài tốn khó, địi hỏi địa phương, các cơ quan ban ngành trong khu vực phải kịp thời đưa ra những định hướng, phương án hỗ trợ, chính sách phù hợp với bối cảnh thực tế để tận dụng, phát huy thế mạnh sẵn có, tìm ra nhân tố mới nhằm thu hút đầu tư phát triển trong tương lai, từ đó
<b>góp phần thúc đẩy kinh tế khu vực. 1.7. Kết cấu bài nghiên cứu </b>
Ngoài phần lời cảm ơn, lời cam đoan, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng, danh mục các biểu đồ hình, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục; đề tài nghiên cứu được kết cấu được chia thành 4 chương như sau:
<b>Chương I. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu </b>
<b>Chương II: Cơ sở lý luận về vai trị của cơng nghệ đối với tác động của FDI lên </b>
chất lượng môi trường.
<b>Chương III: Tổng quan về FDI, chất lượng môi trường và phát triển công nghệ tại </b>
Đông Nam Á
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26"><b>Chương IV: Phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu về vai trị của cơng </b>
nghệ đối với tác động của FDI lên chất lượng môi trường tại Đông Nam Á.
<b>Chương V: Định hướng tổng thể, các chính sách, giải pháp và điều kiện cụ thể để </b>
nâng cao chỉ số công nghệ và phát huy vai trò cải thiện tác động của FDI lên chất lượng môi trường tại Đông Nam Á
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27"><i><b>2.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài </b></i>
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới WTO (1996) đưa ra định nghĩa như sau về FDI: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư) với quyền quản lý tài sản đó”. Khái niệm này nhấn mạnh rằng FDI là một tài sản. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong trường hợp này, nhà đầu tư thường được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty".
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) (1948/2009, Benchmark Definition of FDI, trang 100), “FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế
<b>nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”. </b>
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), “Đầu tư trực tiếp nước ngồi là hình thức đầu tư qua biên giới, được thực hiện bởi một chủ thể cư trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) với mục đích thiết lập lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp (doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp) cư trú tại một nền kinh tế khác nền kinh tế của nhà đầu tư.”
Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc UNCTAD (1996) xác định, FDI là “một hoạt động đầu tư mang tính dài hạn nhằm thu về những lợi ích và sự kiểm soát lâu dài bởi một thực thể (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) của một đất nước trong một doanh nghiệp (chi nhánh ở nước ngồi) ở một nước khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế sở tại”.
Theo Luật Đầu tư nước ngoài (1996) “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định”.
Theo Luật Đầu tư năm 2005 (tại Điều 3), “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”, “Đầu tư nước ngoài là
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư”.
Trên thực tế, có nhiều cách khác để các nhà đầu tư nước ngoài có thể ảnh hưởng tới quyết định quản lý của doanh nghiệp như: Hợp đồng quản lý, Hợp đồng thầu phụ, Thỏa thuận chìa khóa trao tay, Nhượng quyền (Franchising), Thuê mua, Cấp giấy phép (Licensing)... Các hình thức này khơng được coi là FDI vì nó không đi kèm với một mức sở hữu cổ phần nhất định.
<i>Tóm lại, đầu tư trực tiếp nước ngồi (FDI) là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm sốt hoặc tham gia kiểm sốt dự án đó. Với mục tiêu là lợi nhuận, trong đó người sở hữu vốn (cổ phần tại doanh nghiệp nhận đầu tư) trực tiếp điều hành các hoạt động tại doanh nghiệp nhận đầu tư. </i>
<i><b>2.1.2. Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài </b></i>
<i>2.1.2.1. Phân loại FDI căn cứ theo liên kết đầu tư </i>
- FDI theo chiều ngang (Horizontal FDI): hoạt động đầu tư nhằm sản xuất cùng loại sản phẩm hoặc các sản phẩm tương tự như chủ đầu tư đã sản xuất ở nước mình. Nhà đầu tư thường sử dụng vốn đầu tư vào các công ty trong cùng ngành công nghiệp hay chính là các đối thủ cạnh tranh. Ví dụ, Công ty Samsung Electronics của Hàn Quốc đầu tư vào một nhà máy sản xuất điện thoại di động ở Việt Nam, vì họ muốn mở rộng quy mơ sản xuất điện thoại di động của mình ở khu vực Đông Nam Á.
- FDI theo chiều dọc (Vertical FDI): hình thức đầu tư được thực hiện trong chuỗi cung ứng hay các khâu khác nhau trong cùng một ngành cơng nghiệp. Đầu tư lùi về phía cung cấp đầu vào cho sản xuất, còn gọi là backward vertical FDI hoặc tiến về phía thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra hay còn gọi là forward vertical FDI. Một ví dụ điển hình, Công ty sản xuất ô tô Toyota đầu tư vào một công ty bán lẻ ô tô ở Việt Nam để phân phối, tiếp thị, bán hàng các sản phẩm ơ tơ của Toyota. Vì doanh nghiệp đầu tư vào một doanh nghiệp khác để phân phối, tiếp thị, bán hàng sản phẩm của doanh nghiệp chính, loại hình FDI này được gọi là hội nhập xi theo chiều dọc.
- FDI hỗn hợp (Conglomerate FDI): đầu tư vào một ngành hoàn toàn khác so với ngành mà chủ đầu tư đang hoạt động trước đó, ví dụ Tập đồn Coca-Cola của Mỹ đầu
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">tư vào nhà máy sản xuất nước giải khát tại Việt Nam. Nhà máy này được xây dựng để sản xuất nước giải khát cho thị trường Việt Nam và xuất khẩu sang các nước khác.
<i><b>2.1.2.2. Phân loại FDI căn cứ theo cách thức thực hiện đầu tư </b></i>
- Đầu tư mới (Greenfield Investment): hoạt động đầu tư trực tiếp vào các cơ sở sản xuất kinh doanh hoàn toàn mới ở nước ngoài, hoặc mở rộng một cơ sở sản xuất kinh doanh tồn tại. Nhà đầu tư thường mua một mảnh đất trống, xây dựng nhà máy sản xuất, chi nhánh marketing, hoặc các cơ sở khác để phục vụ cho mục đích sử dụng của mình.
- Mua lại và sáp nhập (Merger and Acquisition): còn gọi là mua lại và sáp nhập qua biên giới (Cross-border Merger and Acquisition), nhằm phân biệt với hình thức M&A được thực hiện giữa các doanh nghiệp nội địa. Theo OECD, hoạt động mua bán và sáp nhập xuyên biên giới (M&As), tức là hoạt động diễn ra giữa các cơng ty có nguồn gốc quốc gia khác nhau hoặc quốc gia sở tại. Việc sáp nhập và mua lại, được định nghĩa một cách chặt chẽ, xảy ra khi một doanh nghiệp đang hoạt động có được quyền kiểm sốt tồn bộ hoặc một phần công việc kinh doanh của một doanh nghiệp tại quốc gia khác. Mặc dù các hoạt động M&A đã có từ lâu nhưng mục tiêu chính vẫn là hướng tới các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đến năm 1990, M&A mới thực sự bùng nổ với những vụ sáp nhập giữa các công ty đa quốc gia. Một vài ví dụ về M&A nổi bật trên thế giới có thể kể đến như: Thương vụ ABN Amro sáp nhập với Barclays PLC trị giá 91 tỷ USD trong khối ngành ngân hàng; trong ngành cơng nghệ tập đồn, Antel sáp nhập với TPG Capital và Goldman Sachs trị giá 27,5 tỷ USD, và thương vụ M&A Volkswagen – Porsche trong khối ngành ô tô,...
<i>2.1.2.3. Phân loại FDI căn cứ vào tính pháp lý của đầu tư trực tiếp nước ngồi </i>
- FDI theo hình thức thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là loại hình doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam. Như vậy, doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu hoàn toàn của nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam và do các nhà đầu tư nước ngoài nắm quyền quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
- Hợp tác kinh doanh trên cơ sở đồng hợp tác kinh doanh (BCC) là hình thức đầu tư được ký kết giữa các nhà đầu tư nước ngoài hoặc các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định tại Điều 27 của Luật Đầu tư
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">2020. Theo đó hợp đồng BCC được ký kết giữa các nhà đầu tư trong nước thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự. Theo hình thức đầu tư này nhà đầu tư nước ngồi là người cung cấp phần lớn hoặc toàn bộ nguồn vốn đầu tư. Bên nhận đầu tư sẽ đóng góp đất đai, nhà xưởng hoặc có thể góp một phần vốn. Đây là hình thức đơn giản nhất do khơng địi hỏi thủ tục pháp lý rườm rà.
- FDI theo hình thức liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh (JVC) là hợp đồng liên doanh có sự ký kết của một hoặc nhiều nhà đầu tư trong nước với một hoặc nhiều nhà đầu tư nước ngoài, hệ quả là một doanh nghiệp liên doanh ra đời. Việc giao kết hợp đồng liên doanh dẫn đến việc thành lập một pháp nhân mới theo quy định của Luật doanh nghiệp Việt Nam; nên bên cạnh những nội dung tương tự hợp đồng BCC, hợp đồng liên doanh còn có các nội dung thỏa thuận về loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực, ngành nghề và phạm vi kinh doanh, vốn điều lệ, phần vốn góp của mỗi bên, phương thức, tiến độ góp vốn điều lệ, điều kiện chấm dứt hoạt động, giải thể doanh nghiệp...
<i>2.1.2.4. Phân loại FDI căn cứ vào lĩnh vực đầu tư </i>
Hình thức phân loại này được sử dụng phổ biến trong trường hợp các nước tiếp nhận đầu tư là các nước đang phát triển, bao gồm:
<i>- Thứ nhất, FDI hướng vào các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên như dầu lửa, </i>
khống sản, sản xuất nơng nghiệp, ví dụ như liên doanh dầu khí Vietsovpetro.
- Thứ hai, FDI hướng vào các ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ hướng tới thị trường nội địa của nước tiếp nhận đầu tư, bao gồm hàng hóa tiêu dùng (như chế biến thực phẩm và may mặc); các sản phẩm sử dụng nhiều vốn như thép và hóa chất; các dịch vụ như vận tải, viễn thơng, tài chính, điện lực, dịch vụ kinh doanh và thương mại bán lẻ, có thể thấy tại Việt Nam như liên doanh Toyota Việt Nam.
- Thứ ba, FDI hướng vào sản xuất công nghiệp sử dụng nhiều lao động hướng về xuất khẩu ra thị trường thế giới, như sx hàng may mặc, điện tử, chế biến thực phẩm..., một vài ví dụ như các nhà máy sản xuất dệt may, da giầy, Samsung, LG...
<i>2.1.2.5. Phân loại FDI căn cứ vào mục tiêu của chủ đầu tư </i>
- FDI nhằm tìm kiếm nguồn lực (Resource - seeking): Đầu tư nhằm đạt được dây chuyền sản xuất và các nguồn lực khác như lao động rẻ hoặc tài ngun thiên nhiên – thường khơng có hoặc đắt đỏ ở nước chủ đầu tư. Đây là FDI thường đầu tư vào các nước
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">đang phát triển như tài nguyên dầu mỏ ở Trung Đông hay vàng, kim cương ở Châu Phi, lao động rẻ ở Đơng Nam Á.
- FDI tìm kiếm thị trường (Market - seeking): Đầu tư nhằm thâm nhập thị trường mới hoặc duy trì thị trường hiện có. Ngồi ra, hình thức đầu tư này cịn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu.
- FDI tìm kiếm hiệu quả (Efficiency - seeking): Đầu tư nhằm tăng cường hiệu quả bằng việc tận dụng lợi thế của tính kinh tế theo quy mô hay phạm vi, hoặc cả hai; xây dựng chuỗi cung ứng tồn cầu. Những lợi thế đó có thể là giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện, nước, chi phí thơng tin liên lạc, giao thơng vận tải, mặt bằng kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, điều kiện pháp lý,... Nhìn chung, đây là loại FDI nhắm đến các khu vực địa lý mà trình độ khoa học công nghệ, cơ sở hạ tầng cho phép họ có thể đạt hiệu suất theo quy mơ.
- FDI tìm kiếm tài sản chiến lược (Strategic – Asset - Seeking): Đầu tư nhằm bảo vệ hoặc tăng lợi thế cạnh tranh của hãng và/hoặc giảm lợi thế đó của các đối thủ; ngăn chặn việc mất các tài sản chiến lược vào tay đối thủ cạnh tranh. Ví dụ, các cơng ty sản xuất và khai thác dầu mỏ có thể khơng cần trữ lượng dầu đó ở thời điểm hiện tại, nhưng vẫn phải tìm cách bảo vệ nó để không rơi vào tay đối thủ cạnh tranh.
<i><b>2.1.3. Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngồi </b></i>
<i>2.1.3.1. Hình thức doanh nghiệp liên doanh </i>
Khoản 7 điều 2 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996 quy định doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
Đây là hình thức được sử dụng rộng rãi trên thế giới từ trước tới nay. Hình thức này cũng rất phát triển ở Việt Nam, nhất là giai đoạn đầu thu hút FDI. Hình thức doanh nghiệp liên doanh tạo nên pháp nhân đồng sở hữu nhưng địa điểm đầu tư phải ở nước sở tại. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp liên doanh phụ thuộc rất lớn vào môi trường
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">kinh doanh của nước sở tại, bao gồm các yếu tố kinh tế, chính trị, mức độ hồn thiện pháp luật, trình độ của các đối tác liên doanh của nước sở tại…
Về ưu điểm, hình thức doanh nghiệp liên doanh có những ưu điểm là góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn, nước sở tại tranh thủ được nguồn vốn lớn để phát triển kinh tế nhưng lại được chia sẻ rủi ro; có cơ hội để đổi mới cơng nghệ, đa dạng hóa sản phẩm; tạo cơ hội cho người lao động có việc làm và học tập kinh nghiệm quản lý của nước ngoài; Nhà nước của nước sở tại dễ dàng hơn trong việc kiểm soát được đối tác nước ngồi. Về phía nhà đầu tư, hình thức này là cơng cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả, tạo thị trường mới, góp phần tạo điều kiện cho nước sở tại tham gia hội nhập vào nền kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, hình thức này có nhược điểm là thường dễ xuất hiện mâu thuẫn trong điều hành, quản lý doanh nghiệp do các bên có thể có sự khác nhau về chế độ chính trị, phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa, ngơn ngữ, luật pháp. Nước sở tại thường rơi vào thế bất lợi do tỷ lệ góp vốn thấp, năng lực, trình độ quản lý của cán bộ tham gia trong doanh nghiệp liên doanh yếu.
<i>2.1.3.2. Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngồi </i>
Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngồi là hình thức truyền thống và phổ biến của FDI. Với hình thức này, các nhà đầu tư, cùng với việc chú trọng khai thác những lợi thế của địa điểm đầu tư mới, đã nỗ lực tìm cách áp dụng các tiến bộ khoa học cơng nghệ, kinh nghiệm quản lý trong hoạt động kinh doanh để đạt hiệu quả cao nhất. Hình thức này phổ biến ở quy mô đầu tư nhỏ nhưng cũng rất được các nhà đầu tư ưa thích đối với các dự án quy mô lớn. Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia thường đầu tư theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngồi và họ thường thành lập một công ty con của công ty mẹ xuyên quốc gia.
Về ưu điểm, hình thức 100% vốn đầu tư nước ngồi có ưu điểm là nước chủ nhà không cần bỏ vốn, tránh được những rủi ro trong kinh doanh, thu ngay được tiền thuê đất, thuế, giải quyết việc làm cho người lao động. Mặt khác, do độc lập về quyền sở hữu nên các nhà đầu tư nước ngoài chủ động đầu tư và để cạnh tranh, họ thường đầu tư công nghệ mới, phương tiện kỹ thuật tiên tiến nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao, góp phần nâng cao trình độ tay nghề người lao động.
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước chủ nhà khó tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý và cơng nghệ, khó kiểm sốt được đối tác đầu tư nước ngồi và khơng có lợi nhuận.
<i>2.1.3.3. Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) </i>
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.
Về ưu điểm, hình thức đầu tư này có ưu điểm là giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, cơng nghệ; tạo thị trường mới, bảo đảm được quyền điều hành dự án của nước sở tại, thu lợi nhuận tương đối ổn định.
Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước sở tại không tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý; công nghệ thường lạc hậu; chỉ thực hiện được đối với một số ít lĩnh vực dễ sinh lời như thăm dị dầu khí.
BCC là hình thức đơn giản nhất, khơng địi hỏi thủ tục pháp lý rườm rà nên thường được lựa chọn trong giai đoạn đầu khi các nước đang phát triển bắt đầu có chính sách thu hút FDI. Khi các hình thức 100% vốn hoặc liên doanh phát triển, hình thức BCC có xu hướng giảm mạnh.
<i>2.1.3.4. Hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) </i>
Tổ chức phát triển Công nghiệp của Liên hợp quốc cho rằng, BOT là một thuật ngữ để chỉ một mơ hình hay một cấu trúc sử dụng đầu tư tư nhân để xây dựng cơ sở hạ tầng vốn dĩ vẫn được dành riêng cho khu vực Nhà nước. Theo giải thích tại Điểm a, Khoản 1, Điều 45 Luật đầu tư theo phương thức đối tác công tư: “Hợp đồng BOT là hợp đồng mà nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP được nhượng quyền để xây dựng, kinh doanh, vận hành cơng trình, hệ thống cơ sở hạ tầng trong thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP chuyển giao cơng trình, hệ thống cơ sở hạ tầng đó cho Nhà nước;”
Về đặc điểm, hình thức BOT có các đặc điểm cơ bản: một bên ký kết phải là Nhà nước; lĩnh vực đầu tư là các cơng trình kết cấu hạ tầng như đường sá, cầu, cảng, sân bay, bệnh viện, nhà máy sản xuất, điện, nước...; bắt buộc đến thời hạn phải chuyển giao khơng bồi hồn cho Nhà nước.
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">Về ưu điểm, hình thức này thu hút vốn đầu tư vào những dự án kết cấu hạ tầng, đòi hỏi lượng vốn lớn, thu hồi vốn trong thời gian dài, làm giảm áp lực vốn cho ngân sách nhà nước. Đồng thời, nước sở tại sau khi chuyển giao có được những cơng trình hồn chỉnh, tạo điều kiện phát huy các nguồn lực khác để phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, hình thức BOT có nhược điểm là độ rủi ro cao, đặc biệt là rủi ro chính sách; nước chủ nhà khó tiếp nhận kinh nghiệm quản lý, cơng nghệ.
<i><b>2.1.4. Vai trị của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nước tiếp nhận đầu tư </b></i>
<i>2.1.4.1. Hỗ trợ cán cân thanh toán quốc tế, bổ sung nguồn ngoại tệ khan hiếm </i>
Các doanh nghiệp FDI có đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu của nước nhận đầu tư; sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI cũng góp phần quan trọng, buộc các doanh nghiệp trong nước đổi mới cơng nghệ, cải thiện sản xuất, gia tăng tìm hiểu thị trường xuất khẩu,... Từ đó cân bằng lại cán cân thanh toán của nước nhận đầu tư, hướng cán cân thanh toán đến xuất siêu và giúp nước nhận đầu tư có nguồn vốn để tăng dự trữ ngoại hối, thực hiện các dự án đầu tư ra nước ngoài.
<i>2.1.4.2. Tạo việc làm và nâng cao kỹ năng lao động </i>
Nguồn vốn FDI, bằng cách thiết lập các cơ sở kinh doanh mới tại nước nhận đầu tư, sẽ có tác động trực tiếp, làm tăng việc làm cho người lao động. Sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI trong nền kinh tế cũng góp phần kích thích việc làm tại các doanh nghiệp địa phương. FDI cũng góp phần duy trì việc làm thơng qua mua lại và tái cơ cấu các doanh nghiệp ốm yếu. Tuy nhiên, thơng qua thối vốn và đóng cửa các cơ sở sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp FDI sẽ làm giảm việc làm trong nền kinh tế.
Về nâng cao kỹ năng lao động, nhằm đáp ứng yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực, các doanh nghiệp FDI sẽ tổ chức đào tạo, nâng cao kỹ năng, tay nghề của người lao động, gửi các chuyên gia để huấn luyện lao động,... từ đó góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao năng suất làm việc trong chính doanh nghiệp của mình. Ngồi ra, dịng vốn FDI cũng góp phần kích thích các doanh nghiệp trong nước đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,... để tiếp tục duy trì và phát triển.
<i>2.1.4.3. FDI góp phần bổ sung nguồn vốn thiếu hụt </i>
Dựa trên quan điểm dài hạn về thị trường, về triển vọng tăng trưởng và không tạo ra nợ cho chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, FDI ít có khuynh hướng thay đổi khi có tình huống bất lợi. Do đó, vốn FDI góp phần giúp cho các MNC có khả năng tiếp cận thị
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">trường tài chính tốt hơn, khuyến khích các MNC khác tham gia vào cùng một dự án FDI với một MNC khác, khuyến khích dịng viện trợ phát triển chính thức từ nước sở tại của nhà đầu tư và FDI cũng góp phần huy động nguồn tiết kiệm trong nước bằng cách cung cấp cho địa phương các cơ hội đầu tư hấp dẫn.
<i>2.1.4.4. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế </i>
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những động lực quan thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nước nhận đầu tư. Thông qua Đầu tư trực tiếp nước ngồi FDI, nước nhận đầu tư sẽ có cơ hội tiếp xúc với công nghệ sản xuất mới, hiện đại hơn; tăng vốn và tích lũy cho đầu tư 25 phát triển; hấp thụ nguồn lực dư thừa, chưa hiệu quả hoặc từ các lĩnh vực kém sang các lĩnh vực khác năng suất hơn, từ đó tăng sản lượng nền kinh tế và góp phần vào tăng trưởng kinh tế.
<i>2.1.4.5. Bổ sung nguồn thu ngân sách </i>
Các doanh nghiệp FDI khi kinh doanh tại nước sở tại cần tuân thủ đầy đủ pháp luật của nước nhận đầu tư. Với mỗi quốc gia có những quy định riêng về thu ngân sách nhà nước từ các loại thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp,... Theo đó, đối với nước nhận đầu tư, các doanh nghiệp FDI sẽ đóng góp một nguồn thu nhất định vào ngân sách nhà nước.
<i>2.1.4.6. Chuyển giao và lan tỏa công nghệ </i>
Việc chuyển giao công nghệ là chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc chuyển giao quyền sử dụng công nghệ từ bên có quyền chuyển giao sang bên nhận cơng nghệ. Chuyển giao công nghệ không chỉ là chuyển giao kỹ thuật, nó cịn bao hàm việc chuyển giao các năng lực cốt lõi, kiến thức ngầm và kỹ năng tổ chức. Dòng vốn FDI từ các MNC được coi là kênh chính để các nước đang phát triển tiếp cận công nghệ tiên tiến.
Hiệu ứng lan tỏa công nghệ bao gồm lan tỏa theo chiều ngang và lan tỏa theo chiều dọc:
- Thứ nhất, lan tỏa theo chiều ngang là khi các doanh nghiệp địa phương cùng ngành có thể học hỏi các công nghệ tiên tiến, kỹ thuật marketing và quản lý của các chi nhánh hoặc doanh nghiệp FDI. Từ đó, tăng năng suất và khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, lan tỏa theo chiều ngang thường được các MNC ngăn cản.
- Thứ hai, lan tỏa theo chiều dọc bao gồm liên kết ngược (Các doanh nghiệp FDI hỗ trợ, đào tạo các nhà cung cấp địa phương trong việc nâng cao chất lượng đầu vào, tối ưu hóa chi phí và cải thiện chất lượng dịch vụ) và liên kết xuôi (Các MNC cung cấp đầu vào
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">chất lượng tốt hơn với mức chi phí thấp hơn cho các nhà sản xuất sản phẩm tiêu dùng trong nước). 24 Sự di chuyển của lao động diễn ra khi lao động được đào tạo và có kinh nghiệm làm việc tại MNC chuyển sang làm cho các doanh nghiệp địa phương hoặc thành lập doanh nghiệp, sử dụng các kiến thức đã được học.
<i>2.1.4.7. Các vai trị khác </i>
Ngồi những vai trị kể trên, vốn FDI cịn góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp địa phương phát triển, chẳng hạn như các ngành cơng nghiệp phụ trợ, từ đó gián tiếp tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. FDI cũng tác động đến cấu trúc thị trường, làm tăng sự cạnh tranh ở nước chủ nhà, từ đó cải thiện việc phân bổ nguồn lực ở nước nhận đầu tư. FDI cũng góp phần làm tăng năng suất lao động, hiệu quả quản lý, giảm giá thành sản phẩm,...
<b>2.2. Tổng quan về chất lượng môi trường </b>
<i><b>2.2.1 Khái niệm chất lượng môi trường </b></i>
Theo Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020: “Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên.”
Theo Cơ quan Môi trường Châu Âu (European Environment Agency), Chất lượng môi trường là một thuật ngữ chung đề cập đến các đặc điểm khác nhau như độ tinh khiết hoặc ô nhiễm của không khí và nước, tiếng ồn, khả năng tiếp cận khơng gian mở và hiệu ứng thị giác của các tòa nhà cũng như những tác động tiềm tàng mà các đặc điểm đó có thể gây ra đối với sức khỏe thể chất và tinh thần.
Chất lượng mơi trường bao gồm chất lượng khơng khí, chất lượng đất, chất lượng nước (Andrews và cộng sự, 2002).
Chất lượng môi trường là mức độ đáp ứng của môi trường đối với các yêu cầu về sức khỏe, an toàn, và sự phát triển của con người và các hệ thống sinh thái. Nó bao gồm các yếu tố tự nhiên và nhân tạo trong mơi trường, như khơng khí, nước, đất, ánh sáng, âm thanh, cũng như các yếu tố xã hội và kinh tế.
Trong nghiên cứu này, chất lượng môi trường đề cập đến các yếu tố tự nhiên. Thay đổi chất lượng môi trường theo chiều hướng xấu đi, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, an toàn, và sự phát triển của con người và các hệ thống sinh thái.
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37"><i><b>2.2.2. Các chỉ số đánh giá chất lượng môi trường </b></i>
Các chỉ số đánh giá chất lượng môi trường là một trong những giá trị quan trọng trong việc xác định mức độ biến đổi các thành phần môi trường từ đó xem xét sự thay đổi chất lượng mơi trường theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực để đánh giá hiện trạng, chỉ ra nguyên nhân và là cơ sở để đưa ra các giải pháp quản lý. Có nhiều chỉ số đánh giá chất lượng mơi trường, tiêu biểu và điển hình có thể kể đến như sau:
<i><b>- Chỉ số Chất lượng môi trường tổng hợp (Environmental Quality Index - EQI): là </b></i>
một chỉ số được tính tốn từ nhiều thơng số ơ nhiễm môi trường riêng biệt theo một phương pháp xác định (hay theo một cơng thức tốn học xác định). Mơ hình EQI được Horton đề xuất và áp dụng đầu tiên ở Mỹ vào những năm 1965 - 1970 và đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều bang. Hiện nay, mơ hình EQI đã được triển khai nghiên cứu áp dụng ở nhiều quốc gia như Ấn Độ, Canada, Chile, Anh, Đài Loan, Úc,.... EQI được xem là một công cụ hữu hiệu đối với các nhà quản lý môi trường trong giám sát, kiểm tra, quản lý chất lượng môi trường, đánh giá hiệu quả của các nhà hoạch định chính sách…
<i><b>- Chỉ số chất lượng khơng khí (AQI - Air Quality Index) là chỉ số được tính tốn từ các </b></i>
thông số quan trắc các chất ô nhiễm (CO, NO2, SO2, O3 và bụi) trong khơng khí, nhằm cho biết tình trạng chất lượng khơng khí và mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe con người, được biểu diễn qua một thang điểm. Theo kết quả tính điểm, chỉ số AQI sẽ được phân loại thành 6 nhóm chính như sau: 0-50: Tốt; 51-100: Trung bình; 101-150: Khơng lành mạnh cho các nhóm nhạy cảm; 151-200: Không lành mạnh; 201-300: Rất không lành mạnh; 301-500: Nguy hiểm.
<i><b>- Chỉ số chất lượng nước (viết tắt là WQI) là một chỉ số được tính tốn từ các thơng số </b></i>
quan trắc chất lượng nước, dùng để mô tả định lượng về chất lượng nước và khả năng sử dụng của nguồn nước đó; được biểu diễn qua một thang điểm. Theo kết quả tính điểm, chỉ số WQI sẽ được phân loại thành 6 nhóm chính như sau: 91 - 100: Rất tốt; 76 - 90: Tốt; 51 - 75: Trung bình; 26 - 50: Xấu; 10 - 25: Kém; <10: Ô nhiễm rất nặng.
<i><b>- Lượng phát thải khí CO2: CO2 là một loại khí thải phát sinh từ các hoạt động của con </b></i>
người, chẳng hạn như đốt cháy nhiên liệu hóa thạch, chăn ni gia súc, phân hủy rác thải và khai thác rừng. CO2 có khả năng hấp thụ và phản xạ lại bức xạ nhiệt từ Mặt Trời, tạo ra hiệu ứng nhà kính. Hiệu ứng nhà kính gây ra nhiều hậu quả tiêu cực cho môi trường
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">và sinh vật, chẳng hạn như nóng lên tồn cầu, biến đổi khí hậu, tan băng ở hai cực, nâng cao mực nước biển và mất đa dạng sinh học.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhóm nghiên cứu sử dụng Lượng phát thải khí CO2 làm chỉ số để đánh giá chất lượng môi trường cho các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn 2012 - 2022.
<b>2.3. Khái quát về phát triển khoa học công nghệ </b>
<i><b>2.3.1. Khái niệm phát triển khoa học công nghệ </b></i>
Công nghệ là sự phát minh, sự thay đổi, việc sử dụng, và kiến thức về các cơng cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống, và phương pháp tổ chức, nhằm giải quyết một vấn đề, cải tiến một giải pháp đã tồn tại, đạt một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể đòi hỏi hàm lượng chất xám cao.
Theo Điều 3 Luật Khoa học và công nghệ năm 2013: “Phát triển công nghệ là hoạt động sử dụng kết quả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, thông qua việc triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm để hoàn thiện cơng nghệ hiện có, tạo ra cơng nghệ mới.”
<i><b>2.3.2. Các chỉ số đánh giá phát triển khoa học công nghệ </b></i>
Các chỉ số đánh giá phát triển công nghệ là một trong những giá trị quan trọng trong việc xác định mức độ tác động của công nghệ đối với các mục tiêu nghiên cứu đặc biệt trong sự xem xét, đánh giá vai trò của phát triển công nghệ đối với FDI và môi trường, chỉ ra nguyên nhân và là cơ sở để đưa ra các giải pháp quản lý. Có nhiều chỉ số đánh giá phát triển công nghệ, tiêu biểu và điển hình có thể kể đến như sau:
<i><b>- Chỉ số đổi mới công nghệ, thiết bị: Là chỉ tiêu tương đối, thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm </b></i>
(%) đổi mới công nghệ, thiết bị giữa năm trước và năm sau. Nội dung của đổi mới công nghệ, thiết bị: tổng số doanh nghiệp có đổi mới công nghệ, thiết bị; tổng chi cho đổi mới công nghệ, thiết bị trong doanh nghiệp; tổng chi mua máy móc, thiết bị của doanh nghiệp; số hợp đồng và kinh phí chuyển giao cơng nghệ đã thực hiện. Chỉ số do Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm thu thập và tổng hợp dựa trên những nguồn số liệu về doanh nghiệp, các chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia.
<i><b>- Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu ( Global Innovation Index - GII): là chỉ số đánh giá </b></i>
năng lực và kết quả đổi mới của các nền kinh tế thế giới do Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới - World Intellectual Property Organization (viết tắt WIPO), Đại học Cornell (Hoa Kỳ) và Viện INSEAD hợp tác thực hiện hàng năm từ năm 2009. Chỉ số GII được đánh
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">giá từ 84 tiêu chí trong các lĩnh vực: thể chế của nền kinh tế, nguồn nhân lực và năng lực nghiên cứu; kết cấu hạ tầng; sự tinh tế của thị trường và doanh nghiệp; sản phẩm tri thức và công nghệ; sản phẩm sáng tạo.
<i><b>- Chỉ số phát triển chính phủ điện tử (E - Government Development Index - EGDI): </b></i>
trình bày tình trạng Phát triển Chính phủ điện tử của các Quốc gia Thành viên Liên hợp quốc. Cùng với việc đánh giá mơ hình phát triển trang web ở một quốc gia, chỉ số Phát triển Chính phủ điện tử kết hợp các đặc điểm truy cập, chẳng hạn như cơ sở hạ tầng và trình độ học vấn, để phản ánh cách một quốc gia sử dụng công nghệ thông tin để thúc đẩy khả năng tiếp cận và hòa nhập của người dân. EGDI là thước đo tổng hợp của ba khía cạnh quan trọng của chính phủ điện tử, đó là: cung cấp dịch vụ trực tuyến, kết nối viễn thông và năng lực cong người.
Trong phạm vi và giới hạn của nghiên cứu, bài nghiên cứu thực hiện đánh giá sự phát triển công nghệ của các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á dựa trên chỉ số Chính phủ điện tử (EGDI)
<i><b>2.3.3. Chỉ số phát triển chính phủ điện tử (EGDI) </b></i>
<i>2.3.3.1. Khái niệm chỉ số phát triển chính phủ điện tử </i>
Chỉ số Chính phủ điện tử (E-Government Development Index- EGDI) được sử dụng để đo lường sự sẵn sàng và khả năng của một quốc gia trong việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và Truyền thông để cung cấp các dịch vụ công.
Chỉ số này giúp cho các quốc gia, các tổ chức nghiên cứu, nhà hoạch định có sự hiểu biết sâu sắc hơn về điểm chuẩn so sánh của các vị trí tương đối của một quốc gia trong việc sử dụng Chính phủ điện tử cho các hoạt động, trách nhiệm công dân và khả năng cung cấp dịch vụ công. Mỗi bộ chỉ số tự nó là một thước đo tổng hợp có thể được tách ra và phân tích một cách độc lập.
Hai năm một lần, Phòng Cơ quan cơng và Chính phủ số (Division for Public Institutions and Digital Government) thuộc Ủy ban các vấn đề kinh tế – xã hội của Liên Hợp Quốc (UNDESA) lại cung cấp toàn cảnh bảng xếp hạng phát triển Chính phủ điện tử của 193 nước thành viên Liên Hợp Quốc.
Bảng xếp hạng trên dựa vào tính tốn và so sánh tương quan Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử EGDI (E-Government Development Index) của các nước thành viên Liên hợp quốc. EGDI được tính tốn dựa trên khảo sát về sự hiện diện trực tuyến của các quốc
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">gia. Khảo sát này đánh giá các website của chính phủ và các bộ ngành và đánh giá các chính sách và chiến lược chính phủ điện tử được áp dụng nói chung và được triển khai trong những ngành chuyên biệt để cung cấp các dịch vụ công thiết yếu như thế nào.
Mặc dù mô hình đánh giá được giữ cố định, nhưng ý nghĩa chính xác của các giá trị thì có sự thay đổi qua các phiên bản khảo sát, do thay đổi nhận thức về tiềm năng của chính phủ điện tử hoặc do các công nghệ nền tảng thay đổi.
<i>2.3.3.2. Đặc điểm chỉ số phát triển chính phủ điện tử </i>
EGDI gồm ba chỉ số thành phần: Chỉ số dịch vụ công trực tuyến OSI (Online Service Index), Chỉ số hạ tầng viễn thông TII (Telecommunication Infrastructure Index), và Chỉ số nguồn nhân lực HCI (Human Capital Index).
Về mặt toán học, EGDI là trung bình có trọng số của ba điểm chuẩn hóa trên ba khía cạnh quan trọng nhất của chính phủ điện tử, đó là: (1) phạm vi và chất lượng dịch vụ trực tuyến ( Chỉ số dịch vụ trực tuyến, OSI ), (2) tình trạng phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông ( Chỉ số Cơ sở Hạ tầng Viễn thông, TII ), và (3) vốn nhân lực vốn có ( Chỉ số Vốn Nhân lực, HCI ). Mỗi chỉ số này là một thước đo tổng hợp có thể được trích xuất và phân tích độc lập.
Trong phạm vi giá trị EGDI từ 0 đến 1, các quốc gia sau đó được nhóm thành bốn cấp độ được xác định về mặt toán học như sau: giá trị EGDI rất cao nằm trong khoảng từ
</div>