Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.3 MB, 96 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b>BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI </b>
<b> BÁO CÁO TỔNG KẾT </b>
<b>ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC </b>
<b>ĐỀ TÀI </b>
<b>NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO TẠI VIỆT NAM </b>
<b>Sinh viên thực hiện: Hà Mai Giang K57EK1 Trần Thị Thùy Dương K57EK1 Phạm Thị Thùy Dương K57EK1 </b>
<b>Giáo viên hướng dẫn: Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh </b>
<b>Hà Nội, ngày 28 tháng 2 năm 2024 </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><b>BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI </b>
<b> BÁO CÁO TỔNG KẾT </b>
<b>ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC </b>
<b>ĐỀ TÀI </b>
<b>NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO TẠI VIỆT NAM </b>
<b>Sinh viên thực hiện: Hà Mai Giang K57EK1 Trần Thị Thùy Dương K57EK1 Phạm Thị Thùy Dương K57EK1 </b>
<b>Giáo viên hướng dẫn: Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh </b>
<b>Hà Nội, ngày 28 tháng 2 năm 2024 </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3"><b>LỜI CAM ĐOAN </b>
Nhóm nghiên cứu xin cam đoan bài nghiên cứu do nhóm thực hiện độc lập, khơng sao chép từ bất cứ tài liệu đã có nào. Các số liệu, thông tin được sử dụng trong bài nghiên cứu có nguồn gốc rõ ràng, được cơng bố theo đúng quy định. Các kết quả thu được từ bài nghiên cứu do nhóm thực hiện phân tích số liệu và các tình huống thực tế một cách khách quan và trung thực. Kết quả thu được chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác.
<b>Nhóm nghiên cứu </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4"><b>CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ... 1 </b>
<b>1.1. Tính cấp thiết của đề tài ... 1 </b>
<b>1.2. Tổng quan các cơng trình nghiên cứu liên quan tới chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực năng lượng tái tạo ... 2 </b>
<b>1.2.1. Một số cơng trình nghiên cứu trong nước ... 2 </b>
<b>1.2.2. Một số cơng trình nghiên cứu nước ngồi ... 3 </b>
<b>1.3. Những khoảng trống nghiên cứu ... 4 </b>
<b>1.4. Mục tiêu nghiên cứu ... 5 </b>
<b>1.4.1. Mục tiêu chung ... 5 </b>
<b>1.4.2. Mục tiêu cụ thể ... 5 </b>
<b>1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ... 5 </b>
<b>1.5.1. Đối tượng nghiên cứu ... 5 </b>
<b>1.5.2. Phạm vi nghiên cứu ... 5 </b>
<b>1.6. Phương pháp nghiên cứu ... 5 </b>
<b>1.6.1. Nguồn thông tin và số liệu ... 5 </b>
<b>1.6.2. Phương pháp nghiên cứu thu thập thông tin ... 6 </b>
<b>1.6.3. Phương pháp điều tra thực tế ... 6 </b>
<b>1.6.4. Phương pháp phân tích định tính và định lượng ... 6 </b>
<b>1.7. Kết cấu bài nghiên cứu. ... 6 </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5"><b>CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ .... 8 </b>
<b>TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO ... 8 </b>
<b>2.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ... 8 </b>
<b>2.1.1. Khái niệm FDI ... 8 </b>
<b>2.1.2. Phân loại FDI ... 9 </b>
<b>2.1.3. Vai trò của FDI ... 10 </b>
<b>2.2. Lĩnh vực năng lượng tái tạo ... 12 </b>
<b>2.2.1. Khái niệm... 12 </b>
<b>2.2.2. Các dạng năng lượng tái tạo chủ yếu ... 12 </b>
<b>2.2.3. Ưu điểm và nhược điểm của năng lượng tái tạo ... 15 </b>
<b>2.3. Chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngồi vào lĩnh vực năng lượng tái tạo ... 18 </b>
<b>2.3.1. Khái niệm... 18 </b>
<b>2.3.2. Nội dung chính sách... 20 </b>
<b>2.4. Kinh nghiệm quốc tế về các chính sách khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo ... 26 </b>
<b>2.4.1. Trung Quốc ... 26 </b>
<b>2.4.2. Hàn Quốc ... 27 </b>
<b>2.4.3. Nhật Bản ... 29 </b>
<b>2.4.4. Một số bài học kinh nghiệm chung rút ra cho Việt Nam ... 30 </b>
<b>CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO TẠI VIỆT NAM ... 33 </b>
<b>3.1. FDI vào lĩnh vực năng lượng tái tạo của Việt Nam... 33 </b>
<b>3.1.1. Lượng vốn và số dự án ... 33 </b>
<b>3.1.2. Hình thức đầu tư ... 34 </b>
<b>3.1.3. Địa phương đầu tư ... 36 </b>
<b>3.2. Lĩnh vực năng lượng tái tạo tại Việt Nam ... 37 </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6"><b>3.2.1. Tổng quan về năng lượng tái tạo tại Việt Nam ... 37 </b>
<b>3.2.2. Năng lượng mặt trời ... 41 </b>
<b>3.2.3. Năng lượng gió ... 48 </b>
<b>3.3. Chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực năng lượng tái tạo tại Việt Nam ... 54 </b>
<b>3.3.1. Chính sách ưu đãi tài chính ... 54 </b>
<b>3.3.2. Chính sách ưu đãi thuế ... 58 </b>
<b>3.3.3. Chính sách giá (FIT) ... 60 </b>
<b>3.3.4. Chính sách ưu đãi khác ... 63 </b>
<b>3.3.5. Đánh giá của các bên liên quan về chính sách khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo ... 64 </b>
<b>3.4. Đánh giá chung các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển năng lượng tái tạo... 68 </b>
<b>3.4.1. Ưu điểm ... 68 </b>
<b>3.4.2. Hạn chế ... 69 </b>
<b>CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP VÀO LĨNH VỰC NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO TẠI VIỆT NAM ... 73 </b>
<b>4.1. Định hướng chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực năng lượng tái tạo tại Việt Nam ... 73 </b>
<b>4.2. Đề xuất giải pháp hồn thiện chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực năng lượng tái tạo tại Việt Nam ... 77 </b>
<b>4.3. Đề xuất kiến nghị hồn thiện chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực năng lượng tái tạo tại Việt Nam ... 80 </b>
<b>KẾT LUẬN ... 82 </b>
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO ... 84 </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7"><b>DANH MỤC BẢNG </b>
Bảng 2. 1. Tác động đến môi trường của các nguồn năng lượng ... 16
Bảng 2. 2. Sự khác nhau giữa chính sách giá FIT và biểu giá chi phí tránh được ACT .... 24
Bảng 3. 1. Hình thức vốn FDI vào lĩnh vực điện gió, điện mặt trời tại Việt Nam 2010 - 2023 ... 34
Bảng 3. 2. Tổng vốn đăng ký vào lĩnh vực điện mặt trời tại Việt Nam giai đoạn 2010 - 2023 ... 35
Bảng 3. 3. Tổng vốn đầu tư vào lĩnh vực điện gió tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2023 ... 36
Bảng 3.4. Khảo sát cường độ bức xạ mặt trời ở Việt Nam ... 42
Bảng 3.5. Tiềm năng gió tại Việt Nam ở độ cao 65m ... 48
Bảng 3.6. Quy hoạch điện gió các vùng dự kiến tới năm 2030 ... 52
Bảng 3.7. Chính sách tài trợ dự án ĐMT tại HDBank ... 56
Bảng 3.8. Chính sách cho vay đối với dự án ĐMT áp mái tại HDBank ... 56
Bảng 3.9. Chính sách ưu đãi thuế khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo .. 60
Bảng 3.10. Khung giá phát điện áp dụng cho các nhà máy điện mặt trời, điện gió chuyển tiếp ... 62
Bảng 3.11. Biểu giá chi phí tránh được năm 2022 ... 63
Bảng 3.12. Tổng hợp cơ chế khuyến khích phát triển điện tái tạo ... 76
Bảng 3.13. Cơ chế khuyến khích khác cho dự án điện tái tạo nối lưới ... 76
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8"><b>DANH MỤC HÌNH </b>
Hình 3.1. Tổng vốn đăng ký FDI vào lĩnh vực điện gió, điện mặt trời theo khu vực tại Việt
Nam giai đoạn 2010-2023 (triệu USD) ... 33
Hình 3.2. Thu hút FDI vào NLTT tại Việt Nam theo khu vực ... 37
Hình 3.3. Cơ cấu phát điện năm 2022 ... 39
Hình 3.4. Cơ cấu phát điện hệ thống điện Việt Nam giai đoạn 2010 - 2022... 39
Hình 3.5. Cơ cấu cơng suất nguồn điện toàn hệ thống đến cuối năm 2023 ... 41
Hình 3.6. Bản đồ bức xạ mặt trời Việt Nam ... 42
Hình 3.7. Phân bố nhà máy điện mặt trời tại Việt Nam ... 43
Hình 3.8. Tiềm năng kỹ thuật điện gió trên bờ ... 50
Hình 3.9. Tiềm năng kỹ thuật điện gió trên biển ... 51
Hình 3.10. Sản lượng điện gió lắp đặt mới (GW) ... 52
Hình 3.11. Dư nợ tín dụng xanh từ năm 2017 đến nay ... 58
Hình 3.12. Qúa trình chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam theo Quy hoạch điện VIII .... 75
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9"><b>DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT </b>
<b>Chữ viết tắt </b>
EVN Électricité du Vietnam Tập đoàn điện lực Việt Nam FDI Foreign Direct Investment Nguồn vốn đầu tư từ nước
ngoài
lượng tái tạo GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
IEA International Energy Agency Cơ quan Năng lượng quốc tế IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ Quốc tế IPA Investment Promotion Agency Cơ quan Xúc tiến đầu tư IRENA International Renewable Energy Agency Cơ quan Năng lượng Tái tạo
Quốc tế
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">NLTT Recycled energy Năng lượng tái tạo NREL National Renewable Energy Laboratory Phịng thí nghiệm NLTT
quốc gia Hoa Kỳ OECD Organization for Economic Cooperation
and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
PTKTBV Sustainable Economic Development Phát triển kinh tế bền vững
REC Renewable Energy Certificate Chứng chỉ năng lượng tái tạo RFS Renewable Fuel Standard Tiêu chuẩn năng lượng tái
tạo
RPS Renewable Portfolio Standard Tiêu chuẩn danh mục đầu tư năng lượng tái tạo
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11"><b>LỜI CẢM ƠN </b>
Để thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học: “Nghiên cứu chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngồi vào lĩnh vực năng lượng tái tạo tại Việt Nam”, chúng em đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ cũng như là quan tâm, động viên từ các thầy cô giáo và bạn bè. Nghiên cứu khoa học cũng được hoàn thành dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các sách, báo chuyên ngành của nhiều tác giả ở các trường Đại học, các tổ chức nghiên cứu, …
Bên cạnh những nỗ lực của cả nhóm, bằng sự kính trọng và biết ơn chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến quý thầy cô giáo trong Khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế, Trường đại học Thương Mại. Đặc biệt, chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cô Nguyễn Thị Thanh - người trực tiếp hướng dẫn nghiên cứu khoa học của nhóm đã luôn dành nhiều thời gian, công sức để hướng dẫn, động viên và định hướng cho chúng em trong suốt q trình thực hiện nghiên cứu và hồn thành đề tài nghiên cứu khoa học.
Trong quá trình làm nghiên cứu khoa học, chúng em cảm thấy rằng mình đã học tập và trải nghiệm được nhiều điều vơ cùng hữu ích. Và chúng em tin rằng, với những gì đã học hỏi được, chúng em sẽ có thể dần tự tin hơn với bản thân và áp dụng kiến thức vào với thực tế.
Tuy nhiên điều kiện về năng lực bản thân còn hạn chế, bài nghiên cứu khoa học chắc chắn khơng tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để bài nghiên cứu của chúng em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin trân trọng cảm ơn!
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12"><b>CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. Tính cấp thiết của đề tài </b>
Trong những năm gần đây, nhu cầu sử dụng năng lượng tại Việt Nam đã tăng đáng kể để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội đặc biệt là trong bối cảnh đơ thị hóa, hiện đại hóa, và hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng.
Theo báo cáo của Bộ Công Thương Việt Nam, tốc độ tăng trưởng sản lượng điện thương phẩm bình quân là 9,71%/năm trong giai đoạn 2010 - 2021. Lũy kế 10 tháng năm 2023, sản lượng toàn hệ thống đạt 234,13 tỷ kWh, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nguồn điện chủ yếu được sản xuất từ than đá và khí đốt chiếm 46%, và các nhà máy điện thủy điện chiếm 28,5%. Dự báo từ nay đến năm 2030, nhu cầu điện thương phẩm ước tính vẫn tăng trưởng khoảng 8,5-9,5%. Mặc dù các nguồn năng lượng tái tạo như gió, mặt trời và sinh khối đang dần được khai thác và sử dụng nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của người dân nhưng vẫn còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ.
Tuy nhiên, việc sử dụng các nguồn năng lượng truyền thống như sử dụng than đá và dầu mỏ để sản xuất năng lượng không những đang gây ra ảnh hưởng tiêu cực tới mơi trường mà cịn tác động xấu đến sự an toàn và bền vững trong việc sử dụng năng lượng. Ngoài ra, Việt Nam vẫn đang phụ thuộc vào nhập khẩu một lượng lớn nguyên liệu năng lượng từ các quốc gia khác, đặc biệt là dầu mỏ và khí đốt.
Do đó, phát triển năng lượng tái tạo là giải pháp cấp bách để đáp ứng nhu cầu này, đồng thời đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và bảo vệ môi trường. Việt Nam là quốc gia có tiềm năng to lớn để phát triển năng lượng tái tạo với nguồn năng lượng mặt trời và gió dồi dào. Để thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo, việc thu hút các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi đóng vai trị quan trọng. Do đầu tư trực tiếp nước ngoài cung cấp nguồn vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý dự án từ các quốc gia phát triển.
Hiện nay, Việt Nam đã có một số chính sách khuyến khích FDI vào lĩnh vực năng lượng tái tạo. Để nâng cao tỷ trọng NLTT trong cơ cấu nguồn năng lượng, nâng cao hiệu quả của việc phát triển NLTT tại Việt Nam hướng đến mục tiêu phát triển kinh tế bền vững, việc nghiên cứu nhằm hướng tới hoàn thiện các chính sách này, tạo mơi trường đầu tư hấp dẫn và hiệu quả hơn là hết sức cấp thiết.
Từ đó, thúc đẩy nhóm tác giả thực hiện đề tài: “Nghiên cứu chính sách khuyến khích FDI vào lĩnh vực năng lượng tái tạo tại Việt Nam” với mong muốn cơng trình này có giá trị tham khảo trong thực tiễn. Nhóm nghiên cứu tin rằng đây là một đề tài có ý nghĩa quan
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">trọng trong việc thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo, đáp ứng nhu cầu năng lượng, đảm bảo an ninh năng lượng và bảo vệ mơi trường.
<b>1.2. Tổng quan các cơng trình nghiên cứu liên quan tới chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực năng lượng tái tạo </b>
<b>1.2.1. Một số cơng trình nghiên cứu trong nước </b>
Hồng Xuân Lan với bài nghiên cứu: “Phát triển năng lượng tái tạo vì sự phát triển kinh tế bền vững ở một số quốc gia Châu Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” được đăng tải vào năm 2022. Luận án đi sâu phân tích tác động của phát triển NLTT đến phát triển kinh tế bền vững tại các quốc gia Trung Quốc, Hàn Quốc, và Nhật Bản. Từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm về các chính sách thúc đẩy phát triển NLTT ở những quốc gia này và đề xuất một số giải pháp phát triển NLTT vì mục tiêu phát triển kinh tế bền vững phù hợp với điều kiện cụ thể tại Việt Nam. Luận án cũng đã chỉ ra những hiểm họa đối với cuộc sống con người trước nguy cơ biến đổi khí hậu tồn cầu do hệ quả của q trình phát triển kinh tế dựa chủ yếu vào nhiên liệu hóa thạch, đồng thời khẳng định những lợi ích cũng như tầm quan trọng của NLTT trong việc PTKTBV. Qua đó nâng cao nhận thức của Chính phủ và người dân về NLTT để sẵn sàng cho những mục tiêu, kế hoạch và những hành động cụ thể trong việc chuyển đổi sang một nền kinh tế ít carbon, tiến tới một xã hội công bằng, môi trường xanh, sạch.
Nguyễn Hùng Cường với bài nghiên cứu: “Chính sách năng lượng tái tạo của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” được đăng tải vào năm 2017 đã hệ thống hóa những chính sách năng lượng tái tạo từ Trung Quốc và Ấn Độ. Từ đó, đề xuất ra những giải pháp nhằm tăng cường các chính sách thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam.
Phan Duy An với bài nghiên cứu: “Pháp luật về các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển NLTT ở Việt Nam hiện nay” được đăng tải vào năm 2021. Đề tài đã làm rõ thực trạng hệ thống pháp luật về các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo của nước ta trong giai đoạn vừa qua, để từ đó đưa ra các đề xuất, khuyến nghị, và giải pháp giúp cho nhà nước hồn thiện hệ thống pháp luật khơng chỉ về lĩnh vực năng lượng mà còn về kinh tế và môi trường, đồng thời nâng cao khả năng khai thác, sản xuất năng lượng tái tạo tại Việt Nam, hạn chế năng lượng sơ cấp, từng bước góp phần giúp ngành năng lượng phát triển mạnh mẽ, bền vững trong bối cảnh hiện nay.
Phạm Khánh Nam, Nguyễn Anh Quân, Quan Minh Quốc Bình với bài nghiên cứu: “Investment Incentives for Renewable Energy in Southeast Asia: Case study of Viet Nam” được đăng tải vào năm 2012 đã đánh giá các chính sách ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo tại Việt Nam, và tập trung vào các nguồn tài nguyên thủy điện, gió, mặt trời,
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">khí sinh học và sinh khối nhỏ. Báo cáo đưa ra một số đánh giá ban đầu về mức độ hiệu quả và khả năng chi trả cho các ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo của Việt Nam. Tuy nhiên, đánh giá tác động có tích của các ưu đãi đầu tư cũng khó khăn vì khi u cầu một nhà đầu tư liệt kê các yếu tố quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư, họ đã xác định được một loạt các yếu tố, bao gồm cả cơ sở hạ tầng và chi phí lao động, và khơng nhất thiết phải có các ưu đãi đầu tư. Ngoài ra, báo cáo cho thấy việc xây dựng Quy hoạch điện VII là bước đột phá trong việc thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo, cung cấp khung pháp lý để đưa ra các ưu đãi đầu tư, chẳng hạn như thuế ưu đãi và hỗ trợ giá điện. Tuy nhiên, khuôn khổ pháp lý chưa rõ ràng và còn nhiều vấn đề liên quan.
<b>1.2.2. Một số cơng trình nghiên cứu nước ngồi </b>
Mutaka Alolo, Alcino Azevedo, Izidin El Kalak với bài nghiên cứu: “The effect of the feed-in-system policy on renewable energy investments: Evidence from the EU countries” được đăng tải vào năm 2020 đã nghiên cứu tác động của chính sách FIS (Feed-in-System) đối với đầu tư vào năng lượng gió và năng lượng mặt trời ở ở Liên minh Châu Âu (EU), trong khoảng thời gian từ năm 1992 đến năm 2015. Trong đó, Feed-in-System (FIS) là một chính sách trợ cấp phổ biến và bao gồm hai loại hợp đồng, Feed-in-Tariff (FIT) và Feed-in-Premium (FIP) có các đặc điểm riêng như thuế hoặc, chi phí bảo hiểm, thời gian và tỷ lệ chênh lệch, khác nhau đáng kể giữa các quốc gia EU và các nguồn năng lượng tái tạo. Nhóm nghiên cứu đã kết luận rằng chính sách FIS có ảnh hưởng tích cực đến việc phát triển năng lực gió và năng lượng mặt trời ở EU, tuy nhiên, sự tồn tại đơn thuần của chính sách FIS không nhất thiết sẽ giúp tăng cường đầu tư vào năng lượng tái tạo, mà còn phụ thuộc vào loại hợp đồng FIS và các đặc điểm của nó, đồng thời có thể khác nhau giữa các nguồn năng lượng tái tạo khác nhau.
Boaventura Chongo Cuamba, Amílcar dos Santos Cipriano Ruth Henrique Jaime Turatsinze với đề tài nghiên cứu: "Investment Incentives for Renewable Energy in Southern Africa: The case of Mozambique" được đăng tải vào năm 2013. Bài báo cáo nghiên cứu các chính sách khuyến khích đầu tư vào năng lượng tái tạo tại Mơ-dăm-bích, từ đó, tìm ra chính sách phù hợp nhằm khuyến khích đầu tư vào năng lượng tái tạo tại quốc gia này. Mặc dù phần lớn các ưu đãi đầu tư của Mơ-dăm-bích khơng nhắm mục tiêu cụ thể vào năng lượng tái tạo, nhưng nhiều ưu đãi có phạm vi và phạm vi đó đủ rộng để có tác động đến lĩnh vực này. Các tác giả kết luận rằng các ưu đãi đầu tư hiện tại mang lại cơ hội thực sự cho khu vực tư nhân phát triển các dự án năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, do tính chất thâm dụng vốn của các dự án năng lượng tái tạo, việc thúc đẩy đầu tư vẫn còn nhiều thách thức. Amin Al-Habaibeh và Daizhong Su với bài nghiên cứu: “Investigating Energy Demand and Renewable Energy Utilisation Strategies to Enhance Energy Policy and
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">Sustainability in Kuwait” được đăng tải vào năm 2022. Nghiên cứu này tìm hiểu các động lực thúc đẩy nhu cầu năng lượng hiện tại và tương lai ở Kuwait, đánh giá tiến độ của quốc gia hướng tới mục tiêu đáp ứng 15% nhu cầu năng lượng từ các nguồn tái tạo vào năm 2030, và đề xuất khung chính sách cũng như các chiến lược trung và dài hạn để tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo ở quốc gia giàu dầu mỏ này. Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng khả năng kinh tế vẫn là một thách thức lớn đối với các dự án năng lượng tái tạo, một phần do việc trợ cấp nhiên liệu hóa thạch đang diễn ra và điều này càng trở nên trầm trọng hơn do tiêu thụ quá mức.
Tareq Mahbub, Mohammad Faisal Ahammad, Shlomo Y. Tarba, S.M. Yusuf Mallick với bài nghiên cứu: “Factors encouraging foreign direct investment (FDI) in the wind and solar energy sector in an emerging country” được đăng tải vào năm 2022 đã nghiên các yếu tố quyết định đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực năng lượng tái tạo tại Băng-la-đét, đồng thời xác định các yếu tố thu hút các dự án năng lượng gió và mặt trời có thể mở rộng ở Bangladesh. Kết quả nghiên cứu cho thấy mơi trường thể chế có ảnh hưởng lớn nhất đến các điều kiện tự nhiên và kinh tế vĩ mô trong việc thu hút FDI vào các dự án năng lượng gió và mặt trời của Bangladesh. Trong nền kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế và tiếp cận nguồn tài chính địa phương có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút FDI. Cịn quỹ đất sẵn có có tầm quan trọng cao nhất trong việc thu hút FDI xét về khía cạnh điều kiện tự nhiên.
<b>1.3. Những khoảng trống nghiên cứu </b>
Qua việc tìm hiểu những mơ hình nghiên cứu trong và ngồi nước liên quan đến đề tài, ta có thể nhận thấy rằng đề tài về năng lượng tái tạo và các vấn đề xoay quanh năng lượng tái tạo tại Việt Nam còn khá mới. Trong những năm gần đây, đã có một nghiên cứu về đề tài này với các cách tiếp cận đa dạng trên nhiều hướng khác nhau, nhưng nhìn chung chúng cịn khá sơ sài và chưa mang tính cập nhật.
Những nghiên cứu trên tuy đã chỉ ra được những thách thức cơ bản trong phát triển NLTT nhưng vẫn còn tồn tại một số vấn đề sau: Thứ nhất, hầu hết các nghiên cứu hiện nay chỉ tập trung vào tiềm năng phát triển của một số lĩnh vực cụ thể của NLTT như điện mặt trời, điện gió, chưa có nghiên cứu đánh giá tổng thể tiềm năng phát triển của toàn ngành NLTT; Thứ hai, hầu hết các nghiên cứu hiện nay chỉ tập trung vào việc mơ tả các chính sách khuyến khích FDI vào lĩnh vực NLTT, chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá hiệu quả thực tế của các chính sách này. Thứ ba, rất ít nghiên cứu trong số đó rút ra bài học kinh nghiệm về phát triển NLTT và gợi ý cho Việt Nam, chưa chỉ rõ những kinh nghiệm nào trong việc phát triển NLTT từ một số quốc gia trên thế giới có thể áp dụng cho Việt Nam; cuối cùng, chưa có nghiên cứu chuyên sâu đưa ra giải pháp khắc phục và hệ thống giải pháp
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">chưa được đồng bộ và thiếu cơ sở thực hiện. Đây chính là những khoảng trống nghiên cứu của đề tài.
<b>1.4. Mục tiêu nghiên cứu 1.4.1. Mục tiêu chung </b>
Đề tài của Bài nghiên cứu khoa học nhằm mục tiêu phân tích và đánh giá thực tiễn các chính sách khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo tại Việt Nam, từ đó rút ra bài học nhằm hồn thiện và giải quyết những bất cập còn tồn tại của các chính sách.
<b>1.4.2. Mục tiêu cụ thể </b>
Để thực hiện mục tiêu chung, bài nghiên cứu sẽ hoàn thành một số mục tiêu cụ thể sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến FDI, NLTT và các chính sách khuyến khích phát triển NLTT. Cung cấp thông tin khoa học, khách quan về các chính sách khuyến khích FDI vào lĩnh vực NLTT tại Việt Nam.
Thứ hai, phân tích tiềm năng, thực trạng và hiệu quả của các chính sách trong phát triển NLTT tại Việt Nam. Từ đó, tổng hợp các ý kiến nhận xét, đánh giá về chính sách từ các nguồn khách quan đa dạng.
Thứ ba, phân tích kinh nghiệm từ việc phát triển NLTT ở một số quốc gia trên thế giới; rút ra những kinh nghiệm chung và kinh nghiệm riêng của mỗi quốc gia. Từ đó đề xuất một số giải pháp cho chính sách khuyến khích phát triển NLTT ở Việt Nam, dựa trên kinh nghiệm từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và một số quốc gia khác.
Thứ tư, đưa ra một số đề xuất giải pháp nhằm hồn thiện chính sách khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo tại Việt Nam.
<b>1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.5.1. Đối tượng nghiên cứu </b>
Chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngồi vào lĩnh vực năng lượng tái tạo tại Việt Nam.
<b>1.5.2. Phạm vi nghiên cứu </b>
<i>Về thời gian: Bài nghiên cứu thực hiện tổng hợp và phân tích những chính sách nhằm </i>
khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngồi vào lĩnh vực năng lượng tái tạo từ năm 2010 cho tới nay.
<i>Về không gian: Bài nghiên cứu thực hiện đối với các chính sách sách khuyến khích </i>
đầu tư trực tiếp nước ngồi vào lĩnh vực năng lượng tái tạo tại Việt Nam.
Về nội dung: Bài nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực điện gió và điện mặt trời.
<b>1.6. Phương pháp nghiên cứu 1.6.1. Nguồn thông tin và số liệu </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">Nhóm sử dụng những nguồn thơng tin chính thống, đem lại số liệu và kết quả xác thực, bao gồm: Các nghiên cứu, số liệu ở các trang web chính thức của OECD, Tổng cục thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, Bộ Công thương Việt Nam. Ngồi ra, những thơng tin khác có thể được lấy từ sách tham khảo và những bài báo được chọn lọc (Xem cụ thể ở Tài liệu tham khảo). Số liệu được nhóm nghiên cứu sử dụng chủ yếu là số liệu thống kê thứ cấp, được tổng hợp từ các nguồn tài liệu đã nêu trên.
<b>1.6.2. Phương pháp nghiên cứu thu thập thơng tin </b>
Phương pháp nhóm nghiên cứu sử dụng chính trong đề tài này là Phương pháp tổng hợp, phân tích các văn bản pháp luật, quy định của Chính phủ, các bộ ngành liên quan đến chính sách khuyến khích FDI vào lĩnh vực NLTT. Bên cạnh đó, việc tham khảo các tài liệu, báo cáo nghiên cứu, sách báo, tạp chí về lĩnh vực NLTT và FDI cũng là 1 nguồn tài liệu quan trọng đóng góp vào cơng trình nghiên cứu của nhóm.
<b>1.6.3. Phương pháp điều tra thực tế </b>
Để thực hiện và hồn thành đề tài này, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn các chuyên gia, nhà quản lý, các doanh nghiệp trong lĩnh vực NLTT để tổng hợp những ý kiến đánh giá về các chính sách nhằm khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo tại Việt Nam. Từ đó đưa ra những ưu điểm và những hạn chế còn tồn tại trong cơ chế ban hành các chính sách của chính phủ, làm cơ sở để đề xuất giải pháp và đưa ra kiến nghị hoàn thiện chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực năng lượng tái tạo tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng áp dụng phương pháp phân tích dữ liệu thống kê về FDI vào lĩnh vực NLTT tại Việt Nam thông qua dữ liệu được cung cấp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư kết hợp cùng với những bài đánh giá, nghiên cứu khác đã thực hiện trước đó và được kiểm duyệt, cơng khai trên các kênh chính thống để có được cái nhìn đa chiều và đầy đủ nhất.
<b>1.6.4. Phương pháp phân tích định tính và định lượng </b>
Phân tích định tính: Nhóm nghiên cứu dựa trên những tài liệu như đã được trình bày ở phía trên và cụ thể trong “Danh mục tài liệu tham khảo” để phân tích nội dung các văn bản pháp luật, tài liệu nghiên cứu, phân tích ý kiến chuyên gia, nhà quản lý, các doanh nghiệp.
Phân tích định lượng: Phân tích dữ liệu thống kê về FDI vào lĩnh vực NLTT. Sử dụng các mơ hình thống kê để đánh giá hiệu quả của các chính sách khuyến khích FDI.
<b>1.7. Kết cấu bài nghiên cứu. </b>
Ngoài Lời mở đầu, lời cảm ơn, lời cam đoan, mục lục, nội dung chính của bài nghiên cứu được chia thành 4 chương chính như sau:
Chương I: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">Chương II: Cơ sở lý luận về chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngồi vào lĩnh vực năng lượng tái tạo.
Chương III: Thực trạng chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực năng lượng tái tạo tại Việt Nam.
Chương IV: Định hướng và đề xuất giải pháp hồn thiện chính sách.
<b> </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19"><b>CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGỒI VÀO LĨNH VỰC NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO 2.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) </b>
<b>2.1.1. Khái niệm FDI </b>
FDI xuất hiện khi một nhà đầu tư ở một nước mua tài sản có ở một nước khác với ý định quản lý nó. Quyền kiểm sốt (control- tham gia vào việc đưa ra các quyết định quan trọng liên quan đến chiến lược và các chính sách phát triển của cơng ty) là tiêu chí cơ bản giúp phân biệt giữa FDI và đầu tư chứng khoán.
Theo các chuẩn mực của Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) và Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), FDI được định nghĩa bằng một khái niệm rộng hơn:
<i>Theo IMF: FDI nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt </i>
động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.
<i>Theo OECD: Đầu tư trực tiếp được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế </i>
lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: (i) Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; (ii) Mua lại tồn bộ doanh nghiệp đã có; (iii) Tham gia vào một doanh nghiệp mới; (iv) Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm).
<i>Khái niệm của WTO: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ </i>
một nước (nước chủ đầu tư) có một tài sản ở nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền kiểm soát tài sản đó. Quyền kiểm sốt là dấu hiệu để phân biệt FDI với các hoạt động đầu tư khác.
<i>Theo qui định của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành năm 1996 "Đầu tư </i>
trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo qui định của Luật này".
Luật Đầu Tư năm 2005 tại Việt Nam có đưa ra khái niệm về “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư nước ngồi” nhưng khơng đưa ra khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Tuy nhiên, từ các khái niệm trên có thể hiểu: “FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20"><i>Tóm lại có thể hiểu FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một </i>
<i>nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó. </i>
<b>2.1.2. Phân loại FDI </b>
<b>2.1.2.1. Phân loại theo cách thức xâm nhập: </b>
<i>Đầu tư mới (greenfield investment): Chủ đầu tư nước ngồi góp vốn để xây dựng một </i>
cơ sở sản xuất, kinh doanh mới tại nước nhận đầu tư.
<i>Sáp nhập và mua lại (merger & acquisition): chủ đầu tư nước ngoài mua lại hoặc sáp </i>
nhập một cơ sở sản xuất kinh doanh sẵn có ở nước nhận đầu tư.
<b>2.1.2.2. Phân loại theo quan hệ về ngành nghề, lĩnh vực giữa chủ đầu tư và đối tượng tiếp nhận đầu tư </b>
<i>FDI theo chiều dọc (vertical FDI): nhằm khai thác nguyên, nhiên vật liệu (Backward </i>
vertical FDI) hoặc để gần gũi người tiêu dùng hơn thông qua việc mua lại các kênh phân phối ở nước nhận đầu tư (Forward vertical FDI).
<i>FDI theo chiều ngang (horizontal FDI): hoạt động FDI được tiến hành nhằm sản xuất </i>
cùng loại sản phẩm hoặc các sản phẩm tương tự như chủ đầu tư đã sản xuất ở nước chủ đầu tư.
<i>FDI hỗn hợp (conglomerate FDI): Doanh nghiệp chủ đầu tư và doanh nghiệp tiếp </i>
nhận đầu tư hoạt động trong các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau.
<b>2.1.2.3. Phân loại theo định hướng của nước nhận đầu tư </b>
<i>FDI thay thế nhập khẩu: hoạt động FDI được tiến hành nhằm sản xuất và cung ứng </i>
cho thị trường nước nhận đầu tư các sản phẩm mà trước đây nước này phải nhập khẩu.
<i>FDI tăng cường xuất khẩu: Thị trường mà hoạt động đầu tư này nhắm tới không phải </i>
hoặc không chỉ dừng lại ở nước nhận đầu tư mà là các thị trường rộng lớn hơn trên tồn thế giới và có thể có cả thị trường ở nước chủ đầu tư.
<i>FDI theo các định hướng khác của Chính phủ </i>
<b>2.1.2.4. Phân loại theo định hướng của chủ đầu tư: </b>
<i>FDI phát triển (expansionary FDI): nhằm khai thác các lợi thế về quyền sở hữu của </i>
doanh nghiệp ở nước nhận đầu tư.
<i>FDI phòng ngự (defensive FDI): nhằm khai thác nguồn lao động rẻ ở các nước nhận </i>
đầu tư với mục đích giảm chi phí sản xuất và như vậy lợi nhuận của các chủ đầu tư cũng sẽ tăng lên.
<b>2.1.2.5. Phân loại theo hình thức pháp lý: </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">Tùy theo qui định của luật pháp nước nhận đầu tư, FDI có thể được tiến hành dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau. ở Việt Nam, FDI được tiến hành dưới các hình thức pháp lý chủ yếu là:
<i>Hợp đồng hợp tác kinh doanh: là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến </i>
hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam trong đó qui định trách nhiệm vụ chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới . Điểm đặc biệt của hình thức này là khơng hình thành pháp nhân mới.
<i>Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở </i>
hợp đồng liên doanh ký giữa 2 bên hoặc nhiều bên. Khác với hợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh hình thành pháp nhân mới ở Việt Nam và là pháp nhân Việt Nam.
<i>Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư </i>
nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
<b>2.1.3. Vai trò của FDI </b>
<b>2.1.3.1. Vai trò đối với tăng trưởng kinh tế </b>
<i>Thứ nhất, FDI góp phần bổ sung một lượng vốn lớn cho đầu tư phát triển </i>
Trong thời kỳ đầu mới phát triển, trình độ kinh tế của các nước đang phát triển thấp, khả năng tích lũy vốn (tiết kiệm) trong nội bộ nền kinh tế rất hạn chế. Bên cạnh đó, ở nhiều nước tâm lý chung của dân chúng là chưa yên tâm bỏ vốn đầu tư. Trong khi đó nhu cầu vốn đầu tư để phát triển nhằm rút ngắn khoảng cách với các nước công nghiệp phát triển lại rất lớn. Đầu tư quốc tế (FDI), với vai trị là một nguồn vốn bổ sung từ bên ngồi, giúp các nước kể trên giải được bài toán thiếu vốn đầu tư và dần thốt ra khỏi vịng luẩn quẩn.
<i>Thứ hai, FDI đóng góp vào bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai trên cán cân thanh tốn </i>
Cán cân thanh tốn (BOP) thơng thường bao gồm các hạng mục sau đây: Cán cân vãng lai (Current Account - CA), Cán cân vốn (Capital Account – KA), Khoản mục lỗi và sai sót (OM), Cán cân tổng thể (OB), Cán cân bù đắp chính thức (OFB.
Thông thường, cán cân tổng thể của các quốc gia không ở trạng thái cân bằng, cán cân tổng thể có thể thặng dư (OB > 0) hoặc thâm hụt (OB < 0). Nếu các hạng mục khác không thay đổi, để cân bằng cán cân thanh toán, một quốc gia đang/kém phát triển với cán cân vãng lai thâm hụt cần thu hút dòng vốn chảy vào nền kinh tế nhằm thặng dư cán cân vốn. Bằng cách này, dịng vốn FDI có thể bù đắp sự thiếu hụt mậu dịch và ngoại hối và thâm hụt tài khoản vãng lai trên cán cân thanh toán.
<i>Thứ ba, FDI mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới </i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">Ở nhiều nước, kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp FDI chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Bên cạnh đó, thơng qua mối quan hệ hiện có với các nhà đầu tư nước ngồi, hàng hóa của doanh nghiệp FDI có thể tiếp cận thị trường thế giới. Vai trò này của FDI được thể hiện rõ ở các quốc gia áp dụng chính sách thu hút FDI định hướng xuất khẩu.
<i>Thứ tư, FDI tăng nguồn thu của chính phủ </i>
Các nguồn thu của Chính phủ bao gồm 6 hạng mục: Thuế và phí, Cho thuê tài sản quốc gia, Bán tài sản quốc gia, Lợi nhuận của doanh nghiệp nhà nước, Viện trợ và Vay nợ Như vậy, với việc tăng trưởng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự xuất hiện của các doanh nghiệp FDI. Về lý thuyết, chính phủ có thể kỳ vọng thu được thuế và phí từ hoạt động đầu tư kinh doanh của các doanh nghiệp này, đóng góp vào ngân sách quốc gia.
<b>2.1.3.2. Vai trò đối với tạo việc làm và nâng cao kỹ năng lao động </b>
<i>Thứ nhất, FDI tạo việc làm: </i>
Tác động của FDI đến việc làm trong nền kinh tế chủ nhà phụ thuộc vào số lượng việc làm được tạo ra trực tiếp trong cơng ty con nước ngồi và tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của hoạt động của công ty con đối với cơng ty con nước ngồi. FDI có thể tăng việc làm một cách gián tiếp thông qua việc tạo thêm việc làm tại các nhà cung cấp và nhà phân phối. FDI làm tăng số lượng việc làm ở nước sở tại một cách trực tiếp khi nó liên quan đến việc thành lập một cơng ty con nước ngồi mới hoặc mở rộng các cơng ty con hiện có.
<i>Thứ hai, FDI góp phần nâng cao kỹ năng lao động: </i>
Năng suất lao động ở doanh nghiệp FDI thường cao hơn doanh nghiệp trong nước. Đặc biệt với hình thức doanh nghiệp liên doanh, nhà đầu tư nước sở tại tham gia quản lý với nhà đầu tư nước ngoài nên có cơ hội tiếp cận, học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài trong sản xuất kinh doanh. doanh nghiệp, từng bước nâng cao kiến thức kinh doanh hiện đại. Ví dụ: kinh nghiệm xây dựng và đánh giá dự án, kinh nghiệm tổ chức và điều hành doanh nghiệp,...
<b>2.1.3.3. Vai trò đối với chuyển giao công nghệ </b>
FDI mang lại các công nghệ tiên tiến, giúp nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp trong nước. Công nghệ được người lao động làm việc cho doanh nghiệp FDI hoặc đối tác trong nước của doanh nghiệp FDI chuyển giao liên tục cho các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế khi họ thay đổi công việc hoặc thành lập doanh nghiệp riêng. Với quy trình như vậy, khơng chỉ các doanh nghiệp liên doanh nhận chuyển giao công nghệ từ nước ngoài mà các chủ thể khác trong nền kinh tế cũng có cơ hội tiếp thu cơng nghệ này.
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23"><b>2.1.3.4. Các vai trò khác của FDI </b>
<i>Thứ nhất, FDI có thể thúc đẩy doanh nghiệp địa phương phát triển. </i>
<i>Thứ hai, FDI mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị </i>
trường thế giới, giúp quốc gia tiếp nhận đầu tư tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
<i>Thứ ba, FDI củng cố và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đẩy nhanh tiến trình hội </i>
nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
<b>2.2. Lĩnh vực năng lượng tái tạo 2.2.1. Khái niệm </b>
Theo Tổ chức Năng lượng Quốc tế (IEA), năng lượng tái tạo là "năng lượng được tạo ra từ các nguồn thiên nhiên có thể tái tạo lại, chẳng hạn như mặt trời, gió, nước, địa nhiệt và sinh khối." Các nguồn năng lượng này có sẵn trong tự nhiên và có thể được sử dụng để tạo ra điện, nhiệt và nhiên liệu.
Theo Liên Hợp Quốc, năng lượng tái tạo là "năng lượng có nguồn gốc từ các nguồn tự nhiên được bổ sung với tốc độ cao hơn mức tiêu thụ." Định nghĩa này nhấn mạnh hai yếu tố quan trọng của năng lượng tái tạo. Thứ nhất, “Có nguồn gốc từ các nguồn tự nhiên” có nghĩa là năng lượng này không được tạo ra từ các nguồn tài ngun hóa thạch, chẳng hạn như dầu, khí đốt và than đá. Thứ hai, “được bổ sung với tốc độ cao hơn mức tiêu thụ”, điều này có nghĩa là năng lượng này có thể được sử dụng bền vững mà không cạn kiệt.
Theo Bộ Công Thương Việt Nam, năng lượng tái tạo là "năng lượng được tạo ra từ các nguồn năng lượng có khả năng tái tạo được, như năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng thủy điện, năng lượng sinh khối, năng lượng sóng, năng lượng thủy triều, năng lượng địa nhiệt." Định nghĩa này của Bộ Công Thương Việt Nam có một số điểm tương đồng với định nghĩa của Liên Hợp Quốc. Cả hai định nghĩa đều nhấn mạnh rằng năng lượng tái tạo có nguồn gốc từ các nguồn tự nhiên. Tuy nhiên, định nghĩa của Bộ Công Thương Việt Nam bao gồm thêm các nguồn năng lượng sóng, thủy triều, và địa nhiệt.
<i>Như vậy, có thể kết luận rằng năng lượng tái tạo là năng lượng được tạo ra từ các </i>
<i>nguồn thiên nhiên, có khả năng tái tạo lại và không gây ô nhiễm môi trường. Việc phát </i>
triển năng lượng tái tạo là một xu hướng tất yếu trên thế giới, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang ngày càng nghiêm trọng.
<b>2.2.2. Các dạng năng lượng tái tạo chủ yếu </b>
Từ khái niệm trên, các dạng năng lượng tái tạo hiện nay chủ yếu bao gồm:
<b>2.2.2.1. Năng lượng mặt trời </b>
Năng lượng mặt trời là năng lượng bức xạ và nhiệt được tạo ra bởi mặt trời, được truyền tới trái đất dưới dạng sóng điện từ. Theo Phịng thí nghiệm năng lượng tái tạo quốc gia Hoa Kỳ (NREL), cứ một giờ chiếu sáng của Mặt trời xuống Trái đất, tất cả nguồn năng
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">lượng này đủ để cả thế giới sử dụng trong một năm. Mặc dù sở hữu lượng năng lượng dồi dào và miễn phí, dạng năng lượng tái tạo này vẫn chưa được các quốc gia khai thác triệt để.
Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng có nhiều đặc điểm nổi bật, trong đó hầu hết đều có lợi cho sinh vật sống, đặc biệt là con người:
<i>Tính tái tạo: Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng tái tạo, có thể được sử dụng </i>
mãi mãi mà khơng lo cạn kiệt. Bức xạ mặt trời là nguồn năng lượng vơ tận, có khả năng cung cấp năng lượng cho Trái Đất trong hàng tỷ năm tới.
<i>Tính sạch: Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng sạch, không phát thải khí nhà </i>
kính gây ơ nhiễm mơi trường. Việc sử dụng năng lượng mặt trời thay thế cho các nguồn năng lượng hóa thạch sẽ góp phần giảm thiểu biến đổi khí hậu và bảo vệ mơi trường.
<i>Tính phân tán: Năng lượng mặt trời có thể được khai thác ở bất cứ nơi nào có ánh </i>
sáng mặt trời chiếu sáng, không phụ thuộc vào vị trí địa lý. Điều này giúp giảm chi phí vận chuyển và phân phối năng lượng.
Ngày nay, chúng ta sử dụng ánh nắng mặt trời theo nhiều cách như sưởi ấm ngơi nhà, làm nóng nước, tạo ra điện cung cấp cho các thiết bị điện – điện tử…Nhìn chung, năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng có nhiều ưu điểm và tiềm năng to lớn để phát triển. Việc khai thác và sử dụng năng lượng mặt trời sẽ góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường và đảm bảo an ninh năng lượng cho tương lai. (AI)
<b>2.2.2.2. Năng lượng từ gió </b>
Năng lượng gió là động năng của khơng khí di chuyển trong bầu khí quyển Trái Đất. Năng lượng này được tạo ra bởi sự khác biệt về áp suất khơng khí giữa nơi này với nơi khác gây ra bởi sự tiếp xúc trực tiếp của mặt trời với Trái Đất, sự quay của Trái Đất và các yếu tố khác như địa hình, độ cao, v.v. Năng lượng gió là một trong những nguồn năng lượng chính được con người sử dụng để vận chuyển hàng hóa, xay xát ngũ cốc và bơm nước trong nhiều thiên niên kỷ (Antonia V. Herzog và cộng sự, 2001) và có tiềm năng lớn trở thành một nguồn năng lượng sạch tồn cầu.
Vì đều thuộc dạng năng lượng tái tạo, năng lượng gió sở hữu nhiều đặc điểm tương tự như năng lượng mặt trời, trong đó có:
<i>Tính tái tạo: Năng lượng gió là nguồn năng lượng tái tạo bởi vì nguồn gốc của gió là </i>
từ Mặt Trời - nguồn năng lượng không bao giờ cạn.
<i>Sạch: Đây là một nguồn năng lượng xanh giống năng lượng mặt trời. Việc khai thác </i>
năng lượng gió khơng gây ảnh hưởng xấu đến mơi trường nhiều như nhiên liệu hóa thạch, than hay năng lượng hạt nhân.
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25"><i>Tính phân tán: Năng lượng gió có thể được khai thác ở bất cứ nơi nào có gió thổi. </i>
Tuy nhiên, cường độ gió bị phụ thuộc vào địa hình từng khu vực. Những nơi có khơng gian thống đãng, rộng lớn có khả năng cao sẽ đón gió tốt hơn những khơng gian kín mít và bị che chắn.
Năng lượng gió hiện nay đang dần được các quốc gia trên thế giới quan tâm và đầu tư phát triển. Song song với năng lượng mặt trời, năng lượng gió cũng đem lại rất nhiều lợi ích cho con người với chi phí rẻ và tiềm năng tốt.
<b>2.2.2.3. Thủy điện </b>
Thủy điện là nguồn năng lượng tái tạo đang dẫn đầu ở hầu hết các quốc gia, với các nhà máy thủy điện quy mô rất lớn. Theo báo cáo của IEA (2021), thủy điện cung cấp một phần sáu công suất phát điện trên toàn thế giới trong năm 2020. Thủy điện về cơ bản là lợi dụng dòng chảy của nước từ trên núi cao để thiết lập các tuabin máy phát điện. Nguồn năng lượng này được đánh giá là thân thiện với mơi trường và có tính ổn định cao (Kothari, D.P. và cộng sự, 2021).
Thủy điện được coi là một nguồn năng lượng tái tạo, vì vậy nó sở hữu nhiều đặc điểm chung tương tự các dang năng lượng tái tạo khác. Trong đó có thể kể đến:
<i>Tính tái tạo: Bản chất của thủy điện là năng lượng từ dòng chảy của nước, vì thế nó </i>
được coi là vơ hạn và có thể sử dụng lâu dài. Bên cạnh đó, thủy điện cũng khơng tác động đến các đặc tính của nước sau khi chảy qua tua bin.
<i>Sạch: Thủy điện tương đối thân thiện với môi trường. So với nhiệt điện, thủy điện </i>
cung cấp năng lượng sạch và ít gây ơ nhiễm mơi trường hơn tùy thuộc vào quy mô của nhà máy.
<i>Ổn định: Thủy điện là một nguồn năng lượng ổn định, có thể cung cấp điện liên tục. </i>
Nước là một nguồn năng lượng sẵn có, khơng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thời tiết như gió và mặt trời.
Phát triển thủy điện sẽ góp phần mang lại nhiều lợi ích đáng kể cho đời sống con người. tuy nhiên, việc xây dựng thủy điện cũng mang lại nhiều bất cập. Vì vậy, nhiệm vụ của nhân loại là giảm bớt tác động tiêu cực của thủy điện cũng như tối đa hóa lợi ích mà nó mang lại.
<b>2.2.2.4. Năng lượng sinh khối </b>
Sinh khối là thuật ngữ dùng để chỉ tất cả các vật chất hữu cơ có nguồn gốc từ thực vật (kể cả tảo), cây cối và cây trồng có khả năng lưu trữ năng lượng mặt trời thơng qua quang hợp. Năng lượng sinh khối hay năng lượng sinh học là quá trình chuyển đổi sinh khối thành các dạng năng lượng hữu ích như nhiệt, điện và nhiên liệu lỏng (Antonia V. Herzog và cộng sự, 2001). Dạng năng lượng này thường được tạo ra bằng cách chuyển hóa tất cả các chất
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">hữu cơ được thải ra trong sinh hoạt hàng ngày của con người và các hoạt động tự nhiên của sinh vật thành điện năng (dùng tua bin hơi hoặc nén khí) hoặc nhiệt năng (thơng qua việc
<b>đốt các nhiên liệu một cách trực tiếp). </b>
Với bản chất là một dạng năng lượng tái tạo, năng lượng sinh khối có các đặc điểm nổi bật sau:
<i>Tính tái tạo: Về cơ bản, năng lượng sinh khối được tạo ra từ các vật liệu hữu cơ, chẳng </i>
hạn như gỗ, cỏ, chất thải nơng nghiệp và chất thải đơ thị. Chính vì thế, dạng năng lượng này là vịng lặp tuần hồn của việc sử dụng và thải ra rồi lại tiếp tục sử dụng, có tính tái tạo cao.
<i>Sạch: Năng lượng sinh khối là nguồn năng lượng sạch, là giải pháp thay thế cho các </i>
nguồn năng lượng hóa thạch giúp giảm thiểu phát thải khí nhà kính. Năng lượng sinh khối không gây ô nhiễm môi trường do có nguồn gốc tự nhiên và khơng gây độc hại.
<i>Dễ sử dụng: Năng lượng sinh khối có thể được khai thác ở bất cứ nơi nào có vật liệu </i>
hữu cơ, khơng phụ thuộc vào vị trí địa lý. Việc khai thác và sử dụng năng lượng này vô cùng dễ dàng và đơn giản, khơng địi hỏi kỹ thuật hiện đại.
Hiện nay các nước phát triển trên thế giới đang khuyến khích sử dụng rộng rãi khí sản xuất từ quá trình phân huỷ các chất thải hữu cơ. Qua đó giúp cho các quốc gia thúc đẩy xử lý chất thải của bãi chơn lấp như một hình thức bền vững của quản lý chất thải, đồng thời thu được năng lượng để sản xuất điện phục vụ đời sống con người.
<b>2.2.2.5. Các dạng năng lượng tái tạo khác </b>
Năng lượng địa nhiệt, chất thải rắn, thủy triều và nhiều dạng năng lượng khác là những nguồn năng lượng có thể được sử dụng để tạo ra điện. Những dạng năng lượng tái sinh này có những nhược điểm đáng kể vẫn đang được các nhà khoa học thảo luận để giải quyết trong cuộc khủng hoảng năng lượng sắp tới.
<b>2.2.3. Ưu điểm và nhược điểm của năng lượng tái tạo 2.2.3.1. Ưu điểm </b>
<i>Năng lượng tái tạo ít gây ảnh hưởng xấu đến môi trường </i>
Năng lượng tái tạo là nguồn năng lượng sạch, ít gây ơ nhiễm, loại năng lượng này cung cấp lợi thế môi trường lớn hơn so với các nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ,.. do việc sử dụng chúng làm giảm lượng khí thải nhà kính phát ra mơi trường thấp hơn đáng kể dẫn đến giảm thiểu biến đổi khí hậu (Nguyễn Thị Mỹ Hiền, 2022). Nguồn năng lượng thu được từ NLTT không chứa nguyên tố carbon và các nguyên tố khác nên khi sử dụng hồn tồn khơng phát thải carbon và các khí thải độc hại khác nên ít làm thay đổi mơi trường khí hậu và đảm bảo cân bằng hệ sinh thái. Tuy nhiên, trong các nguồn NLTT thì năng lượng sinh khối được tạo ra từ sinh khối và chất thải đều có nguồn gốc hữu cơ chứa
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">carbon, nên khi sử dụng chúng tất yếu sẽ có phát thải CO2 vào khí quyển. Nhưng vì các vật liệu sinh học là thực vật nên trong quá trình tái tạo đã hấp thụ CO2 trong khí quyển thực hiện quá trình quang hợp để tạo ra những vật liệu hữu cơ chứa Carbon mới là những Carbohydrate, nên xét về tổng thể nguồn năng lượng từ vật liệu sinh học tạo ra CO2 khi sử dụng coi như cân bằng CO2 trong thiên nhiên, do đó khơng bổ sung thêm nguồn phát thải CO2 vào khí quyển. Mặc dù mỗi hình thức sản xuất năng lượng đều ít nhiều gây ảnh hưởng đến mơi trường, nhưng trong số đó, NLTT là đối tượng ít gây ảnh hưởng đến mơi trường nhất.
Những ảnh hưởng môi trường của các nguồn năng lượng hóa thạch, thủy điện lớn và NLTT được thể hiện trong bảng 2.1
<b>Bảng 2. 1. Tác động đến môi trường của các nguồn năng lượng </b>
Loại năng lượng <i>Nguồn: Bộ Công Thương - Viện năng lượng Năng lượng tái tạo là vô hạn và tồn tại ở khắp mọi nơi trên Trái Đất </i>
Năng lượng hóa thạch (than đá, dầu mỏ, khí đốt,...) cần một nguồn chi phí lớn cho khai thác, tinh chế và vận chuyển. Trong khi đó, đa số các dạng NLTT như năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng địa nhiệt... khơng mất chi phí nhiên liệu do có sẵn trong tự nhiên, liên tục được tái tạo, không yêu cầu khai thác bằng máy móc hiện đại và có thể sử dụng trực tiếp từ nguồn năng lượng gốc mà không cần chế biến. So với các nguồn năng lượng truyền thống chỉ tập trung ở một số khu vực nhất định, năng lượng tái tạo được tìm thấy ở hầu hết mọi nơi trên trái đất. Khi hành tinh của lồi người cịn tồn tại thì những nguồn năng lượng tái tạo sẽ cịn vơ hạn, đảm bảo an ninh năng lượng cho mỗi quốc gia.
<i>NLTT còn tạo ra nhiều cơ hội đầu tư mới và việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế </i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">Công nghệ năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, năng lượng gió và các chính sách hỗ trợ năng lượng hứa hẹn đóng góp đáng kể cải thiện đời sống và sức khỏe cho một bộ phận người dân có thu nhập thấp; đặc biệt cho những người hiện đang khơng có khả năng tiếp cận với năng lượng. Sử dụng NLTT giúp phát triển kinh tế và tạo ra nhiều việc làm bằng cách tạo thêm các nguồn điện ở quy mơ tiện ích có thể kích thích tăng trưởng kinh tế và việc làm trong lĩnh vực lắp đặt và sản xuất. Theo báo cáo của IRENA, dự đoán rằng lĩnh vực năng lượng tái tạo có thể tạo ra hơn 40 triệu việc làm mới vào trước năm 2050.
<i>Năng lượng tái tạo cũng tạo ra nhiều ứng dụng hữu ích khác cho con người </i>
Điển hình là năng lượng tái tạo cung cấp những triển vọng mới cho người dân nơng thơn có thể tiếp cận các dịch vụ năng lượng hiện đại, tiết kiệm điện năng cho các hộ gia đình, nhà máy, xí nghiệp,...mà khơng phải lo về vấn đề cạn kiệt tài nguyên năng lượng. Năng lượng tái tạo thay thế các nguồn nhiên liệu truyền thống trong bốn lĩnh vực gồm: phát điện, đun nước nóng, nhiên liệu động cơ, và hệ thống điện độc lập nông thơn. Một địa phương có thể tự sản xuất ra điện bằng cách lắp đặt các tấm pin mặt trời để hấp thụ năng lượng từ đó tạo ra điện năng, nếu sử dụng đúng cách năng lượng dư thừa có thể được giữ tại bộ lưu trữ để dùng sau hoặc được truyền tải lên mạng lưới điện địa phương để cung cấp cho những nơi khác làm tăng thu nhập cho người dân. NLTT có thể giúp nhiều nước đang phát triển giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch và sự căng thẳng tài chính gây ra bởi biến động giá dầu thế giới.
<b>2.2.3.2. Nhược điểm </b>
<i>Chi phí đầu tư tốn kém </i>
Chi phí đầu tư ban đầu khá tốn kém bởi phải xây dựng hệ thống trang thiết bị hiện đại và tiên tiến, địi hỏi cơng nghệ cũng như cơng tác vận hành bảo dưỡng cao. Việc khai thác năng lượng tái tạo địi hỏi cơng nghệ tiên tiến nên chi phí đầu tư ban đầu rất cao, đẩy giá thành lên cao hơn, dẫn đến khó cạnh tranh hơn so với năng lượng không tái tạo: Các nguồn năng lượng tái tạo tuy phong phú và không mất tiền mua (trừ năng lượng sinh khối), nhưng lại phân tán. Việc tập trung và thu lấy chúng từ thiên nhiên để chuyển hóa thành các chất mang năng lượng khác nhau với hiệu suất chuyển hóa năng lượng cao địi hỏi chi phí đầu tư cho nghiên cứu, chi phí về kỹ thuật cơng nghệ, về vật liệu mới là rất lớn.
Thêm vào đó, chi phí vận hành và lưu trữ của năng lượng tái tạo cũng cao hơn so với các nguồn năng lượng truyền thống, ví dụ như các tấm pin mặt trời cần được làm sạch thường xuyên để duy trì hiệu suất.
<i>Tính ổn định thấp </i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">Do có nguồn gốc từ thiên nhiên nên tính ổn định thấp và thường chịu tác động từ các tác nhân bên ngoài gây ảnh hưởng đến hiệu suất hoạt động. Chỉ có thể khai thác năng lượng mặt trời vào ban ngày và vào những ngày có mặt trời, cịn ban đêm hay những ngày trời âm u, mưa thì hệ thống sẽ khơng hoạt động. Hay với năng lượng gió, các tua-bin gió chỉ có thể sinh điện vào những thời điểm có tốc độ gió thổi trong khoảng 4-25 m/s. Tốc độ gió phải tối thiểu 4 m/s thì các tua-bin gió mới bắt đầu chạy đều và phát điện, nhưng nếu vượt qua 25 m/s thì các tua-bin sẽ ngừng hoạt động để tránh hỏng hóc trong điều kiện gió mạnh. Năng lượng tái tạo không thể tồn trữ để sử dụng vào những thời điểm không thu nhận được chúng như vào ban đêm, ngày nhiều mây, ngày gió lặng. Do vậy khó cho các nhà quản lý trong việc hoạch định sản xuất và tiêu thụ.
<i>NLTT trong một số trường hợp chưa thực sự bảo vệ môi trường </i>
NLTT cũng có một số hạn chế ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế bền vững. Ví dụ về chi phí xử lý các tấm pin mặt trời khi hết hạn sử dụng, tác động về tiếng ồn và sóng siêu âm làm thiệt hại về khai thác hải sản gần các cơng trình điện gió, suy giảm sinh thái rừng khi lạm dụng phát triển năng lượng sinh khối từ rừng.
Trong sản xuất năng lượng tái tạo, đất hiếm được sử dụng chủ yếu để sản xuất các nam châm mạnh. Các nam châm này được sử dụng trong nhiều bộ phận của các thiết bị năng lượng tái tạo, bao gồm: Tuabin gió, pin mặt trời, ơ tơ điện. Ngồi ra, đất hiếm cũng được sử dụng trong một số bộ phận khác của các thiết bị năng lượng tái tạo, chẳng hạn như: Bộ chuyển đổi DC/AC - Các đất hiếm được sử dụng trong các bộ chuyển đổi DC/AC, giúp chuyển đổi dòng điện một chiều thành dòng điện xoay chiều, bộ lọc - Các đất hiếm được sử dụng trong các bộ lọc, giúp lọc các tạp chất khỏi dịng điện.
Do đó, có thể nói rằng đất hiếm là một nguyên liệu quan trọng cho sự phát triển của năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, việc khai thác và sử dụng đất hiếm cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro về tài ngun và mơi trường.
<b>2.3. Chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực năng lượng tái tạo </b>
<b>2.3.1. Khái niệm </b>
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, Checklist for Foreign Direct Investment Incentive Policies, 2003), chính sách ưu đãi FDI là các biện pháp được thiết kế để tác động đến quy mô, địa điểm hoặc ngành nghề của một dự án đầu tư FDI bằng cách tác động đến chi phí tương đối của dự án hoặc thay đổi những rủi ro đi kèm bằng những ưu đãi mà các nhà đầu tư trong nước tương tự khơng được hưởng. Mục đích của các chính sách thu hút FDI là cung cấp cho các nhà đầu tư một mơi trường để họ có thể tiến hành kinh doanh một cách có lãi và khơng phải gánh chịu những rủi ro không cần thiết.
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">Theo Ngân hàng Thế giới (WB, Incentives and Investments: Evidence and Policy Implications, 2009), ưu đãi đầu tư là những lợi thế kinh tế cụ thể có thể đo lường được mà chính phủ cung cấp cho một doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp nhất định, với mục tiêu hướng dòng đầu tư vào các lĩnh vực hoặc khu vực được ưu tiên hoặc tác động đến thuộc tính của những khoản đầu tư đó.
Tại Việt Nam, pháp luật đầu tư chưa đưa ra một định nghĩa cụ thể về biện pháp khuyến khích đầu tư nên thuật ngữ “khuyến khích đầu tư” chỉ được tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý. Dưới góc độ pháp lý, khuyến khích đầu tư được coi là một trong những biện pháp thu hút vốn đầu tư có hiệu quả và được hiểu là tất cả những quy định do nhà nước ban hành với mục đích là nhằm tạo điều kiện thuận lợi hoặc tạo ra những lợi ích nhất định cho các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngồi.
Dưới góc độ quản lý nhà nước, các biện pháp khuyến khích nói chung được hiểu là các phương thức hay biện pháp hành động thực hiện công tác quản lý kinh kinh tế và bảo vệ môi trường của nhà nước. Các cơng cụ này rất đa dạng, có thể là cơng cụ kinh tế, cơng cụ hành chính hoặc là sự kết hợp giữa một hay nhiều công cụ khác nhau mà nhà nước thực hiện công tác quản lý kinh tế và bảo vệ môi trường.
Như vậy, có thể thấy rằng, chính sách khuyến khích đầu tư là các biện pháp, chính sách của Chính phủ nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi, thu hút các nguồn vốn đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Theo luận án tiến sĩ của ơng Nguyễn Hùng Cường, chính sách năng lượng tái tạo là cách thức mà một thực thể nhất định (thường là chính phủ) quyết định để giải quyết các vấn đề về phát triển năng lượng tái tạo bao gồm sản xuất, phân phối và tiêu dùng năng lượng tái tạo.
<i>Như vậy chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngồi vào lĩnh vực năng lượng </i>
<i>tái tạo có thể được hiểu là những biện pháp được ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài để từ đó thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo. </i>
Chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phát triển năng lượng tái tạo có thể được phân thành một số nhóm:
<i>Thứ nhất, ưu đãi tài chính cung cấp các khoản vay và bảo lãnh khoản vay với lãi suất </i>
thấp hơn thị trường.
<i>Thứ hai, các ưu đãi thuế như miễn, giảm thuế và các trợ cấp liên quan đến thuế khác. Thứ ba, hỗ trợ và điều tiết giá thị trường, cung cấp mức giá hoặc nhu cầu cao hơn thị </i>
trường khi sản xuất và bán năng lượng tái tạo.
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31"><i>Thứ tư, các ưu đãi khác có thể kể tới như ưu đãi về hành chính, các khoản trợ cấp </i>
khác.
<b>2.3.2. Nội dung chính sách </b>
Năng lượng tái tạo là một nguồn năng lượng sạch, bền vững và có nhiều lợi ích so với các nguồn năng lượng truyền thống. Tuy nhiên, các dự án năng lượng tái tạo thường cần nhiều chi phí đầu tư và có rủi ro cao. Vì vậy, các chính sách khuyến khích đầu tư cho năng lượng tái tạo là cần thiết và là yếu tố quan trọng giúp thu hút được các nhà đầu tư trong lĩnh vực này.
<b>2.3.2.1. Chính sách ưu đãi tài chính </b>
Chính sách ưu đãi tài chính là những chính sách của Nhà nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng được hưởng ưu đãi về tài chính, bao gồm các khoản thu, chi, tài sản, tín dụng,...
Do các dự án năng lượng tái tạo thường cần nhiều chi phí đầu tư, vượt quá khả năng tài chính của các nhà đầu tư tư nhân, vì vậy các chính sách tài chính của Chính phủ có thể giúp giải quyết vấn đề thiếu vốn cho các dự án năng lượng tái tạo. Chính phủ có thể cung cấp các khoản vay ưu đãi lãi suất hoặc thời hạn vay dài hơn cho các dự án năng lượng tái tạo. Chính phủ cũng có thể trợ cấp trực tiếp cho các dự án năng lượng tái tạo, giúp giảm chi phí sản xuất điện. Những ưu đãi này có thể giúp tăng mức độ khả thi của các dự án năng lượng tái tạo và giảm rủi ro hơn trong mắt các nhà đầu tư, từ đó thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực này tại Việt Nam.
Theo OECD (2003), các chính sách ưu đãi tài chính thường được đưa ra như sau:
<i>Ưu đãi đất đai </i>
Có nhiều trường hợp chính quyền trung ương hoặc địa phương bán đất hoặc bán nhà cho nhà đầu tư nước ngoài với giá thấp hơn giá thị trường. Những hoạt động như vậy đang được nhiều người coi là một cách thúc đẩy đầu tư gần như miễn phí. Do các dự án năng lượng tái tạo cần diện tích đất rất lớn và đầu tư dài hạn, điều này khiến cho doanh nghiệp phải bỏ ra một khoản chi phí rất cao để mua hoặc thuê đất khi tiến hành các dự án này. Do đó, cần có những chính sách ưu đãi về đất đai của chính phủ để giúp doanh nghiệp giảm bớt phần nào gánh nặng về tài chính khi cân nhắc đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo tại nước sở tại.
<i>Ưu đãi tín dụng </i>
Chính sách ưu đãi tín dụng đầu tư được thể hiện thơng qua việc cơ quan có thẩm quyền có thể lựa chọn cấp các khoản vay ưu đãi hoặc trợ cấp lãi suất cho doanh nghiệp nước ngồi cho mục đích cụ thể của dự án đầu tư. Ngoài ra, họ có thể giảm bớt chi phí tài chính cho nhà đầu tư bằng cách phát hành bảo lãnh tiền vay.
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">Theo nghiên cứu Ưu đãi đầu tư cho năng lượng tái tạo tại Việt Nam của Phạm Nam Khánh và cộng sự (2012), khuyến khích tài chính tập trung vào việc cung cấp và chi phí tài chính cho dự án. Đây có thể là một vấn đề lớn đối với các dự án năng lượng tái tạo vốn đòi hỏi lượng vốn lớn và do đó có thể gây ra rủi ro đáng kể cho các nhà đầu tư.
Các dự án phát triển và sử dụng nguồn năng lượng tái tạo được hưởng các ưu đãi về tín dụng đầu tư theo các quy định pháp luật hiện hành về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước. Ngồi ra, chính sách ưu đãi tài chính thường áp dụng các hình thức cơ chế như tài trợ đầu tư, cho vay hỗ trợ, bảo lãnh vốn vay và bảo hiểm với lãi suất ưu đãi.
<i>Ưu đãi chi phí </i>
Ngồi việc giúp các nhà đầu tư trang trải chi phí ban đầu như ưu đãi đất đai và ưu đãi tín dụng, các cơ quan chức năng tại nước sở tại đơi khi cịn tham gia hỗ trợ chi phí cho hoạt động kinh doanh lâu dài về sau. Để tác động đến quyết định kinh doanh của nhà đầu tư, chính quyền có thể đóng góp vào chi phí tiếp thị và phát triển và thậm chí là chi phí vận hành doanh nghiệp trong một vài trường hợp. Việc tham gia hỗ trợ chi phí có thể là trực tiếp hoặc có thể được cung cấp gián tiếp thông qua các nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho nhà đầu tư.
<b>2.3.2.2. Chính sách ưu đãi thuế </b>
Khuyến khích tài chính cịn được cung cấp thơng qua các quy định về thuế. Chúng thường nhằm mục đích giảm chi phí liên quan đến đầu tư và vận hành doanh nghiệp. Chính sách ưu đãi thuế là một chính sách của Nhà nước nhằm giảm bớt gánh nặng về thuế cho một nhóm đối tượng cụ thể. Chính sách này có thể được áp dụng cho các doanh nghiệp, tổ chức hoặc cá nhân hoạt động trong các lĩnh vực, địa bàn hoặc ngành nghề được Nhà nước khuyến khích phát triển. Chính sách ưu đãi thuế được áp dụng nhằm đạt được các mục đích như: khuyến khích phát triển các ngành, lĩnh vực, địa bàn được Nhà nước ưu tiên phát triển; thu hút đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; bảo vệ mơi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu;...
Theo OECD (2003), khi các biện pháp khuyến khích được sử dụng để thu hút đầu tư, các ưu đãi thuế thường được đưa ra bao gồm:
<i>Thuế thu nhập doanh nghiệp </i>
Các biện pháp chung nhằm giảm bớt gánh nặng thuế doanh nghiệp được sử dụng để thu hút các nhà đầu tư trực tiếp nước ngồi.
Trong đó có các khoản miễn thuế như “các công ty mới thành lập” đủ điều kiện không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định. Một biến thể của chính sách này là quy định rằng một cơng ty khơng phải trả thuế cho đến khi nó thu hồi được chi phí vốn trả trước.
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">Bên cạnh đó, chính sách giảm thuế đối với đầu tư của doanh nghiệp được nhiều khu vực pháp lý sử dụng như một cách để thu hút các doanh nghiệp nước ngoài và tạo động lực đầu tư cho họ.
<i>Thuế xuất nhập khẩu </i>
Chính sách ưu đãi thuế nhập khẩu được thể hiện qua chính sách miễn, giảm thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật tư nhập khẩu tạo tài sản cố định của dự án. Chính sách này giúp giảm trở ngại cho hoạt động xuyên biên giới do các công ty bị thu hút bởi những địa điểm mà có chi phí tối thiểu đối với hoạt động chuyển vốn, hàng hóa, dịch vụ và nhân lực xuyên biên giới.
<i>Thuế sử dụng đất </i>
Chính sách này được thể hiện thông qua việc đất của dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư của các quốc gia hoặc dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt sẽ được miễn, giảm thuế sử dụng đất với mục đích phi nơng nghiệp nhằm thu hút vốn đầu tư vào các lĩnh vực này.
<b>2.3.2.3. Chính sách giá </b>
Năng lượng tái tạo (NLTT) như điện mặt trời, điện gió có chi phí đầu tư ban đầu cao hơn so với các nguồn năng lượng truyền thống như than đá, khí đốt. Bên cạnh đó, giá thành điện NLTT cũng cao hơn so với giá điện truyền thống do chi phí vận hành và bảo trì cao hơn. Do đó, cần có chính sách giá giúp giảm thiểu rủi ro tài chính cho nhà đầu tư, khuyến khích họ đầu tư vào lĩnh vực NLTT. Chính sách giá FIT là một cơng cụ hiệu quả để thúc đẩy phát triển NLTT. Mục tiêu chính của chính sách giá FIT là giảm thiểu rủi ro tài chính cho các nhà đầu tư vào dự án NLTT, giúp họ có thể dự đốn được dịng tiền và thu hồi vốn đầu tư, và tạo môi trường kinh doanh hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư vào lĩnh vực NLTT. Theo Ủy hội Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hợp Quốc (UNESCAP), Biểu giá điện đầu vào (Feed-in Tariff) là một chính sách năng lượng tập trung vào việc hỗ trợ phát triển và mở rộng hoạt động sản xuất điện tái tạo. Trong cơ chế giá điện đầu vào, các nhà cung cấp năng lượng điện tái tạo sẽ nhận được mức giá cho nguồn điện mà họ sản xuất ra dựa trên khung giá phát điện. Chính sách giá này thường được cung cấp trên cơ sở dài hạn, từ 5 đến 20 năm, nhưng phổ biến nhất là kéo dài 15 – 20 năm.
Theo Kate Loynes (2014), Biểu giá điện đầu vào (FIT) là khoản thanh toán cho nguồn điện được đưa vào lưới điện từ nguồn năng lượng tái tạo, chẳng hạn như các tấm pin mặt trời hoặc năng lượng gió. FIT có thể do chính phủ quy định hoặc do nhà bán lẻ điện tự nguyện cung cấp.
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">Wilson Rickerson (2012) cho rằng cơ chế giá điện FIT thường được áp dụng trong các hợp đồng có thời hạn từ 10 – 25 năm, có thể phân biệt theo quy mơ dự án, chất lượng tài nguyên hay vị trí dự án,… và giá điện FIT cũng có thể được hiệu chỉnh định kỳ. Giá điện FIT hàm chứa 3 yếu tố cốt lõi để phát triển nguồn NLTT, đó là: (i) một sự đảm bảo để nguồn NLTT kết nối với lưới điện; (ii) một hợp đồng mua bán điện dài hạn; và (iii) một mức giá bán điện hợp lý cho nhà đầu tư.
Theo Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, Giá FiT (Feed-in Tariffs) là giá bán điện năng sản xuất ra từ nguồn năng lượng tái tạo được bán hoặc cung cấp vào lưới điện. Biểu giá điện hỗ trợ (FIT) là công cụ chính sách được thiết kế để thúc đẩy đầu tư vào các nguồn năng lượng tái tạo.
Chính sách giá FIT hoạt động theo cơ chế sau:
<i>Một là, nhà nước quy định một mức giá cố định cho điện năng sản xuất từ các nguồn </i>
năng lượng tái tạo trong một khoảng thời gian nhất định.
<i>Hai là, các nhà đầu tư điện năng tái tạo sẽ được mua lại toàn bộ sản lượng điện của </i>
họ với mức giá đã quy định.
<i>Ba là, giá mua điện được quy định cao hơn so với giá điện truyền thống, nhằm bù đắp </i>
chi phí đầu tư cao hơn của các nguồn năng lượng tái tạo.
<i>Tóm lại, chính sách giá FIT là một cơ chế tài chính được sử dụng để khuyến khích </i>
<i>đầu tư vào các nguồn năng lượng tái tạo. Chính sách này đã được áp dụng thành công ở </i>
nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
<i>Một số những hình thức trợ cấp khác hỗ trợ giá cho năng lượng tái tạo như Biểu giá </i>
<i>chi phí tránh được (Avoided Cost Tariff – ACT): </i>
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), biểu giá chi phí tránh được là chi phí mà cơng ty điện lực phải trả nếu phải sản xuất điện thông qua sản xuất nhiệt.
Theo Cơ quan Phát triển Quốc tế của Hoa Kỳ (USAID), Biểu giá chi phí tránh được được thiết kế sao cho người tiêu dùng phải trả bằng hoặc ít hơn số tiền họ lẽ ra phải trả cho một nguồn năng lượng thay thế. Theo cách tiếp cận này, các nhà vận hành lưới điện nhỏ thiết kế biểu giá để chuyển thành hóa đơn hàng tháng. Các hóa đơn bằng hoặc ít hơn số tiền mà người tiêu dùng lẽ ra phải trả cho các nguồn năng lượng khác, chẳng hạn như dầu hỏa. Theo Bộ Công Thương Việt Nam, Biểu giá chi phí tránh được được tính theo chi phí tránh được của lưới điện quốc gia khi một (01) kWh được phát lên lưới điện phân phối từ một nhà máy điện năng lượng tái tạo nhỏ. Chi phí tránh được là chi phí sản xuất trên 1 kWh của tổ máy phát điện có giá thành đắt nhất trong lưới điện quốc gia, có thể tránh được nếu Bên mua mua 1 kWh điện từ một nhà máy điện năng lượng tái tạo nhỏ thay thế. Mục đích nhằm khuyến khích phát triển NLTT bằng cách đảm bảo cho các nhà đầu tư NLTT nhận
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">được mức giá điện tương đương với chi phí mà hệ thống điện phải gánh chịu để sản xuất ra cùng lượng điện từ các nguồn truyền thống.
<i>Tóm lại, biểu giá chi phí tránh được là một chính sách giá điện được áp dụng cho các </i>
<i>nhà sản xuất điện tái tạo, giúp đảm bảo rằng điện tái tạo có giá cả cạnh tranh với điện truyền thống, từ đó khuyến khích các nhà đầu tư xây dựng các nhà máy điện tái tạo. </i>
Giá FIT và biểu giá chi phí tránh được ACP (feed-in premium) là hai cơ chế tài chính được sử dụng để khuyến khích đầu tư vào các nguồn năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, giữa hai cơ chế này có một số điểm khác biệt cơ bản như sau:
<b>Bảng 2. 2. Sự khác nhau giữa chính sách giá FIT và biểu giá chi phí tránh được </b> giá cố định cho điện năng sản xuất từ các nguồn năng lượng
tái tạo.
Giá điện dựa trên chi phí tránh được của việc xây dựng các nhà máy điện
truyền thống.
<b>Mức giá </b> <sup>Mức giá cố định, thường cao </sup>
hơn giá bán điện truyền thống.
Mức giá tối thiểu, thường cao hơn giá bán điện truyền thống. Giá mua điện thực tế có thể thấp hơn mức giá tối thiểu nếu giá thị trường thấp hơn.
<b>Chi phí cho nhà nước </b>
Nhà nước phải chi trả cho khoản chênh lệch giữa giá mua
điện từ các nguồn năng lượng tái tạo và giá bán điện truyền
thống.
Nhà nước chỉ phải chi trả cho khoản chênh lệch giữa giá mua điện thực tế
và giá tối thiểu.
Có thể giúp thúc đẩy cạnh tranh trong thị trường điện.
<i>Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp </i>
Từ những đặc điểm trên của chính sách giá FIT và ACP, có thấy được điểm khác biệt giữa hai chính sách giá này như sau:
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">Giá FIT là một cơ chế đơn giản, dễ thực hiện và có thể mang lại hiệu quả nhanh chóng trong việc thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, cơ chế này cũng có thể gây áp lực lên giá điện và dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh giữa các nhà đầu tư.
Biểu giá chi phí tránh được ACP là một cơ chế phức tạp hơn, nhưng có thể giúp giảm giá điện và thúc đẩy cạnh tranh trong thị trường điện. Tuy nhiên, cơ chế này cũng có thể khó thực hiện và địi hỏi sự phối hợp giữa các bên liên quan.
Do đó Chính phủ các quốc gia cần phải cân nhắc kĩ lưỡng và sử dụng linh hoạt cũng như kết hợp các chính sách này sao cho phù hợp với đặc điểm của từng quốc gia để đạt hiệu quả tối đa khi áp dụng chính sách giá.
<b>2.3.2.4. Chính sách ưu đãi khác </b>
Ngồi chính sách ưu đãi tài chính, chính sách ưu đãi thuế, và chính sách ưu đãi giá, chính phủ có thể đưa ra một số chính sách ưu đãi khác nhằm thu hút vốn đầu tư như:
<i>Trợ cấp cơ sở hạ tầng </i>
Một trong những biện pháp tốt nhất để tăng sức hấp dẫn của một địa điểm đầu tư (hoặc một khu vực nói chung) là cung cấp cơ sở hạ tầng vật chất (đường bộ, đường sắt, bến cảng,...) hoặc các biện pháp truyền tải thông tin được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư.
<i>Trợ cấp đào tạo nghề </i>
Trong nhiều trường hợp, đặc biệt là khi đầu tư vào các lĩnh vực mới đối với nền kinh tế sở tại, các nhà đầu tư phải đối mặt với tình trạng thiếu lao động có trình độ. Từ đó, chính quyền có thể đưa ra biện pháp hỗ trợ đào tạo nghề cho người dân lao động tại địa phương thông qua các chương trình giáo dục cơng hoặc hỗ trợ cơng để giảm bớt trở ngại này đối với các nhà đầu tư khi cân nhắc đầu tư vào lĩnh vực mới.
<i>Hỗ trợ hành chính </i>
Các cơ quan có thẩm quyền có thể sử dụng biện pháp hỗ trợ hành chính để giúp doanh nghiệp loại bỏ những trở ngại về mặt thủ tục hành chính khi cân nhắc đầu tư. Chẳng hạn như các cơ quan xúc tiến đầu tư (IPA) thực hiện một số nhiệm vụ mà lẽ ra các doanh nghiệp đầu tư sẽ phải thực hiện ví dụ như hỗ trợ các nhà đầu tư tìm hiểu cơ hội đầu tư và triển khai dự án đầu tư. Hoặc nhờ ưu đãi của các cơ quan quản lý, các trở ngại hành chính như tốc độ xin giấy phép được giảm bớt.
<i>Hỗ trợ tái định cư và hồi hương </i>
Các cơ quan chức năng thường cho rằng chi phí mà doanh nghiệp phải gánh chịu khi di dời hoặc thành lập các công ty con mới tại nước ngồi có thể cản trở họ lựa chọn những địa điểm phù hợp nhất. Do đó, các cơ quan chức năng có thể cung cấp các khoản tài trợ để giúp đáp ứng chi phí di dời của doanh nghiệp. Trong một số trường hợp, chính quyền nước
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">sở tại cũng hỗ trợ chi phí tái định cư cho nhân lực chuyển giao của các doanh nghiệp cũng như các chi phí liên quan đến gia đình của họ như nhà ở, chi phí đi lại, chi phí giáo dục,...
<i>Các tiêu chuẩn nhằm thúc đẩy phát triển Năng lượng tái tạo </i>
Tiêu chuẩn tỉ lệ năng lượng tái tạo (RPS) - quy định các nhà cung cấp điện phải đáp ứng một tỷ lệ nhất định trong tổng lượng điện sản xuất của họ bằng các nguồn năng lượng tái tạo. Tỷ lệ này thường được biểu thị bằng phần trăm,...
<b>2.4. Kinh nghiệm quốc tế về các chính sách khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo </b>
<b>2.4.1. Trung Quốc </b>
Là 1 cường quốc với số dân đơng nhất nhì thế giới, Trung Quốc hiện đang là quốc gia sử dụng năng lượng và phát thải CO2 lớn nhất thế giới. Trung Quốc vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm của biến đổi khí hậu (Minh Hải, 2023).
Trước những yêu cầu quốc tế và trong nước về phát triển kinh tế bền vững, Trung Quốc đã thiết lập các yếu tố quan trọng ngay từ ban đầu đảm bảo hỗ trợ năng lượng tái tạo thành công dài hạn bằng khung chính sách năng lượng tái tạo tồn diện và đã trở thành một nhà lãnh đạo thế giới về năng lượng tái tạo, đặc biệt là năng lượng gió, năng lượng mặt trời và thủy điện.
Để có được những thành cơng đó là việc ban hành và thực thi một số những chính sách để khuyến khích đầu tư phát triển NLTT:
<i><b>Thứ nhất, chính sách ưu đãi tài chính </b></i>
Trung Quốc đã thực hiện ban hành luật Năng lượng tái tạo vào năm 2006, đặt nền móng cho cuộc cách mạng phát triển năng lượng sạch. Chính Phủ Trung Quốc đặt mục tiêu tăng nguồn NLTT lên mức tương đương 15% tổng nhu cầu sử dụng năng lượng của nước này vào năm 2020 và giảm tỷ trọng nhiên liệu hóa thạch xuống 20% vào năm 2030. Ban hành kế hoạch ở cấp quốc gia và địa phương nhằm đẩy mạnh phát triển NLTT. Kế hoạch 5 năm lần thứ XII (2011-2015) và lần thứ XIII (2016-2020) của Trung Quốc nêu rõ, phải ưu tiên phát triển năng lượng xanh và bảo vệ môi trường, đảm bảo thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải carbon. Theo Báo cáo của Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc về NLTT, Trung Quốc là nhà đầu tư lớn vào NLTT trong nước với mức đầu tư 103 tỷ USD năm 2015, cao gấp đôi số vốn đầu tư trong nước của Mỹ, gấp 5 lần của Anh và khoảng 36% toàn thế giới. Trong Kế hoạch 5 năm lần thứ XIII (2016 - 2020), Trung Quốc đầu tư hơn 360 tỷ USD vào NLTT. Những khoản đầu tư trên đã tạo ra khoảng 10 triệu việc làm. Cùng với đó, ban hành một số quy định, tiêu chuẩn đối với các sản phẩm NLTT, điều chỉnh giá điện từ nguồn NLTT và hủy bỏ kế hoạch triển khai 104 dự án nhà máy nhiệt điện chạy than ở 13 tỉnh, thành phố.
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38"><i><b>Thứ hai, chính sách giảm thuế năng lượng tái tạo </b></i>
Sau nhiều năm nỗ lực cắt giảm chi phí sản xuất pin năng lượng mặt trời, tháng 7/2011, Trung Quốc đã tiến hành giảm thuế năng lượng mặt trời để tạo lập thị trường riêng trong nước. Tháng 8/2009, chính sách hỗ trợ phát triển năng lượng gió đã được Trung Quốc thay thế bằng ưu đãi thuế. Với chính sách này, 4 trang trại điện gió đã được thiết lập. Ngồi ra, một loại hình năng lượng sạch nữa được Trung Quốc quan tâm phát triển là năng lượng sinh khối, tận dụng chất thải từ chăn nuôi, nông, lâm nghiệp, chất thải rắn ở đơ thị.
<i><b>Thứ ba, Trung Quốc đã đưa ra chính sách hỗ trợ giá bằng việc ban hành chính sách </b></i>
trợ giá năng lượng tái tạo FIT.
Việc trợ giá cho NLTT thông qua cơ chế FIT đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ gần đây của năng lượng mặt trời, năng lượng gió ở Trung Quốc, trong 10 năm qua, tỷ trọng của nguồn NLTT đã tăng gần gấp đôi, từ 9,5% vào năm 2010 lên 18% vào năm 2020. Chính sách trợ giá FIT cũng thúc đẩy năng lượng gió phát triển. Các ưu đãi tài chính khác cũng được cung cấp cho các nhà sản xuất điện gió, các trang trại gió được giảm 50% thuế VAT. Chính sách FIT cũng được áp dụng rộng rãi cho các dự án sinh khối và metan sinh học. Chính phủ Trung Quốc đã trợ cấp 0,75 nhân dân tệ mỗi kWh cho tất cả điện sản xuất từ sinh khối và khí sinh học trong năm 2011, dẫn đến sự bùng nổ xây dựng của cả hai loại dự án sinh khối và khí sinh học, cung cấp một môi trường đầu tư ổn định cho các nhà đầu tư.
Chính quyền địa phương cũng đưa ra những hình thức hỗ trợ tài chính như bảo lãnh cho vay, vay ưu đãi, miễn giảm tiền thuê đất, giảm thuế; hỗ trợ giải phóng mặt bằng, thủ tục giao đất đầu tư, tạo điều kiện để tiếp cận đất đai tại các khu vực rộng lớn đủ tiêu chuẩn về nắng để xây dựng nhà máy năng lượng mặt trời.
<b>2.4.2. Hàn Quốc </b>
Hàn Quốc là quốc gia tiêu thụ năng lượng lớn thứ chín trên thế giới trong khi nguồn tài nguyên hóa thạch rất hạn hẹp. Nguồn tài nguyên than của quốc gia bao gồm than anthracit chất lượng thấp, chỉ đủ cho nhu cầu sưởi ấm gia đình và đun nấu nhỏ. Hàn Quốc tuy có lịch sử lâu dài về phát triển thủy điện nhưng với diện tích đất vơ cùng hạn chế và những quan ngại ngày càng nhiều về tác động môi trường của việc phát triển thủy điện đã kìm hãm việc sử dụng năng lượng này, hiện thủy điện chỉ chiếm khoảng 8% tổng sản lượng điện của Hàn Quốc. Việc đáp ứng nhu cầu về năng lượng chủ yếu từ nhập khẩu.
Bên cạnh đó, Hàn Quốc cịn là quốc gia phát thải carbon dioxide lớn thứ bảy trong tiêu thụ năng lượng toàn cầu kể từ năm 2016.
Trong Kế hoạch cơ bản lần thứ tư về năng lượng mới và tái tạo, Chính phủ Hàn Quốc cam kết thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng của đất nước bằng cách tăng tỷ trọng NLTT lên 20% vào năm 2030 và 30-35% vào năm 2040, để loại bỏ dần than và hạt nhân
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">khỏi hỗn hợp năng lượng, đồng thời cải thiện chất lượng môi trường. Theo Thỏa thuận Paris, Hàn Quốc cam kết cắt giảm 40% (536 triệu tấn) lượng khí thải CO2 vào năm 2030, (năm 2018, lượng khí thải CO2 là 709 triệu tấn), như một phần của mục tiêu khơng phát thải rịng vào năm 2050.
Hàn Quốc đưa ra nhiều chính sách nhằm thúc đẩy phát triển ngành cơng nghiệp NLTT nhằm tạo ra tính cạnh tranh trên thị trường cho ngành này góp phần tăng GDP, tạo khối lượng lớn việc làm, giảm hao tốn tài nguyên đáp ứng mục tiêu PTKTBV và chống BĐKH, bao gồm:
<b>Thứ nhất, áp dụng cơ chế trợ giá điện FIT: Chính phủ Hàn Quốc đưa ra cơ chế trợ </b>
giá cho điện gió, điện mặt trời với thời gian 15 năm kể từ khi dự án bắt đầu hoạt động. Điều này sẽ giúp giảm chi phí cho nhà đầu tư nhằm thu hút đầu tư vào lĩnh vực NLTT.
<b>Thứ hai, ban hành Tiêu chuẩn tỉ lệ năng lượng tái tạo (RPS). Năm 2010, Hàn </b>
Quốc đã chuyển từ FIT sang chính sách Tiêu chuẩn tỉ lệ năng lượng tái tạo (RPS) quy định tỉ lệ NLTT trong tổng cung năng lượng, lộ trình áp dụng từ cuối năm 2012. Cụ thể, các đơn vị sản xuất điện với công suất trên 500MW thuộc đối tượng phải áp dụng cơ chế RPS, theo đó phải sản xuất 4% năng lượng tái tạo đến năm 2017 và tăng lên 10% đến năm 2023. Các đơn vị sản xuất điện khi áp dụng cơ chế RPS sẽ được nhận một chứng chỉ NLTT (REC) tương ứng với quy mô dự án thực hiện. Cơ quan Năng lượng Hàn Quốc và công ty độc quyền mua bán điện Hàn Quốc là đơn vị cấp chứng chỉ REC. Với việc áp dụng cơ chế RPS đã có nhiều tác động tích cực hơn giúp đẩy nhanh việc triển khai NLTT với tỷ lệ tăng trưởng công suất của NLTT trong giai đoạn 2012-2016 khoảng 11,36% (trước đó khi áp dụng FiT công suất này chỉ khoảng 7,5%). Cơ chế RPS thúc đẩy cạnh tranh về giá giữa các nhà sản xuất NLTT, giảm được gánh nặng tài chính của Chính phủ, và giảm bớt khó khăn khi dự báo nguồn cung NLTT trong dài hạn. Tuy nhiên, chính sách này lại có hạn chế là chỉ hỗ trợ triển khai một số ít các nguồn NLTT đem lại lợi nhuận cao nhất. Chính sách RPS hiện khơng chỉ có Hàn Quốc áp dụng, nhiều nước trên thế giới đã áp dụng được khá lâu và đem lại hiệu quả tích cực góp phần đạt được mục tiêu về phát triển NLTT. Đây là chính sách mà Việt Nam có thể tham chiếu để thúc đẩy phát triển NLTT đáp ứng mục tiêu PTKTBV trong điều kiện về ngân sách của Việt Nam cịn hạn hẹp khơng thể ồ ạt áp dụng chính sách trợ giá FIT.
<b>Thứ ba, chính sách Tiêu chuẩn năng lượng tái tạo (RFS). Chính sách này có hiệu </b>
lực vào năm 2015, yêu cầu nhiên liệu cho giao thông vận tải phải chứa một lượng tối thiểu nhiên liệu sinh học. Các nhà cung cấp nhiên liệu cho GTVT có nghĩa vụ phải đảm bảo đáp ứng được tiêu chuẩn pha trộn tối thiểu khi bán ra và tiêu thụ trên thị trường. Chính sách này có thể nên được áp dụng tại Việt Nam, quốc gia có hệ thống giao thơng vận tải phức tạp
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">với nhiều phương tiện cá nhân không đạt chuẩn ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng khơng khí.
<b>Thứ tư, triển khai các chương trình, đề án khác. Nhằm thúc đẩy phát triển năng </b>
lượng tái tạo, Chính phủ đã triển khai nhiều chương trình như chương trình phát triển NLTT mới (RE2030) vào năm 2017, chương trình sử dụng năng lượng tái tạo bắt buộc tại các tồ nhà cơng cộng; các chương trình trợ cấp ưu đãi cho các hộ gia đình theo vùng miền, phấn đấu đến năm 2020 sẽ hỗ trợ khoảng 700.000 hộ gia đình lắp đặt hệ thống điện mặt trời; chương trình thử nghiệm hệ thống điện mặt trời lắp mái tại các làng nghề nông nghiệp, phấn đấu 400.000 hộ gia đình được lắp đặt đến năm 2030. Ngồi ra, Hàn Quốc còn triển khai đề án phát triển hệ thống lưu trữ năng lượng – ESS tích hợp với các dự án NLTT (mặt trời, gió) để góp phần đảm bảo khả năng vận hành linh hoạt và dự phòng cho vận hành hệ thống điện.
<b>2.4.3. Nhật Bản </b>
Với lợi thế là một cường quốc về khoa học, công nghệ phát triển bậc nhất trên thế giới, Nhật Bản cũng đã sớm nhận thức vai trò và tầm quan trọng của nguồn năng lượng tái tạo đối với phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Vào tháng 4 năm 2021, Chính phủ Nhật Bản đã vạch ra các mục tiêu đầy tham vọng, nâng mục tiêu cắt giảm phát thải khí nhà kính lên 46% vào năm 2030 từ mức 26% của năm 2013; tiếp tục duy trì sử dụng đa dạng các nguồn năng lượng. Theo kế hoạch mới nhất được đưa ra vào tháng 7 năm 2021 và được nội các Nhật Bản phê duyệt, năng lượng tái tạo sẽ chiếm 36 - 38% nguồn cung cấp điện vào năm 2030, gấp đôi mức của năm 2019, trong đó 14 - 16% đến từ năng lượng mặt trời, 5% từ gió, 1% từ địa nhiệt, 11% từ thủy điện và 5% từ sinh khối.
Những chính sách khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo ở Nhật Bản:
<b>Thứ nhất, chính sách ưu đãi tài chính: </b>
Ngay từ năm 2008, Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện chính sách hỗ trợ cho vay mua nhà sử dụng năng lượng tái tạo với thời gian trả nợ tối đa là 10 năm, trong đó, cho những gia đình cải tạo nhà, chuyển sang sử dụng năng lượng mặt trời được vay số tiền tối đa lên đến 5 triệu Yên, tương đương gần 5.000 USD. Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản cịn mua điện sản xuất từ năng lượng mặt trời với giá cao hơn giá thị trường và giảm giá bán các tấm pin năng lượng mặt trời.
<b>Thứ hai, chính sách ưu đãi thuế </b>
Áp dụng thuế môi trường, loại bỏ trợ cấp cho năng lượng truyền thống. Nhật Bản đã đưa ra chính sách cùng chịu chi phí bằng việc cải cách thuế, đặc biệt là thuế môi trường hoặc các chương trình thu phí tiêu thụ năng lượng. Việc áp dụng thuế môi trường đối với
</div>