Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.64 MB, 154 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ </b>
---🙞🙜🕮🙞🙜---
<b>BÁO CÁO TỔNG KẾT </b>
<b>ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC </b>
<b>NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ THÚC ĐẨY CHÍNH SÁCH TIÊU DÙNG BỀN VỮNG ĐỐI VỚI MẶT HÀNG TIÊU DÙNG NHANH </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ </b>
---🙞🙜🕮🙞🙜---
<b>BÁO CÁO TỔNG KẾT </b>
<b>ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC </b>
<b>NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ THÚC ĐẨY CHÍNH SÁCH TIÊU DÙNG BỀN VỮNG ĐỐI VỚI MẶT HÀNG TIÊU DÙNG NHANH </b>
<b>Sinh viên thực hiện: Phùng Thị Như Quỳnh – K57E1 Nguyễn Thị Thảo Nhi – K57E2 Nguyễn Hà Anh – K57E2 Trần Thị Bích Loan – K57E2 Giảng viên hướng dẫn: TS. Phạm Văn Kiệm </b>
<b>HÀ NỘI, 03/2024</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3"><b>TĨM LƢỢC </b>
Trong bối cảnh tồn cầu hóa cùng với sự phát triển của nhân loại, nền kinh tế tăng trưởng ngày càng cao đi cùng với lối sống hiện đại, lành mạnh, …các mặt hàng tiêu dùng nhanh đang ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong các mặt hàng tiêu dùng. Người tiêu dùng không những trở nên thông thái hơn khi lựa chọn các mặt hàng được sản xuất và tiêu dùng bền vững mà cịn chủ động tìm hiểu thêm các chính sách
<b>về tiêu dùng bền vững đối với những mặt hàng này. Đề tài “Nghiên cứu các yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh” nhằm </b>
mục đích xác định những yếu tố và mức độ ảnh hưởng của những yếu tố ấy đến việc thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh.
Với phần lý thuyết, đề tài đã tổng hợp và làm rõ lý thuyết về tiêu dùng bền vững, chính sách tiêu dùng bền vững, các yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững và bài học kinh nghiệm rút ra từ các nước cho Việt Nam. Sau đó, dựa vào các nghiên cứu đi trước nhóm tác giả đã biện luận các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mơ hình nghiên cứu ban đầu bao gồm 6 biến độc lập như sau : Nhận thức, Chất lượng, Truyền thơng, Thu nhập, Xã hội, Hỗ trợ chính phủ.
Nghiên cứu được thực hiện thông qua việc gửi bảng khảo sát đến những người tiêu dùng có tiềm năng. Sau đó, nhóm tác giả sẽ tiến hành phân tích định lượng theo các bước như thống kê mô tả, đánh giá độ tin cậy thang đo (Cronbach’s Alpha), phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy bội để xác định các yếu tố và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh.
Kết quả nghiên cứu đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh như sau: Nhận thức, Hỗ trợ chính phủ, Truyền thơng, Xã hội.
Cuối cùng, nhóm tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm giúp thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh, từ đó giúp Việt Nam theo kịp xu hướng phát triển chung.
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4"><b>LỜI CAM ĐOAN </b>
Nhóm tác giả xin cam đoan rằng bài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu các yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với các mặt hàng tiêu dùng nhanh” là kết quả nghiên cứu của chính nhóm tác giả cùng với sự hướng dẫn của TS. Phạm Văn Kiệm. Mọi tài liệu và tri thức trong bài nghiên cứu này đều được thu thập và sử dụng một khách quan, trung thực. Nhóm xin chịu trách nhiệm nếu có vấn đề gì xảy ra.
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5"><b>LỜI CẢM ƠN </b>
Để thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu các yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với các mặt hàng tiêu dùng nhanh” nhóm tác giả đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ, lời động viên của thầy cô và các bạn học. Bài nghiên cứu được hoàn thành dựa trên sự tham khảo các trang báo đài, sách, báo chuyên ngành của nhiều tác giả ở các trường Đại học, học tập kinh nghiệm từ các kết quả nghiên cứu liên quan cùng với sự khảo sát thực tế trên đối tượng của bài nghiên cứu. Nhóm tác giả cũng lựa chọn có chọn lọc các loại thông tin cũng như tài liệu để đảm bảo những lý luận và phân tích dựa trên cái xác thực và đã được chứng minh.
Trước hết, chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS. Phạm Văn Kiệm – người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã luôn dành nhiều thời gian, cơng sức tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ và động viên chúng em trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và hồn thành đề tài nghiên cứu khoa học. Chúng em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Thương Mại, Ban chủ nhiệm và toàn thể giảng viên Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ chúng em trong q trình học tập và nghiên cứu.
Nhóm nghiên cứu cũng gửi lời cảm ơn chân thành tới các anh chị, các bạn học, người thân đã quan tâm và thực hiện khảo sát ý kiến – một trong những yếu tố quan trọng để hoàn thành nghiên cứu.
Mặc dù trong quá trình nghiên cứu cũng như hoàn thành bản kế hoạch chúng em đã cố gắng rất nhiều, nhưng trong đề tài nghiên cứu khoa học này khơng tránh khỏi những thiếu sót và có khả năng cịn sai lầm. Chúng em kính mong Quý thầy cô, các chuyên gia, các cán bộ quản lý, những người quan tâm đến đề tài và bạn bè thơng cảm và tiếp tục có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hồn thiện hơn.
Một lần nữa nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 3 năm 2024
<b>Nhóm tác giả </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6"><b>MỤC LỤC </b>
<b>TÓM LƯỢC ... i </b>
<b>LỜI CAM ĐOAN ... ii </b>
<b>LỜI CẢM ƠN ... iii </b>
<b>CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ... 1 </b>
<b>1.1 Tính cấp thiết của đề tài ... 1 </b>
<b>1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ... 2 </b>
<b>1.3 Xác định khoảng trống nghiên cứu ... 15 </b>
<b>1.4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu ... 15 </b>
<b>1.5 Câu hỏi nghiên cứu ... 16 </b>
<b>1.6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ... 16 </b>
<b>1.7 Phương pháp nghiên cứu ... 17 </b>
<b>1.7.1 Thu thập dữ liệu nghiên cứu ... 17 </b>
<b>1.7.2 Phương pháp phân tích và xử lí dữ liệu ... 17 </b>
<b>1.8 Ý nghĩa đề tài ... 18 </b>
<b>1.9 Kết cấu đề tài ... 18 </b>
<b>CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC CHÍNH SÁCH TIÊU DÙNG BỀN VỮNG ĐỐI VỚI MẶT HÀNG TIÊU DÙNG NHANH. ... 20 </b>
<b>2.1 Tiêu dùng bền vững ... 20 </b>
<b>2.1.1. Khái niệm, nội dung của tiêu dùng bền vững ... 20 </b>
<b>2.1.2 Ý nghĩa của tiêu dùng bền vững ... 21 </b>
<b>2.2. Tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh. ... 24 </b>
<b>2.2.1. Khái niệm, nội dung của tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh và chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh ... 24 </b>
<b>2.2.2. Ý nghĩa của tiêu dùng bền vững và chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh ... 26 </b>
<b>2.2.3 Tiêu chí đánh giá thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững – Mơ hình và giả thuyết nghiên cứu ... 31 </b>
<b>2.3. Chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh ... 36 </b>
<b>2.3.1. Một số chính sách về tiêu dùng bền vững của các quốc gia và các doanh nghiệp đã thực hiện trên thế giới ... 36 </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7"><b>2.4. Tình hình áp dụng chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng </b>
<b>2.5 Kinh nghiệm và bài học rút ra cho Việt Nam ... 65 </b>
<b>2.5.1 Kinh nghiệm và bài học rút ra cho Chính phủ Việt Nam ... 65 </b>
<b>2.5.2. Kinh nghiệm và bài học rút ra cho doanh nghiệp ... 67 </b>
<b>2.5.3. Kinh nghiệm và bài học rút ra dành cho người tiêu dùng ... 68 </b>
<b>CHƯƠNG III: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ... 70 </b>
<b>3.1 Phương pháp nghiên cứu ... 70 </b>
<b>3.2 Quy trình nghiên cứu ... 70 </b>
<b>3.3 Bảng tóm tắt các biến quan sát dựa trên các mơ hình nghiên cứu trước đó ... 71 </b>
<b>3.4 Phương pháp chọn mẫu ... 72 </b>
<b>3.5 Phân tích và xử lý dữ liệu ... 72 </b>
<b>3.5.1. Phân tích và xử lý dữ liệu trong nghiên cứu định lượng ... 72 </b>
<b>CHƯƠNG IV: THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ THÚC ĐẨY CHÍNH SÁCH TIÊU DÙNG BỀN VỮNG ĐỐI VỚI MẶT HÀNG TIÊU DÙNG NHANH ... 75 </b>
<b>4.1 Tổng quan về tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh ... 75 </b>
<b>4.2. Thực trạng về tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh ở Việt Nam ... 75 </b>
<b>4.2.1. Khái quát về tình hình và đặc điểm người tiêu dùng của Việt Nam ... 75 </b>
<b>4.2.2. Thực trạng tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh ở Việt Nam ... 76 </b>
<b>4.3. Phân tích kết quả nghiên cứu ... 81 </b>
<b>4.3.1 Thống kê đặc điểm của đối tượng điều tra ... 81 </b>
<b>4.3.2 Kiểm tra kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha ... 83 </b>
<b>4.3.3 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA ... 89 </b>
<b>4.3.4 Kết quả phân tích tương quan PEARSON ... 94 </b>
<b>4.3.5 Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính ... 96 </b>
<b>4.3.6. Kết quả kiểm định sự khác biệt ... 101 </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8"><b>CHƯƠNG V: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY </b>
<b>TIÊU DÙNG BỀN VỮNG ĐỐI VỚI MẶT HÀNG TIÊU DÙNG NHANH ... 104 </b>
<b>5.1. Định hướng, quan điểm của Việt Nam về tiêu dùng bền vững đối với mặt </b>
<b>5.2.4. Nhóm giải pháp về ảnh hưởng của xã hội... 109 </b>
<b>5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo ... 110 </b>
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO ... 112 </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">
<b>DANH MỤC BẢNG </b>
Bảng 2.1: Chi tiêu tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình ... 51
Bảng 2.2: Diễn biến tiêu dùng thực phẩm & đồ uống của hộ gia đình tại Pháp ... 53
Bảng 2.3: Chi tiêu tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình tại Nhật Bản ... 59
Bảng 2.4: Tỷ trọng trong tổng chi phí mua sắm của người tiêu dùng Trung Quốc trên một số sản phẩm/dịch vụ tiêu dùng ... 63
Bảng 3.1 Các biến quan sát dựa trên các mơ hình nghiên cứu trước đó ... 72
Bảng 4.1: Thống kê kết quả khảo sát ... 83
Bảng 4.2: Bảng kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo “Nhận thức” ... 84
Bảng 4.3: Bảng kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo “Chất lượng” ... 85
Bảng 4.4: Bảng kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo “Truyền thông” ... 86
Bảng 4.5: Bảng kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo “Thu nhập” ... 87
Bảng 4.6: Bảng kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo “Xã hội” ... 87
Bảng 4.7: Bảng kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo “Chính phủ” ... 88
Bảng 4.8: Bảng kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo “Thúc đẩy chính sách” ... 89
Bảng 4.9: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett's các biến độc lập ... 90
Bảng 4.10: Kết quả phân tích nhân tố khám phá ... 90
Bảng 4.11: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett’s biến phụ thuộc ... 93
Bảng 4.12 Kết quả phân tích nhân tố khám phá cho biến phụ thuộc ... 93
Bảng 4.13 Hệ số tương quan PEARSON giữa các biến ... 94
Bảng 4.14: Mức độ giải thích của mơ hình hồi quy lần 1 ... 96
Bảng 4.15: Mức độ phù hợp của mơ hình hồi quy lần 1 ... 97
Bảng 4.16: Kết quả của mơ hình hồi quy lần 1 ... 97
Bảng 4.17: Mức độ giải thích của mơ hình hồi quy lần 2 ... 98
Bảng 4.18: Mức độ phù hợp của mơ hình hồi quy lần 2 ... 98
Bảng 4.19: Kết quả của mơ hình hồi quy lần 2 ... 99
Bảng 4.20: Kiểm định T - test cho biến giới tính ... 101
Bảng 4.21: Kiểm định Levene về thu nhập hàng tháng ... 101
Bảng 4.22: Kết quả kiểm định phương sai Oneway Anova thu nhập hàng tháng ... 102
Bảng 4.23: Kiểm định Levene về tần suất sử dụng ... 102
Bảng 4.24: Kết quả kiểm định phương sai Oneway Anova tần suất sử dụng ... 102
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">Bảng 4.25: Kiểm định T - test cho biến hiểu biết ... 103 Bảng 4.26: Kiểm định Leneve về thu nhập hàng tháng ... 103
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11"><b>DANH MỤC VIẾT TẮT</b>
<b>STT Từ viết tắt Nguyên nghĩa tiếng anh Nguyên nghĩa tiếng việt </b>
1 SCP Sustainable Consumption and
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình
6 KMO Kaiser–Meyer–Olkin Chỉ số để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố
7 EFA Exploratory Factor Analysis Phương pháp phân tích nhân
11 GDP Gross domestic product Tổng sản phẩm nội địa 12 OECD Organization for Economic
Cooperation and Development
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">13 VAT Value-Added Tax Thuế giá trị gia tăng 14 CE Circular Economy Kinh tế tuần hoàn
15 SMEs Small and Medium Enterprise Liên doanh nghiệp vừa và nhỏ 16 CIEM Central Institute for Economic
Management
Viện kinh tế quản lý trung ương (CIEM)
17 FEM Fixed Effect Model Mơ hình hiệu ứng cố định 18 REM Random Effect Model Mơ hình hiệu ứng ngẫu nhiên 19 SDGs Sustainable Development
Goals
Mục tiêu phát triển bền vững
20 CPI Consumer price index Chỉ số giá tiêu dùng
Hội
23 PCBs Polychlorinated biphenyls
24 R&D Research and Development Đầu tư và phát triển 25 ESG Environmental, Social and
Hiệp hội Môi trường Nhật Bản
hội quốc gia
30 GHG Greenhouse gas emissions Phát thải khí nhà kính
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">31 PSA Nông nghiệp bền vững
Đĩa CD chứa dữ liệu chỉ đọc
35 TGL Thailand Green Label Nhãn xanh Thái Lan
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14"><b>CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài </b>
Khái niệm tiêu dùng bền vững được Chương trình Mơi trường Liên Hợp Quốc định nghĩa là: “Tiêu dùng bền vững là việc sử dụng các dịch vụ và sản phẩm có liên quan để đáp ứng các nhu cầu cơ bản và mang lại một cuộc sống tốt hơn, đồng thời giảm thiểu sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguyên liệu độc hại cũng như giảm thiểu phát thải trong suốt vòng đời sản phẩm, sao cho không làm tổn hại đến việc thỏa mãn các nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy toàn cầu đang phải đối mặt với một bất cập lớn đó là: Nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng vượt quá sức cung của thị trường, trong khi các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang dần cạn kiệt, biến đổi khí hậu, hiệu ứng nhà kính, ... đang diễn ra ngày càng phức tạp. Do vậy, tiêu dùng bền vững đã, đang và sẽ trở thành mục tiêu phát triển của các quốc gia trên thế giới. Vì vậy việc đưa ra các chính sách giúp thúc đẩy tiêu dùng bền vững nhằm phát triển đất nước là một điều tất yếu.
Song song với sự phát triển của nhân loại, nền kinh tế tăng trưởng ngày càng nhanh cùng với lối sống hiện đại, lành mạnh, ... các mặt hàng tiêu dùng nhanh đang ngày một chiếm phần lớn trong các mặt hàng tiêu dùng. Theo khảo sát của Consumer Outlook 2023 được tiến hành bởi NIQ, khoảng 80% người tiêu dùng trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương có khả năng thay đổi sở thích mua sắm của họ trong năm 2023. Tại Việt Nam, xu hướng này thể hiện rõ đối với ngành tiêu dùng nhanh (FMCG). Kết quả điều tra của Công ty Nielsen Việt Nam công bố tại Hội thảo “Chiến lược gắn với với phát triển xanh” do cục Xúc Tiến Thương Mại - Bộ Công Thương tổ chức cho thấy, người tiêu dùng Việt Nam đang ngày càng quan tâm đến vấn đề “xanh” và “sạch”, ho sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho các thương hiệu có cam kết “xanh” và “sạch”. Cụ thể, có đến 86% người tiêu dùng Việt sẵn sàng chi trả cao hơn cho sản phẩm đến từ thương hiệu có ảnh hưởng tích cực đến xã hội và mơi trường.
Với tình hình đó, chính phủ và các doanh nghiệp cũng sẽ đưa ra các chính sách liên quan đến tiêu dùng bền vững, nhất là tiêu dùng bền vững về mặt hàng tiêu dùng nhanh. Các chính sách này trực tiếp tác động làm thay đổi hành vi của doanh nghiệp và của người tiêu dùng trong việc sản xuất và tiêu dùng bền vững, giúp giảm thiểu các chất thải, ô nhiễm môi trường, ...Vậy những yếu tố nào tác động và thúc đẩy những chính sách đó? Ngành hàng tiêu dùng nhanh thời gian qua đã có sự tăng trưởng vượt
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">bậc. Theo một số nghiên cứu, có sự chuyển biến tích cực này là do những thay đổi trong hành vi, sở thích, nhu cầu của người tiêu dùng, các yếu tố về môi trường vĩ mô như lạm phát, hay sự thay đổi trong ưu tiên mua sắm của người tiêu dùng cũng có khả năng ảnh hưởng, thúc đẩy đến các chính sách. Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế còn tồn tại, các yếu tố thúc đẩy chính sách chưa thực sự được quan tâm bởi các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Các nghiên cứu phần lớn chỉ nghiên cứu đến những chính sách đã được đưa ra, phân tích, trình bày quan điểm về chính sách, trong khi đó các yếu tố thúc đẩy, ảnh hưởng đến các chính sách này vẫn chưa được nghiên cứu cụ thể.
<b>Từ những lý do nêu trên, nghiên cứu Đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với các mặt hàng tiêu dùng nhanh” để tìm hiểu </b>
rõ hơn những vấn đề được đề cập ở trên cũng như đưa ra hàm ý các yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững nhằm giúp chính phủ và doanh nghiệp cải thiện những chính sách hơn trong thời gian tới.
<b>1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu </b>
<i><b>1.2.1 Tổng quan các nghiên cứu đã công bố quốc tế </b></i>
<b>1. Daniel Fischer, Tina Bohme, Sonja M. Geiger (2017). Measuring Young Consumers’ Sustainable Consumption Behavior: Development and Validation of the YCSCB Scale, Young Consumers, 18(3), 312 -326: Trong bài nghiên cứu này có </b>
những phát hiện quan trọng về hành vi tiêu dùng bền vững của người tiêu dùng mà đối tượng nghiên cứu chính ở đây là giới trẻ. Thứ nhất, trong bài nghiên cứu sẽ trình bày một thang đo tổng hợp được xây dựng rõ ràng cho thanh thiếu niên và bối cảnh tiêu dùng của họ. Thứ hai là đề xuất một phương pháp phỏng đoán để phát triển các phép đo phức tạp hơn về SCB trong số những người tiêu dùng trẻ tuổi tập trung vào các hành vi, định hướng tác động về tính bền vững. Mục đích của nghiên cứu này là thúc đẩy tiêu dùng bền vững ở người tiêu dùng là giới trẻ và là ưu tiên hàng đầu chương trình nghiên cứu trong các lĩnh vực khác nhau như giáo dục phát triển bền vững, tâm lý mơi trường và chính sách tiêu dùng. Tiến bộ trong lĩnh vực này đã bị cản trở bởi thiếu các công cụ nghiên cứu tinh vi có khả năng đo lường hành vi tiêu dùng có liên quan cả về tác động bền vững và sự phù hợp của chúng đối với thanh thiếu niên. Nghiên cứu này đề cập khoảng cách nghiên cứu này và đưa ra một thang đo cho sự bền vững của người tiêu dùng trẻ hành vi tiêu dùng (YCSCB) trong lĩnh vực thực phẩm và quần áo.
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16"><b>2. Ksenija Kuzmina, Sharon Prendeville, Dale Walker, Fiona Charnley (2019). Future scenarios for fast-moving consumer goods in a circular economy: </b>
Nghiên cứu này thông qua phương pháp lập kế hoạch quy nạp, các kịch bản tương lai của ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) trong bối cảnh tuần hoàn kinh tế (CE). Nghiên cứu sử dụng phương pháp lập kế hoạch kịch bản mang tính khám phá, một cách tiếp cận quy nạp để thu hút các tổ chức ngành tiêu dùng nhanh, chuyên gia CE, người dùng cuối và các bên liên quan trong lĩnh vực học thuật khám phá tương lai của ngành hàng tiêu dùng nhanh trong bối cảnh CE. Năm kịch bản trong tương lai có thể hình thành tầm nhìn cho tương lai của ngành hàng tiêu dùng nhanh đã được phát triển: (1) Rửa sạch và tái sử dụng, (2) Chu kỳ sử dụng nguyên liệu nguyên chất, (3) Sự trỗi dậy của nhà bán lẻ tuần hoàn, (4) Một thế giới khơng có Siêu thị và (5) Cuộc sống kết nối. Việc phân tích và thảo luận về các kịch bản xem xét cách tạo ra giá trị trong nền kinh tế tuần hồn và vai trị không thể thiếu của người tiêu dùng và công nghệ thơng tin trong đó. Nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết sâu sắc về cách ngành ngành hàng tiêu dùng nhanh có thể tham gia vào CE và làm như vậy sẽ cung cấp cơ sở cho nghiên cứu sâu hơn trong lĩnh vực này. Các lĩnh vực nghiên cứu trong tương lai sẽ được vạch ra.
<b>3. Srinath Srinivasan, Wen F. Lu (2014). Development of a Supporting Tool for Sustainable FMCG Packaging Designs: Nhựa là một thành phần phổ biến có </b>
trong hầu hết bao bì của mặt hàng tiêu dùng nhanh (FMCG). Tuy nhiên, nhựa có thể gây ra mối đe dọa đáng kể cho mơi trường. Vì các gói hàng FMCG có đặc điểm là thời hạn sử dụng ngắn và tỷ lệ biến dạng cao nên bao bì FMCG đang gây ra lượng ô nhiễm nhựa khổng lồ. Mặt khác, các công ty cố gắng tạo sự khác biệt cho bao bì FMCG của họ thơng qua việc tạo ra giá trị từ trải nghiệm của người tiêu dùng và chất lượng sản phẩm. Vì vậy, bài báo chỉ ra việc phát triển một công cụ hỗ trợ để giúp các kỹ sư thiết kế đánh giá thiết kế đảm bảo sự cân bằng giữa tác động mơi trường, chi phí vật liệu và việc tạo ra giá trị của bao bì FMCG và so sánh thiết kế bao bì định lượng trong thuật ngữ 'hiệu quả' và 'bền vững'.
<b>4. Ping Wang, Qian Liu, Yu Qi: Factors influencing sustainable consumption behaviors: A survey of the rural residents in China; Journal of Cleaner Production: Nghiên cứu này tập trung phân tích chi tiết về thực trạng, đặc </b>
điểm và quan trọng nhất là quá trình ra quyết định về hành vi tiêu dùng bền
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">vững(SCB) của người dân nông thôn ở Trung Quốc. Dựa trên phân tích mơ tả, thấy được thực trạng SCB của người dân nông thôn và các yếu tố ảnh hưởng, bao gồm ý định hành vi, kiến thức về môi trường, nhận thức về hậu quả, trách nhiệm môi trường, giá trị mơi trường, nhận thức kiểm sốt hình vi, hiệu quả ứng phó, độ nhạy cảm với mơi trường và cả các yếu tố ngữ cảnh. Nghiên cứu này có ý nghĩa hữu ích cho các chính sách cơng; cho thấy rằng kiến thức liên quan không đầy đủ sẽ cản trở việc thực hiện các hành vi tiêu dùng bền vững và hành vi đó càng địi hỏi nhiều kiến thức và khả năng thì hành vi đó ít xảy ra, điều này được giải quyết thông qua giáo dục.
<b>5. Thanh Tiep Le, Alberto Ferraris, Bablu Kumar Dhar (2023), The contribution of circular economy practices on the resilience of production systems: Eco-innovation and cleaner production's mediation role for sustainable development: Bài nghiên cứu cho biết các vấn đề môi trường như ô nhiễm, cạn kiệt </b>
tài nguyên thiên nhiên và mất cân bằng sinh thái ngày càng trầm trọng dẫn đến nhu cầu về các sản phẩm thân thiện với môi trường ngày càng tăng, từ góc độ tiêu dùng (Ma et al., 2021). Các doanh nghiệp muốn đạt được sự bền vững thì phải cân bằng lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường (Laurell và cộng sự, 2019). Sự đổi mới sinh thái, sản xuất sạch hơn và các thực hành kinh tế tuần hoàn là những yếu tố chính để giải quyết các thách thức về tính bền vững. Phát hiện chính của nghiên cứu này cho thấy rằng việc áp dụng các thực tiễn kinh tế tuần hồn tồn diện từ văn hóa đến các lĩnh vực liên quan đến hoạt động kinh doanh có thể thúc đẩy đổi mới sinh thái và sản xuất sạch hơn, tạo ra một hệ thống sản xuất linh hoạt.
<b>6. Ming - Lang Tseng, Anthony S.F. Chiu, Dong Liang (2017), Sustainable consumption and production in business decision-making models, Resources, Conservation and Recycling, Volume 128, 2018, pp. 118-121: Bài nghiên cứu này </b>
đề cập đến sản xuất và tiêu dùng bền vững (SCP) trong mơ hình ra quyết định kinh doanh bằng cách xem xét các phương pháp, thực tiễn và cơ hội mới. Bài viết trình bày và phân tích các nỗ lực phát triển bền vững từ trên xuống cũng như nỗ lực từ dưới lên về các mơ hình, nhận thức của khách hàng, mơ hình ra quyết định kinh doanh và các phương pháp giải pháp đề xuất. Bài nghiên cứu này thảo luận về các thuộc tính hoạt động ra quyết định kinh doanh, tiêu dùng bền vững và thực tiễn sản xuất cũng như về đánh giá và các phương pháp thực tế. Tác giả chỉ ra rằng SCP không chỉ đơn thuần là
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">nỗ lực từ trên xuống (chính phủ, các ngành công nghiệp và doanh nghiệp). Đúng hơn là những nỗ lực từ dưới lên (doanh nghiệp, ngành công nghiệp và chính phủ).
<b>7. Cindy ISenhour, Mari Martiskainen, Lucie Middlemiss (2019), Power and politics in sustainable consumption research and practice, Nhà xuất bản: Routledge, 2019: Nghiên cứu này nghiên cứu tiêu dùng bền vững từ khắp nơi trên thế </b>
giới, trình bày các minh họa thực nghiệm và lý thuyết về các phương tiện khác nhau mà qua đó chính trị và quyền lực ảnh hưởng đến các thực tiễn, chính sách và quan điểm về tiêu dùng bền vững. Cuốn sách cung cấp các ví dụ thực nghiệm và lý thuyết về các phương pháp khác nhau thông qua đó chính trị và quyền lực ảnh hưởng đến các thực hành, chính sách và quan điểm về tiêu dùng bền vững. Các chương trong bộ sưu tập này thu hút sự chú ý đến vai trò của quyền lực và chính trị trong việc xây dựng và tái sản xuất xu hướng tiêu dùng hiện đại cũng như sự cần thiết phải xem xét các vấn đề công bằng và quyền lực ngay từ đầu, sự khởi đầu của chính sách và thực tiễn bền vững. Cuốn sách khám phá những cách thức đa dạng và phổ biến mà chính trị và năng lượng đã được khái niệm hóa trong nghiên cứu tiêu dùng bền vững, ngang bằng đặc biệt là khi ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu và thực hành nhận ra những giới hạn của các cách tiếp cận thống trị truyền thống đối với tiêu dùng bền vững. Trong cuốn sách này phản đối mạnh mẽ việc coi tiêu dùng bền vững là một vấn đề của sự lựa chọn cá nhân, có thể được giải quyết bằng thị trường hoặc bằng công nghệ.
<b>8. Jing Shao, Marco Taisch, Miguel Ortega Mier (2016), “Influencing factors to facilitate sustainable consumption: from the experts’ viewpoints”, Journal of Cleaner Production xxx (2016), pp: 1-14 Lê Thị Thu Hiền (2019) Các công cụ kinh tế trong chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững, Luận án tiến sĩ kinh tế: Nghiên cứu này đề xuất một tập hợp các thuộc tính bền vững ở cấp độ sản </b>
phẩm nhằm nắm bắt các yếu tố ảnh hưởng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hành vi tiêu dùng bền vững và đóng vai trị là người hỗ trợ trong khn khổ Thái độ- Người hỗ trợ- Cơ sở hạ tầng (AFI). Phương pháp khảo sát được áp dụng để thu được những hiểu biết sâu sắc từ các chuyên gia làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu học thuật và những người thực hành, đồng thời bài tập đánh giá của chuyên gia được sử dụng để đánh giá tầm quan trọng và khả năng ứng dụng của các thuộc tính. Dữ liệu nhận được từ các cuộc khảo sát cho thấy rõ ràng rằng người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến tác động xã hội của sản phẩm trong giai đoạn sản xuất và yêu cầu nhiều thông tin liên quan hơn.
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">Nghiên cứu này có thể đóng vai trị là nghiên cứu cơ bản để phát triển các chính sách cơng hoặc chính sách cơng nghiệp liên quan và góp phần vào lĩnh vực phát triển phương pháp chuyển đổi thông tin từ sản xuất sạch hơn sang tiêu dùng bền vững. Bằng cách cung cấp thông tin về tác động xã hội và môi trường của sản phẩm trong giai đoạn sản xuất tới người tiêu dùng, bài viết này đề xuất các thuộc tính để giải quyết khoảng cách chuyển đổi thông tin. Với sự nhấn mạnh vào việc đáp ứng lợi ích của người tiêu dùng, tác động xã hội liên quan đến sức khỏe và sự an toàn của nhân viên và khách hàng.
<b>9. Lucie Middlemiss (2018), Sustainable Consumption: Key Issues (Key Issues in Environment and Sustainability), Nhà xuất bản: Routledge, 2018: Cuốn </b>
sách này bắt đầu với việc nói lên tầm quan trọng của tiêu dùng bền vững, xu hướng tiêu dùng hiện tại có tác động mạnh mẽ đến mơi trường. Tiếp đến, tác giả giải thích hành vi tiêu dùng trong xã hội của người tiêu dùng, nó có liên kết với một loại các nguyên tắc và cách tiếp cận trong khoa học xã hội. Ví dụ như sự khác biệt xã hội (giới tính, tầng lớp, tuổi tác, nguồn gốc dân tộc, tình trạng khuyết tật, vị trí địa lý) là rất quan trọng, tác động cả tâm lý lẫn vật chất cho việc tiêu dùng bền vững. Khi cá nhân bị đe dọa bởi các vấn đề mơi trường thì họ mới hành động, đưa giả định tính ích kỷ của con người là nguyên nhân cho tiêu dùng không bền vững khi mà họ nhận thức được nhưng trong thực tiễn chưa thực hiện được. Ngoài ra, bài viết còn nghiên cứu đến mối quan hệ giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, giữa tiêu dùng bền vững với hành động tập thể để từ đó đưa ra chính sách, giải pháp giải quyết, phác thảo tầm nhìn cho tương lai, chống gây hại cho môi trường.
<b>10. A report to the Sustainable Development Research Network “Motivating Sustainable Consumption”, 01/2005: Hành vi của người tiêu dùng, những hành động </b>
mà họ lựa chọn và thực hiện, đều có tác động tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trường cũng như đời sống của chính họ. Đây là lý do tiêu dùng bền vững trở thành trọng tâm trong chính sách quốc gia và quốc tế. Bài nghiên cứu chỉ ra những yếu tố dẫn đến lựa chọn hành vi tiêu dùng, khi nào mọi người hành động theo hướng bảo vệ môi trường và làm thế nào để khuyến khích, tạo điều kiện cho lối sống bền vững. Sau đó, người nghiên cứu chỉ ra chính sách của chính phủ như đưa ra thay đổi về giá; nâng cao tầm quan trọng của các chuẩn mực, sự gắn kết xã hội; các chính sách được đề ra cũng phải đảm bảo được tiến hành nhất quán, chặt chẽ, áp dụng chung cho tập thể.
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20"><b>11. Catriona Tassell, Marco Aurisicchio (7/2023). Refill at home for fast-moving consumer goods: Uncovering compliant and divergent consumer behaviour. Người tiêu dùng hàng tiêu dùng nhanh đã quen với văn hóa tiện lợi dùng </b>
một lần, hình thành các thói quen đi ngược lại với việc tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu. Bởi vì các khái niệm nạp lại, ngành hàng tiêu dùng nhanh đang vượt ra ngoài khả năng dùng một lần và tái chế của bao bì và sản phẩm để xem xét các giải pháp tái sử dụng lâu dài hơn, bền bỉ hơn. Nếu được thực hiện như dự định, việc tái sử dụng có khả năng làm giảm cường độ sử dụng vật liệu so với việc thải bỏ hoặc tái chế. Bài nghiên cứu này đi sâu vào khám phá cách người tiêu dùng xử lý các nguồn nguyên liệu trong các sản phẩm tái sử dụng thông qua phương pháp chuỗi hành vi. Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng để lại một số hạn chế khi chưa xác định rõ ràng được những hành vi chung nhất và các yếu tố tác động đến việc người tiêu dùng xử lý các nguồn nguyên liệu trong các sản phẩm tái sử dụng.
<b>12. Sustainable packaged food and beverage consumption transition in Indonesia: Persuasive communication to affect consumer behavior (10/2020): </b>
Trong bài nghiên cứu có đề cập đến chuyển đổi tiêu dùng bền vững (SCT) là một quá trình chuyển đổi từ khơng bền vững sang bền vững bao gồm sự thay đổi về quan điểm, lập trường và chiến thuật của người tiêu dùng và cơ quan quản lý đồng thời tập trung vào chất lượng cuộc sống. Và việc các sản phẩm và bao bì bền vững có đến được với người tiêu dùng hay khơng phụ thuộc đáng kể vào q trình từ mua đúng sản phẩm đến quản lý ý thức bảo vệ môi trường của họ. Nghiên cứu này sẽ trình bày lý thuyết về hiện đại hóa sinh thái, quản lý chuyển đổi và truyền thông thuyết phục nhằm giải quyết quá trình chuyển đổi tiêu dùng bền vững. Đồng thời đề xuất một bộ bốn khía cạnh và mười bốn tiêu chí hợp lệ bằng phương pháp Delphi. Kết quả nghiên cứu cho thấy giao tiếp thuyết phục là yếu tố hiệu quả nhất trong việc thuyết phục người tiêu dùng chuyển sang tiêu dùng bền vững. Các yếu tố quan trọng khác cho quá trình chuyển đổi này bao gồm giáo dục người tiêu dùng, nâng cao kiến thức và thay đổi thái độ của họ đối với tiêu dùng bền vững. Thân thiện với môi trường, ghi nhãn sản phẩm, đưa ra lập luận về tính xác thực, tái sử dụng và tái chế sản phẩm là những giải pháp được tìm thấy trong nghiên cứu này.
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21"><b>13. Yan Li, Yi Lu, Xiyue Zhang, Leping Liu, Minghan Wang, Xiaoqun Jiang (1/10/2016). Propensity of green consumption behaviors in representative cities in China: Hành vi tiêu dùng xanh dựa trên thái độ của người tiêu dùng. Tuy nhiên, có </b>
một khoảng cách giữa họ. Cải thiện thái độ tiêu dùng xanh sẽ ảnh hưởng lớn đến việc chấp nhận tiêu dùng xanh. Nghiên cứu đã phỏng vấn người tiêu dùng ở bốn thành phố đại diện ở Trung Quốc thơng qua bảng câu hỏi nhằm tìm kiếm giải pháp ảnh hưởng đến mức độ sẵn lòng trả tiền cho sản phẩm xanh của người tiêu dùng bằng cách sử dụng hồi quy logistic đa biến. Kết quả cho thấy rằng người tiêu dùng Trung Quốc đã nhận thức được về tiêu dùng xanh ở một mức độ nhất định và mức độ sẵn sàng tiêu dùng xanh bị ảnh hưởng bởi độ tuổi, vị trí, nguồn thông tin và một loạt các yếu tố khác. Nhìn chung, giá thực tế của các sản phẩm xanh ở Trung Quốc vượt quá mức mà người tiêu dùng sẵn sàng trả, khiến sản phẩm xanh có vị thế kém thuận lợi hơn trên thị trường. Mặc dù nghiên cứu đã khảo sát thành công, khám phá được các hành vi tiêu dùng xanh và thái độ của người tiêu dùng của người dân ở bốn thành phố đại diện nhưng nghiên cứu vẫn chưa đưa ra được các giải pháp thúc đẩy hành vi tiêu dùng xanh; kiến nghị các giải pháp về giảm thiểu chi phí sản xuất sản phẩm xanh.
<b>17. “Influencing factors for sustainable design implementation in the front-end of new product development process within the Fast-Moving-Consumer-Goods sector”, Curie Park: Nghiên cứu này xem xét và xác minh các yếu tố ảnh </b>
hưởng đến thiết kế thiết kế bền vững được triển khai trong quá trình phát triển sản phẩm mới trong lĩnh vực hàng tiêu dùng nhanh. Phương pháp nghiên cứu bao gồm nghiên cứu sơ bộ, thiết kế nghiên cứu, thu thập và phân tích dữ liệu. Một nghiên cứu thực nghiệm sẽ xem xét lần lượt từng yếu tố như hỗ trợ từ quản lý cấp cao, tầm nhìn bền vững, thái độ cá nhân, cân bằng tập trung vào tăng trưởng, công cụ bền vững, …và xác định những rào cản tiềm ẩn.
<b>16. The sustainable Development Goals Report 2023, “Ensure sustainable consumption and production patterns”: Đảm bảo mơ hình sản xuất và tiêu dùng bền </b>
vững là chìa khóa để duy trì sinh kế của các thế hệ hiện tại và tương lai. Các chính phủ cần triển khai và thực thi các chính sách và quy định bao gồm các biện pháp như đặc mục tiêu giảm phát sinh chất thải, thúc đẩy thực hành nền kinh tế tuần hồn và hỗ trợ các chính sách mua sắm bền vững. Mối quan tâm của các doanh nghiệp là tìm ra các giải pháp mới cho phép các mơ hình sản xuất và tiêu dùng bền vững. Cần hiểu rõ hơn
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">về tác động môi trường và xã hội của sản phẩm và dịch vụ, cả về vòng đời sản phẩm và cách chúng bị ảnh hưởng khi sử dụng lối sống.
<b>1.2.2 Tổng quan các nghiên cứu đã công bố trong nước </b>
<b>1. Nguyễn Thị Phúc Doang, Nguyễn Văn Đại (2023), Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh – Kinh tế và Quản trị Kinh doanh: Dựa vào các dữ liệu nghiên cứu doanh nghiệp SMEs năm 2011, 2013 và 2015 </b>
do UNU-WIDER cùng với nhóm nghiên cứu trường Đại học Copenhagen, Viện kinh tế quản lý trung ương (CIEM) và Bộ lao Động Thương Binh Xã Hội thực hiện (LĐTBXH), thực hiện các nghiên cứu dữ liệu bảng dựa trên các mô hình hồi quy Pooled OLS, Fixed Effect (FEM), Random Effect (REM). Sau khi tiến hành, kết quả nghiên cứu của mơ hình hồi quy Pooled OLS được cho là hiệu quả hơn cả. Nghiên cứu cho thấy vai trò, sự ảnh hưởng của việc đầu tư đổi mới sáng tạo, lao động, vốn, xuất khẩu, hình thức sở hữu và số năm hoạt động của doanh nghiệp đến phát triển bền vững của doanh nghiệp SMEs. Kết quả nghiên cứu đã góp phần định hướng và đầu tư vào yếu tố mới-đổi mới sáng tạo, cùng với các yếu tố đầu vào truyền thống trong mơ hình phát triển bền vững của doanh nghiệp SMEs tại Việt Nam.
<b>2. Nguyễn Thị Phương Linh, Trần Lê Huy, Nguyễn Ngọc Anh, Trần Thị Dịu: Sự khác biệt giữa các nhóm tiêu dùng Việt Nam về hành vi tiêu dùng bền vững trong bối cảnh đại dịch Covid-19; Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học kinh tế Quốc dân. Nghiên cứu này khám phá sự khác biệt về hành vi tiêu dùng </b>
bền vững giữa các nhóm người tiêu dùng Việt Nam đặt trong bối cảnh đại dịch Covid-19 theo các đặc điểm nhân khẩu học như: giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hơn nhân và thu nhập hàng tháng. Kết quả nghiên cứu cho thấy hành vi tiêu dùng bền vững có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm. Bên cạnh việc khám phá sự khác biệt theo các đặc điểm nhân khẩu học truyền thống (giới tính, độ tuổi và trình độ học vấn), nghiên cứu còn bao gồm một số đặc điểm khác như tình trạng hơn nhân và thu nhập hàng tháng. Các phát hiện được cho là có ý nghĩa trong việc hoạch định chính sách phù hợp và hiệu quả để thúc đẩy thói quen tiêu dùng bền vững. Từ đó, tác giả đề xuất một số chính sách cho doanh nghiệp và chính phủ sao cho phù hợp với từng đặc điểm nhân khẩu học của các nhóm người tiêu dùng khác nhau.
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23"><b>3. Nguyễn Thị Hải Bình, Phạm Thị Thu Hồng: Ảnh hưởng của chính sách thuế xanh đến hành vi tiêu dùng hướng tới sự phát triển bền vững tại Việt Nam; Tạp chí quản lý kinh tế quốc tế số 151. Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của </b>
chính sách thuế xanh đến hành vi tiêu dùng tại Việt Nam. Tiêu dùng xanh đã và đang được coi là yếu tố quyết định của phát triển bền vững. Xu hướng sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường được dự báo sẽ phát triển mạnh trong thời gian tới. Từ khảo sát này, nhận diện đặc điểm nhân khẩu học, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) nhằm mục tiêu đánh giá toàn diện ảnh hưởng của chính sách thuế xanh đến hành vi của người tiêu dùng. Kết quả nghiên cứu cho thấy cách thức mà thuế xanh tác động lên hành vi của người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi ba yếu tố môi trường, xã hội và kinh tế của chính sách thuế xanh; buộc doanh nghiệp phải thay đổi cách thức và hoạt động phù hợp với các quy định mới về mơi trường và ngược lại. Qua nghiên cứu, nhóm tác giả cho rằng chính sách thuế xanh khi được áp dụng cần tính đến các khía cạnh của phát triển bền vững là kinh tế - môi trường - xã hội. Bên cạnh đó, nhận thức về sản phẩm xanh của người tiêu dùng sẽ tạo động lực, thậm chí là áp lực cho sự thay đổi hoạt động của doanh nghiệp và tạo điều kiện để thúc đẩy hành vi tiêu dùng xanh. Có thể kết luận rằng, cách thức DN phản ứng với sự nhận thức của người tiêu dùng về thuế xanh đều mang lại hiệu ứng tích cực đến hành vi tiêu dùng xanh.
<b>4. Bộ Công Thương Việt Nam (6/7/2021). Xu hướng tiêu dùng xanh ngày càng được coi trọng. Hiện nay, người tiêu dùng ngày càng quan tâm tới tiêu dùng </b>
thông minh, bền vững, cũng như những sản phẩm, dịch vụ thân thiện với môi trường ngay từ khâu sản xuất đến tiêu thụ và sử dụng sản phẩm. Trước bối cảnh dịch Covid-19, người dân các và nhà đầu tư đã chuyển dần thói quen mua sắm bằng các kênh tiêu dùng “xanh” và ưu tiên cho bảo vệ sức khoẻ, tái tạo năng lượng. Tiêu dùng xanh là một nội dung trong Chiến lược tăng trưởng xanh giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050 của Việt Nam. Chiến lược trong giai đoạn này đã khẳng định yêu cầu cấp thiết của việc chuyển đổi phương thức tiêu dùng theo hướng bền vững nhằm bảo vệ và cải thiện chất lượng mơi trường, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu
<b>5. Vũ Khuê (2023), “Sản xuất và phân phối sản phẩm bền vững vấp phải nhiều rào cản”, Tạp chí điện tử Vneconomy. Việc thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng </b>
bền vững vẫn còn hạn chế về sản xuất, phân phối sản phẩm thân thiện môi trường đến
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">với người tiêu dùng, về duy trì thói quen, hành vi tiêu dùng bền vững… Khó khăn chính là vốn đầu tư cũng như tìm được cơng nghệ phù hợp. Các dẫn chứng chỉ ra rằng cần phải có nguồn lực lớn để hỗ trợ toàn bộ cơ sở, đổi mới phương thức sản xuất xanh, liên kết chặt chẽ từng khâu sản xuất - phân phối - tiêu dùng. Nhưng thách thức lớn nhất là thay đổi hành vi của khách hàng. Hiện nay ở Việt Nam, người tiêu dùng đã dành ra sự quan tâm nhất định tới các sản phẩm thân thiện với môi trường, nhưng nhu cầu sử dụng các sản phẩm này chưa phải quá lớn. Cùng với đó, giá cả vẫn là yếu tố chi phối hàng đầu, với mức giá thành phẩm các nguyên liệu thân thiện môi trường hiện đang chênh lệch tới 30% so với bao bì thơng thường. Vậy nên, bài bào kết luận cần thiết phải chuyển đổi mơ hình kinh tế tuyến tính sang tuần hồn.
<b>6. Bảo Lan (2017), “Người tiêu dùng Việt Nam hướng đến những giá trị bền vững”, Thương hiệu & Công luận ngày 28/04/2017. Bài báo này cho biết rằng: Theo </b>
báo cáo của Nielsen toàn cầu cho thấy rằng, người tiêu dùng Việt Nam đã và đang hình thành thói quen mua sắm theo xu hướng những cam kết từ giá trị bền vững của sản phẩm. Báo cáo điểm qua những yếu tố quan trọng về cam kết bền vững đối với người tiêu dùng ở Việt Nam, như sản phẩm chất lượng cao, sản phẩm tốt cho sức khỏe và lợi ích cho cơ thể cũng như các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên, tươi sống hoặc các thành phần hữu cơ. Bài báo cáo cũng nói về các xu hướng và thái độ của người tiêu dùng tại các quốc gia bao gồm Philippines, Indonesia và Trung quốc, đối với các giá trị bền vững. Nó cũng đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng bao gồm mơi trường, bao bì, giá cả, tiếp thị, ...Và cuối cùng bài báo đưa ra rằng “Sự kết hợp các yếu tố mang tính chất bền vững vào các sản phẩm/ dịch vụ cung cấp cho khách hàng cùng với các mục tiêu nhằm thể hiện trách nhiệm với cộng đồng xã hội sẽ là một phương thức tốt nhất để tăng sự tín nhiệm của khách hàng đối với các sản phẩm mà nhà sản xuất cung cấp đến người tiêu dùng”.
<b>7. Hồ Huy Tựu (2020), Hành vi Tiêu Dùng Bền Vững: Sự Khác Biệt giữa các Nhóm Người Tiêu dùng Việt Nam theo Lý Thuyết Lưỡng Nan Xã hội, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á, số 6/2020. Nghiên cứu này khám phá </b>
sự khác biệt các hành vi tiêu dùng bền vững (tiêu dùng tiết kiệm, hành vi tiêu dùng tốt cho sức khỏe và tuân thủ quy định mơi trường) giữa các nhóm người tiêu dùng Việt Nam. Cách tiếp cận phân nhóm người tiêu dùng dựa theo lý thuyết lưỡng nan xã hội mở rộng. Tìm kiếm các chính sách và giải pháp để hài hịa giữa lợi ích xã hội và cá
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">nhân, giữa lợi ích ngắn hạn và dài hạn là chủ đề trọng tâm đối với lĩnh vực tiêu dùng và phát triển bền vững. Bên cạnh việc lần đầu cung cấp thông tin khoa học về sự khác biệt trong các hành vi tiêu dùng bền vững giữa các nhóm người tiêu dùng trong bối cảnh Việt Nam, nghiên cứu này còn đóng góp thơng qua việc làm nổi bật tính lưỡng nan trong lựa chọn tiêu dùng bền vững của hai nhóm người tiêu dùng Ngắn hạn- Xã hội và Dài hạn- Cá nhân vốn chưa được khám phá trong các nghiên cứu trước đây. Nghiên cứu này cũng khám phá các nhóm người tiêu dùng Việt Nam về các hình vi tiêu dùng bền vững dựa trên sự kết hợp của cặp giá trị tương phản tự hạ thấp và tự nâng cao bản thân và quan điểm thời gian hướng về hiện tại và tương lai từ khung lý thuyết lưỡng nan xã hội mở rộng Nghiên cứu tạo ra các thông tin phục vụ phát triển sản phẩm xanh, thúc đẩy tiêu dùng bền vững nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, an toàn và sức khỏe cho dân cư.
<b>8. Nguyễn Thế Đồng (2013), Sản xuất và tiêu thụ bền vững ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp, bài viết trên Tạp chí mơi trường số 10/2013: bài viết cho </b>
thấy các chính sách phát triển bền vững đã trở thành vấn đề mang tính tồn cầu và cấp thiết trong thời đại ngày nay. Trong những năm vừa qua, Việt Nam cũng đã có những hoạt động về sản xuất và tiêu thụ bền vững thông qua việc ban hành và ký kết các văn bản pháp luật… Tuy nhiên, phát triển bền vững ở nước ta vẫn còn nhiều điểm hạn chế và chưa được quan tâm. Việt Nam chưa được đánh giá cao về trình độ kỹ thuật, cơng nghệ sản xuất, kỹ năng quản lý nhưng các ngành công nghiệp có tiềm năng cao về tiết kiệm nguyên vật liệu, năng lượng và áp dụng các chính sách phát triển bền vững. Vì vậy để triển khai thực hiện hiệu quả các hoạt động và sản xuất tiêu thụ bền vững thì Việt Nam cần hành động và có những mục tiêu cụ thể.
<b>9. Nguyễn Thị Phúc Doang, Nguyễn Văn Đại (2023), Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh – Kinh tế và Quản trị Kinh doanh: Dựa vào các dữ liệu nghiên cứu doanh nghiệp SMEs năm 2011, 2013 và 2015 </b>
do UNU-WIDER cùng với nhóm nghiên cứu trường Đại học Copenhagen, Viện kinh tế quản lý trung ương (CIEM) và Bộ lao Động Thương Binh Xã Hội thực hiện (LĐTBXH), thực hiện các nghiên cứu dữ liệu bảng dựa trên các mơ hình hồi quy Pooled OLS, Fixed Effect (FEM), Random Effect (REM). Sau khi tiến hành, kết quả nghiên cứu của mô hình hồi quy Pooled OLS được cho là hiệu quả hơn cả. Nghiên cứu
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">cho thấy vai trò, sự ảnh hưởng của việc đầu tư đổi mới sáng tạo, lao động, vốn, xuất khẩu, hình thức sở hữu và số năm hoạt động của doanh nghiệp đến phát triển bền vững của doanh nghiệp SMEs. Kết quả nghiên cứu đã góp phần định hướng và đầu tư vào yếu tố mới-đổi mới sáng tạo, cùng với các yếu tố đầu vào truyền thống trong mơ hình phát triển bền vững của doanh nghiệp SMEs tại Việt Nam.
<b>10. Hoàng Thị Bảo Thoa (2016), Nghiên cứu các nhân tố tác động tới mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh của người tiêu dùng Việt Nam, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội: Bài luận cho thấy tiêu dùng </b>
xanh được coi là xu hướng tiêu dùng của thời đại ngày nay, có tầm quan trọng và là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới. Kết quả nghiên cứu cho thấy ý định và hành vi tiêu dùng xanh của người Việt Nam đã có những cải thiện đáng kể, có 4 nhân tố tác động đến mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh: quan tâm tới môi trường, nhận thức về tính hiệu quả, xúc tiến của doanh nghiệp/ độ nhạy của giá và tính sẵn có của sản phẩm. Ngồi ra, giới tính, thói quen mua hàng ở chợ cóc hay thu nhập của gia đình cũng có tác động đến mối quan hệ này. Từ kết quả nghiên cứu trên, bài luận cũng đã đề xuất một số kiến nghị và giải pháp để tăng cường việc tiêu dùng xanh của người tiêu dùng Việt Nam.
<b>11. Lê Minh Ánh (2016), “Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững”, Tạp chí Mơi trường số 2/2016. Bài báo này nói đến Chương </b>
trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong bối cảnh ô nhiễm môi trường gia tăng do tiêu dùng sản xuất. Mục tiêu tổng quát của Chương trình là từng bước thay đổi mơ hình sản xuất và tiêu dùng theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên và năng lượng; tăng cường sử dụng các nguyên vật liệu, năng lượng tái tạo, sản phẩm thân thiện môi trường; giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải; duy trì tính bền vững của hệ sinh thái tại tất cả các khâu trong vòng đời sản phẩm. Một số nhiệm vụ chủ yếu có thể kể đến như xây dựng, hồn thiện chính sách thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững; xanh hoá hệ thống phân phối, chuỗi cung ứng về sản phẩm thân thiện với môi trường; thay đổi hành vi tiêu dùng, thực hiện lối sống bền vững của người tiêu dùng; giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng chất thải.
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27"><b>12. Minh Nguyệt (2017), “Thúc đẩy tiêu dùng và sản xuất xanh thông qua mua sắm công bền vững”, Bnews ngày 01/12/2017. Bài báo đề cập đến Dự án “Thúc </b>
đẩy tiêu dùng và sản xuất sản phẩm xanh thông qua mua sắm công bền vững và nhãn sinh thái” do Chương trình mơi trường Liên hợp quốc tài trợ, thực hiện tại Việt Nam từ 2014-2017. Dự án góp phần nâng cao nhận thức, tăng cường năng lực về mua sắm công bền vững cho các cơ quan quản lý nhà nước, thay đổi phương thức sản xuất cho các doanh nghiệp theo hướng tích cực và nâng cao hiệu quả các chương trình nhãn sinh thái của Việt Nam. Trong bối cảnh nền kinh tế tái cơ cấu hướng tới phát triển bền vững, ứng dụng mua sắm cơng bền vững sẽ góp phần nâng cao chất lượng sản xuất, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên thiên nhiên, an ninh và bình đẳng trong xã hội.
<b>13. “Tiêu dùng bền vững: Hành vi của người tiêu dùng là yếu tố quyết định”, Bộ Công thương Việt Nam ngày 23/11/2017. Nhu cầu tiêu dùng thì càng tăng </b>
trong khi các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt. Điều này gây ra rất nhiều bất ổn như: khoảng cách giàu – nghèo ngày càng lớn; chất lượng môi trường đi xuống đồng nghĩa với chất lượng sống suy giảm; diễn biến của biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp gây ảnh hưởng lớn tới đời sống người dân, …Vì vậy, phương án tối ưu nhất để giải quyết những bất ổn này là tiêu dùng bền vững. Hành vi của người tiêu dùng đóng vai trị quan trọng trong việc phát triển xu hướng tiêu dùng, là chìa khóa cho cơng cuộc bảo vệ tài ngun thiên nhiên, nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo an sinh xã hội. Bài báo chỉ ra một số rào cản liên quan đến hành vi người tiêu dùng và cho rằng khắc phục được những điều này đồng nghĩa với con đường đến với tiêu dùng bền vững sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.
<b>14. Hoàng Thị Bảo Thoa (2016) “Nghiên cứu những nhân tố tác động tới mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh của người tiêu dùng Việt Nam”, Luận án tiến sĩ kinh tế. Đề tài này góp phần trả lời cho câu hỏi tại sao nhiều </b>
người tiêu dùng dù có ý định nhưng khơng có hành vi tiêu dùng xanh thực tế hay tại sao trong trường hợp này ý định tác động mạnh mẽ đến hành vi tiêu dùng xanh, trong trường hợp khác, ở nghiên cứu khác thì ý định lại không ảnh hưởng nhiều tới hành vi tiêu dùng xanh. Các giả thiết nghiên cứu được đặt ra là: ý định có quan hệ thuận với hành vi tiêu dùng xanh; mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh của nam giới mạnh hơn đáng kể so với nữ giới; biến số quan tâm tới mơi trường có tác động tích cực tới mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh; nhận thức về tính hiệu
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">quả của sản phẩm xanh có tác động tích cực tới mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh; thói quen mua sắm ở các chợ cóc làm yếu đi mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh; xúc tiến của doanh nghiệp (bao bì, giá, khuyến mãi, quảng cáo tại quầy) ảnh hưởng tích cực tới mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh; tính khơng sẵn có của sản phẩm ảnh hưởng tiêu cực tới mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh; khó khăn kinh tế ảnh hưởng tiêu cực tới mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh; người tiêu dùng Việt Nam chịu tác động tích cực bởi những ý kiến của người thứ 3.
<b>1.3 Xác định khoảng trống nghiên cứu </b>
Thông qua tổng hợp một số tài liệu nghiên cứu đã được cơng bố, nhóm nghiên cứu đã tìm ra được những khoảng trống nghiên cứu như sau:
<i>Thứ nhất, những nghiên cứu về các nhân tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền </i>
vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh còn bị giới hạn giai đoạn và chưa có tính cập nhật khi mà tiêu dùng bền vững mặt hàng tiêu dùng nhanh đang ngày càng trở thành xu hướng hiện nay. Do đó những kết quả, định hướng và đề xuất kiến nghị của các nghiên cứu đi trước có thể khơng cịn phù hợp với tình hình hiện tại và chưa thể bắt kịp xu hướng và nhu cầu người tiêu dùng.
<i>Thứ hai, các nghiên cứu chỉ tập trung vào phân tích hay nêu quan điểm các chính </i>
sách mà chưa đi sâu vào những yếu tố tác động thúc đẩy đến chính sách đấy như thế nào, đặc biệt là yếu tố quan trọng như nhu cầu của người tiêu dùng.
<i>Thứ ba, các nghiên cứu về các yếu tố tác động đến các chính sách tiêu dùng bền </i>
vững đối với mặt hàng nhanh vẫn cịn khá ít, nhiều bài phân tích chỉ mới nghiên cứu về tổng quan xu thế tiêu dùng bền vững nói chung mà chưa đi sâu về mặt hàng tiêu dùng nhanh.
Từ việc xác định được những khoảng trống nghiên cứu như trên, “Nghiên cứu các yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với các mặt hàng tiêu dùng nhanh” là hoàn toàn cần thiết.
<b>1.4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu </b>
<i>1.4.1 Mục tiêu nghiên cứu </i>
Xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh trong các nghiên cứu đã có từ trước. Tìm hiểu và đề xuất hàm ý thêm những yếu tố thúc đẩy các chính sách tiêu dùng bền vững đối
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">với mặt hàng tiêu dùng nhanh nhằm giúp cải thiện góc nhìn về xu hướng tiêu dùng bền vững.
<i>1.4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu </i>
Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về các yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với các mặt hàng tiêu dùng nhanh.
Phân tích thực trạng thúc đẩy của các yếu tố đối với chính sách tiêu dùng nhanh để đánh giá được mức độ tác động của các yếu tố và sự phát triển của chính sách.
Đề xuất hàm ý một số yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh nhằm cải thiện các chính sách để phục vụ mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.
<b>1.5 Câu hỏi nghiên cứu </b>
<small> Nhận thức là yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng </small> tiêu dùng nhanh hay không?
<small> </small>Chất lượng là yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh hay không?
<small> </small>Truyền thơng sản phẩm là yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh hay không?
<small> Thu nhập là yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng </small> tiêu dùng nhanh hay không?
<small> </small>Ảnh hưởng xã hội là yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh hay khơng?
<small> </small>Hỗ trợ của chính phủ là yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh hay không?
<b>1.6 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu </b>
1.6.1 Đối tượng nghiên cứu
Hiện nay, Việt Nam chỉ ra các yếu tố thúc đẩy các chính sách tiêu dùng bền vững nói chung và tiêu dùng bền vững các mặt hàng tiêu dùng nhanh nói riêng. Tuy nhiên, các yếu tố này chưa được tìm hiểu sâu và phân tích một cách chưa thực sự tồn diện.
<i>Vì thế, đối tượng nghiên cứu của bài nghiên cứu này sẽ là: Các yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với các mặt hàng tiêu dùng nhanh. </i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">1.6.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Bài nghiên cứu tập trung nghiên cứu các yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh trong giai đoạn 2010-2023 khi tiêu dùng bền vững đang trở thành xu hướng.
Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam
Về nội dung: Nghiên cứu các yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với các mặt hàng tiêu dùng nhanh bao gồm: Nhận thức, Chất lượng, Truyền thông, Thu nhập, Xã hội, Hỗ trợ chính phủ.
<b>1.7 Phương pháp nghiên cứu 1.7.1 Thu thập dữ liệu nghiên cứu </b>
<b>Dữ liệu thứ cấp: Bài nghiên cứu sử dụng thông tin và số liệu từ các nguồn </b>
tin cậy như cục Xúc tiến Thương mại - Bộ Công Thương, Báo cáo kinh tế - xã hội, các bài báo chính phủ, … và các bài nghiên cứu, luận văn, luận án, bài báo đã được cơng bố chính thức trên các diễn đàn thơng tin đại chúng nhằm mục đích cung cấp thơng tin chính xác và mới nhất phục vụ cho quá trình tiến hành nghiên cứu.
<b>Dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu được thu thập từ phương pháp khảo sát được thực </b>
hiện bằng cách gửi bảng khảo sát qua email và Internet đến các khách hàng – những người đã, đang và có xu hướng tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh và thu được 315 phiếu khảo sát. Phiếu khảo sát bao gồm các mẫu câu hỏi phục vụ cho mục đích nghiên cứu. Trong đó có 300 phiếu trả lời hợp lệ và đều được dùng để đưa vào q trình phân tích dữ liệu. Nhóm nghiên cứu dùng Excel để tổng hợp dữ liệu.
<b>1.7.2 Phương pháp phân tích và xử lí dữ liệu </b>
Nghiên cứu này vận dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua gửi bảng câu hỏi đến những người quan tâm đến chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh. Dữ liệu thu được từ khảo sát sau đó sẽ tiến hành phân tích định lượng bằng phần mềm SPSS để xác định các nhân tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh.
Các bước tiến hành gồm: Thống kê mô tả, Kiểm định độ tin cậy của các tiêu chí thơng qua hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, Phân tích nhân tố khám phá EFA, Phân tích tương quan Pearson, Sử dụng mơ hình hồi quy tuyến tính để xác định ảnh hưởng của các yếu tố đến chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh.
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31"><b>1.8 Ý nghĩa đề tài 1.8.1 Về lý luận </b>
<i><b>Kết quả nghiên cứu của đề tài “Các yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với các mặt hàng tiêu dùng nhanh” sẽ là cơ sở giúp các nhà nghiên cứu, </b></i>
nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp có góc nhìn cụ thể hơn về các yếu tố thúc đẩy xu hướng tiêu dùng bền vững nói chung và tiêu dùng bền vững mặt hàng nhanh nói riêng, từ đó có thể đưa ra và cải thiện các chính sách tốt hơn. Kết quả nghiên cứu cũng sẽ là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu khác về các lĩnh vực có liên quan
<b>1.8.2. Về thực tiễn </b>
Đề tài nghiên cứu là cơ sở xác định và đánh giá các yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh, tạo điều kiện cho sự phát triển của các chính sách.
Việc đánh giá và tìm hiểu các yếu tố thúc đẩy đến chính sách tiêu dùng bền vững là một điều cần thiết, nhằm bắt kịp xu hướng tiêu dùng, có những phương án linh hoạt và hoàn thiện các chính sách phù hợp với hồn cảnh hiện nay.
<b>1.9 Kết cấu đề tài </b>
Nội dung nghiên cứu được chia thành 5 chương như sau:
<i><b>Chương I: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu </b></i>
Chương I trình bày về tính cấp thiết của đề tài, mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, mô tả tổng quát các phương pháp áp dụng, ý nghĩa và điểm mới của đề tài cũng như bố cục nghiên cứu
<i><b>Chương II: Cơ sở lý luận về lý luận về các chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh </b></i>
Chương trình bày khái niệm, chính sách, cơ sở lý thuyết về các yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh và một số chính sách về tiêu dùng bền vững của các quốc gia và các doanh nghiệp đã thực hiện trên thế giới. Từ đó, rút ra kinh nghiệm và bài học cho Việt Nam.
<i><b>Chương III: Thiết kế nghiên cứu </b></i>
Chương trình bày về câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết và mơ hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu, phương pháp chọn mẫu, xác định kích thước mẫu, đồng thời, phân tích và xử lý dữ liệu.
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32"><i><b>Chương IV: Thực trạng các yếu tố thúc đẩy chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh </b></i>
Chương nêu tổng quan về tiêu dùng bền vững, khái quát thực trạng các yếu tố tác động đến tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng nhanh. Từ đó lựa chọn mơ hình thích hợp diễn giải kết quả; kết luận chấp thuận hay bác bỏ các giả thuyết đã xây dựng.
<i><b>Chương V: Định hướng và giải pháp về chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh </b></i>
Trên cơ sở phân tích kết quả từ chương IV và bối cảnh thực trạng thúc đẩy, nhóm tác giả đề xuất định hướng và một số giải pháp để thúc đẩy các chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng nhanh.
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33"><b>CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC CHÍNH SÁCH TIÊU DÙNG BỀN VỮNG ĐỐI VỚI MẶT HÀNG TIÊU DÙNG NHANH. </b>
<b>2.1 Tiêu dùng bền vững </b>
<b>2.1.1. Khái niệm, nội dung của tiêu dùng bền vững </b>
Khơng có hoạt động tiêu dùng nào được coi là bền vững nếu nó lãng phí trong việc sử dụng tài nguyên, do đó có mối liên hệ trực tiếp giữa hiệu quả tài nguyên và tiêu dùng bền vững. Việc sử dụng bền vững nguồn lực phải được xem xét trong tất cả các giai đoạn của vòng đời sản phẩm: trong thiết kế, sản xuất, việc sử dụng nó thậm chí khi nó hết vịng đời, khi khả năng tái sử dụng hoặc thu hồi các vật liệu khan hiếm được sử dụng trở thành một vấn đề khác biệt và thường mang lại lợi nhuận. Các khái niệm về tiêu dùng bền vững khác nhau dựa trên nhiều yếu tố, bao gồm cả người tạo ra định nghĩa và các ý tưởng khác nhau của các tổ chức.
Tại Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển được tổ chức tại Rio de Janeiro vào năm 1992, sau khi xác định nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng suy thối mơi trường tồn cầu là do sản xuất và tiêu dùng không bền vững. Năm 1994, định nghĩa đầu tiên về SCP được đề xuất “Tiêu dùng bền vững là việc sử dụng các dịch vụ sản phẩm liên quan đáp ứng nhu cầu cơ bản và mang lại chất lượng cuộc sống tốt hơn đồng thời giảm thiểu việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các vật liệu độc hại cũng như lượng phát thải chất thải và chất gây ô nhiễm trong suốt vòng đời của dịch vụ hoặc sản phẩm để không gây nguy hiểm cho nhu cầu của các thế hệ tiếp theo” (Ofstad, 1994).
Mặt khác, theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), tổ chức được thành lập để giúp tăng trưởng kinh tế thông qua thương mại thế giới. Do đó, định nghĩa tiêu dùng bền vững của họ khá thực tế và tập trung vào thương mại và tiêu dùng ở cấp độ hộ gia đình. Họ coi tiêu dùng là “Hoạt động tiêu dùng cuối cùng của các hộ gia đình” và tính bền vững là “ Hiệu quả cao trong việc tiêu thụ năng lượng và tài nguyên trong nhà, giảm thiểu chất thải và thói quen mua sắm thân thiện với môi trường hơn của các hộ gia đình” .
Hơn thế nữa, Chương trình Mơi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) họ lại có một cách tiếp cận khác. Tất cả đều nhằm mục đích cho phép tồn bộ các quốc gia cung cấp cho công dân của họ những cách bền vững. Vì vậy, định nghĩa của họ xem xét khái niệm này từ góc độ chính phủ. Theo đó, năm 2001 UNEP đã đưa ra khái niệm: “ Tiêu
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">dùng bền vững là một thuật ngữ bao trùm một số vấn đề chính như đáp ứng nhu cầu, nâng cao chất lượng cuộc sống, nâng cao hiệu quả, giảm thiểu chất thải, quan điểm vịng đời và tính đến khía cạnh cơng bằng, tích hợp các bộ phận cấu thành này vào câu hỏi trọng tâm làm thế nào để cung cấp các dịch vụ tương tự hoặc tốt hơn nhằm đáp ứng các yêu cầu cơ bản của cuộc sống và khát vọng cải tiến cho cả thế hệ hiện tại và tương lai, đồng thời liên tục giảm thiểu thiệt hại về môi trường và rủi ro đối với sức khỏe con người”. Không chỉ thế, UNEP còn phân biệt giữa tiêu dùng bền vững ở các nước phát triển và các nước đang phát triển. Ở các nước đang phát triển, “Tiêu dùng bền vững sẽ nhắm mục tiêu sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, từ đó mở rộng hiệu quả cơ sở tài nguyên để đáp ứng nhu cầu của con người”. Còn ở các nước phát triển,” Tiêu dùng bền vững trọng tâm là thay đổi mô hình tiêu dùng để giảm thiểu mức sử dụng vật liệu và năng lượng tổng thể, cũng như giảm cường độ trên mỗi đơn vị tiện ích chức năng”.
Sau khi nhóm tác giả tìm hiểu và phân tích những khái niệm của các tổ chức ở trên. Dựa vào những yếu tố và cách tiếp cận đã đưa ra được khái niệm chung cho tiêu
<i>dùng bền vững là “Tiêu dùng bền vững là việc tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ có tác động tối thiểu đối với môi trường, công bằng về mặt xã hội và khả thi về mặt kinh tế, hướng đến tất cả mọi người, ở mọi lĩnh vực và mọi quốc gia, đáp ứng được nhu cầu cơ bản của con người trên toàn thế giới, đảm bảo an sinh xã hội và môi trường bền vững”. </i>
<b>2.1.2 Ý nghĩa của tiêu dùng bền vững </b>
<i>2.1.2.1. Là một xu hướng kinh tế - xã hội </i>
Thế kỷ 21 là thời kỳ có nhiều thay đổi và tiến bộ vượt bậc của nhân loại. Thế giới đã chứng kiến sự gia tăng tồn cầu về dân số, thu nhập trung bình, tỷ lệ tiêu dùng, đơ thị hố, sự tăng trưởng mạnh mẽ trong các hoạt động sản xuất, ...Sự gia tăng này góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế, tạo việc làm, tạo điều kiện đầu tư vào cơ sở hạ tầng công cộng, nâng cao mức sống vật chất cho người dân và giảm mức nghèo đói. Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế và phát triển con người nhanh chóng đã gây áp lực và tác động tiêu cực đến môi trường ngày càng nhiều. Theo báo cáo Circularity công bố vào năm 2020, thế giới đang sử dụng hơn 100 tỷ tấn tài nguyên mỗi năm, gấp 10 lần so với 10 tỷ tấn được ghi nhận vào năm 1950. Sự gia tăng sử dụng tài nguyên đi đơi với sự gia tăng chất thải và khí thải, dẫn đến một loạt ảnh hưởng bao gồm biến đổi
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">khí hậu, suy giảm an ninh và nguồn cung lương thực, khan hiếm nước và ô nhiễm không khí. Vì vậy, cần thiết phải thiết lập lại mơ hình tiêu dùng cũng như sản xuất, đó là tiêu dùng và sản xuất bền vững.
Tiêu dùng không chỉ đơn giản là việc mua sắm và sử dụng mà còn liên quan đến tầm ảnh hưởng đến môi trường và xã hội. Để đáp ứng nhu cầu của 9 tỷ người dân và phát triển xã hội, cần phải tái cơ cấu cơ bản lối sống tiêu dùng hiện tại, bao gồm việc lựa chọn sản phẩm có nguồn gốc bền vững, giảm lượng rác thải, hỗ trợ các doanh nghiệp xã hội. Tăng trưởng kinh tế, phát triển con người và phúc lợi cần được tách biệt đáng kể khỏi việc sử dụng tài nguyên và tác động đến môi trường (UNEP, 2011).
<i>2.1.2.2. Môi trường sẽ giảm khả năng hấp thụ chất thải và khí thải </i>
Q trình trao đổi chất tồn cầu đang phát triển nhanh chóng, ngày càng dẫn đến việc sử dụng quá mức môi trường, tài nguyên. Kể từ năm 1970, các tác động môi trường quan trọng nhất liên quan đến khỉ thải là biến đổi khí hậu (gây ra bởi khí thải nhà kính), phú dưỡng (gây ra bởi sự ô nhiễm môi trường nước với nitơ và phốt-pho) và một số tác động độc hại đến môi trường con người (gây ra bởi ơ nhiễm khơng khí). Việc sử dụng quá mức này cũng trực tiếp dẫn đến sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên khơng thể tái tạo (như nhiên liệu hóa thạch và quặng), nguồn tài nguyên tái tạo (đặc biệt là gỗ và cá), thay đổi sử dụng đất trên quy mô lớn dẫn đến mất môi trường sống. Do đó, vấn đề được đặt ra là tiêu dùng bền vững phải được xây dựng một cách kỹ lưỡng, áp dụng triệt để nhanh chóng nhưng vẫn phải đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, duy trì các tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Giảm thiểu tài nguyên thiên nhiên được sử dụng trong sản xuất, tiêu dùng là giảm chất thải, khí thải lên mơi trường, góp phần tiết kiệm chi phí sản xuất, là chiến lược hấp dẫn đối với các doanh nghiệp. Tiêu dùng bền vững với mục đích “làm nhiều hơn và tốt hơn với ít nguồn lực hơn”, tăng phúc lợi ròng từ các hoạt động kinh tế bằng cách giảm sử dụng tài nguyên, suy thối và ơ nhiễm trong tồn bộ vịng đời, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống.
<i>2.1.2.3. Tăng hiệu quả sinh thái của sản xuất </i>
Mặc dù giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế vẫn là ưu tiên của nhiều quốc gia trên thế giới nhưng mơ hình tăng trưởng hiện nay và tương lai cần phải có sự đổi mới, thiết lập hệ thống cơng nghiệp hố mới để thúc đẩy sự thịnh vượng, cân bằng các động lực kinh tế - xã hội với khả năng mơi trường tồn cầu. Để tiêu dùng bền vững trước hết
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">phải xét đến sản xuất bền vững. Tiềm năng lớn nhất về hiệu quả sinh thái thường tồn tại trong các ngành công nghiệp năng như thép và xi măng, ngành xây dựng và giao thông, một số ít trong ngành nông nghiệp.
Một trong những mục tiêu chính của tiêu dùng bền vững là 'tách rời' tăng trưởng kinh tế và suy thối mơi trường bằng cách tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên trong sản xuất, phân phối và sử dụng sản phẩm, nhằm mục đích duy trì cường độ năng lượng, vật chất và ô nhiễm của tất cả các chức năng sản xuất và tiêu dùng trong phạm vi thực hiện. năng lực của các hệ sinh thái tự nhiên. Sự thay đổi này liên quan đến nhiều bên khác nhau, bao gồm doanh nghiệp, người tiêu dùng, nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà bán lẻ, phương tiện truyền thông và các cơ quan hợp tác phát triển, cùng những người khác. Do đó, nó địi hỏi một cách tiếp cận có hệ thống và sự hợp tác giữa các tác nhân hoạt động trong chuỗi cung ứng, từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng.
Tiêu dùng bền vững được xem xét theo “tư duy vòng đời” để tăng cường quản lý tài nguyên bền vững và đạt được hiệu quả tài nguyên trong cả giai đoạn sản xuất và tiêu thụ. Với cách tiếp cận vòng đời này, các mục tiêu và hành động của tiêu dùng bền vững trở thành đòn bẩy mạnh mẽ để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế hiệu quả sinh thái và biến các thách thức về môi trường và xã hội thành cơ hội kinh doanh và việc làm, đồng thời tách tăng trưởng kinh tế khỏi suy thối mơi trường và ngăn chặn hiệu ứng phục hồi.
<i>2.1.2.4. Giảm thiểu rủi ro kinh tế </i>
Tiêu dùng bền vững tạo ra cơ hội đổi mới và phát triển sản phẩm, dịch vụ mới, giảm rủi ro do sự phụ thuộc vào các nguồn lực không bền vững. Sử dụng sản phẩm và dịch vụ bền vững mặc dù có chi phí ban đầu cao hơn nhưng thường có giá trị lâu dài hơn và địi hỏi ít chi phí sửa chữa hoặc thay thế. Trong thời gian dài, doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng có thể tiết kiệm thêm về chi phí.
Tiêu dùng và sản xuất bền vững là thúc đẩy hiệu quả sử dụng tài nguyên và năng lượng, cơ sở hạ tầng bền vững và cung cấp khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản, việc làm xanh và bền vững cũng như chất lượng cuộc sống tốt hơn cho tất cả mọi người. Việc tiêu dùng bền vững như một cách tiếp cận tổng hợp giúp đạt được các kế hoạch phát triển tổng thể, giảm chi phí kinh tế, mơi trường và xã hội trong tương lai, tăng cường khả năng cạnh tranh kinh tế và giảm nghèo.
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37"><i>2.1.2.5. Thúc đẩy tư duy bền vững </i>
Hành động của người tiêu dùng có thể tạo động lực cho doanh nghiệp thay đổi hướng đi của họ. Khi người tiêu dùng yêu cầu và ủng hộ các sản phẩm và dịch vụ bền vững, doanh nghiệp sẽ phải thích nghi để duy trì sự cạnh tranh. Nhiều doanh nghiệp đã nỗ lực đầu tư sản xuất nhằm cho ra đời những sản phẩm bảo đảm xanh và sạch; xây dựng thương hiệu xanh gắn với phát triển bền vững. Đối với các nước đang phát triển, lối sống này mang đến các cơ hội như tạo ra thị trường mới, việc làm xanh và bền vững (ví dụ: thị trường thực phẩm hữu cơ, thương mại công bằng, nhà ở bền vững, giao thông và du lịch bền vững, năng lượng tái tạo) cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên hiệu quả hơn, tạo ra phúc lợi. Đây cũng là cơ hội để chuyển sang các công nghệ tiết kiệm tài nguyên hơn, thân thiện với môi trường và có tính cạnh tranh hơn.
Tiêu dùng bền vững cũng có thể góp phần xóa đói giảm nghèo và đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Ví dụ như: giảm nhu cầu về nguồn tài nguyên cạn kiệt và do đó tăng tính sẵn có; giảm tác động đến khí hậu thế giới, bảo vệ sinh kế của những người phụ thuộc vào thiên nhiên; sức khỏe được cải thiện do giảm các tác động tiêu cực của khí hậu và mức độ ơ nhiễm khơng khí, nước và trái đất thấp hơn; cải thiện hiệu quả trong sản xuất hàng hóa, dịch vụ cơ bản, từ đó cải thiện khả năng chi trả cho người nghèo; tăng việc làm được tạo ra nhờ các sản phẩm, dịch vụ mới được tạo ra và phương pháp sản xuất mới.
<b>2.2. Tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh. </b>
<b>2.2.1. Khái niệm, nội dung của tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh và chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh </b>
<i>2.2.1.1. Tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh </i>
Mặt hàng tiêu dùng nhanh là những loại hàng hoá tiêu dùng được bán nhanh với giá tương đối thấp. Là những sản phẩm có thời gian sử dụng ngắn, biên lợi nhuận khá nhỏ nhưng thường được bán với số lượng lớn, nhu cầu mua cao và lợi nhuận tích lũy trên các sản phẩm đó khá đáng kể. Một số sản phẩm tiêu dùng nhanh có thể kể đến như: thực phẩm, đồ uống, thực phẩm chức năng, sản phẩm chăm sóc sức khỏe cá nhân, đồ gia dụng, ...và các sản phẩm thiết yếu khác. Mặt hàng tiêu dùng nhanh thường là những sản phẩm giá rẻ, được tiêu thụ hàng ngày trong một khoảng thời gian ngắn và cần rất ít suy nghĩ khi mua hàng (Makhutla, 2014).
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">So với các sản phẩm tiêu dùng nhanh thông thường, việc tiêu dùng bền vững mặt hàng này không chỉ khác nhau ở mức độ thường xuyên được mua và sử dụng mà còn ở bản chất hành vi tiêu dùng, ý định của người tiêu dùng khi đưa ra lựa chọn sản phẩm hoặc những tác động mà họ mong đợi khi mua các sản phẩm này (Giulio và cộng sự, 2014). Theo Niedermeier và cộng sự (2021), tiêu dùng bền vững với mặt hàng tiêu dùng nhanh có thể thay thế tiêu dùng mặt hàng nhanh thơng thường vốn dựa vào tài ngun hóa thạch.
<i>Vì vậy, tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh được hiểu là việc sử dụng các sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng nhanh một cách hiệu quả, đáp ứng được các nhu cầu cần thiết của người tiêu dùng, nhằm hướng đến giảm thiểu tác động xấu đến môi trường, con người và kinh tế-xã hội trong suốt vịng đời của sản phẩm đó. Bên cạnh đó, các hành động đó cịn hỗ trợ cân bằng xã hội và thúc đẩy sự phát triển bền vững của mặt hàng tiêu dùng nhanh. </i>
<i>2.2.1.2. Chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh </i>
Theo James Anderson (2003) cho rằng chính sách là chuỗi những hoạt động mà chính quyền chọn làm hay khơng làm với tính tốn và chủ đích rõ ràng, có tác động đến người dân; hoặc “Chính sách là một q trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề”.
Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa… (theo Từ điển bách khoa Việt Nam, Tái bản lần thứ nhất, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2007).
Theo Vũ Cao Đàm (2011), chính sách là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa của một chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm thúc đẩy đối tượng quản lý thực hiện mục tiêu mà chủ thể quản lý vạch ra trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội. Khái niệm “hệ thống xã hội” được hiểu theo một ý nghĩa khái quát, có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường.
Tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh là việc lựa chọn và sử dụng sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng nhanh một cách có trách nhiệm, nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến kinh tế, môi trường và xã hội; giúp bảo vệ môi trường, đảm bảo
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">cho sức khoẻ của con người và thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nhanh cam kết với tiêu dùng bền vững.
Chính phủ nhiều quốc gia thế giới phải đưa ra những biện pháp, những chương trình, những dự án,... nhằm thay đổi nhận thức, thay đổi hành vi của các chủ thể trong xã hội (cá nhân, tổ chức) trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi hàng hóa nhằm đảm bảo sự thân thiện với mơi trường, giảm thải khí hiệu ứng nhà kính, góp phần bảo vệ môi trường, tức là là chính sách tiêu dùng xanh. Như vậy, chính sách tiêu dùng xanh là tên gọi chung của một nhóm các chính sách kinh tế cụ thể để tác động tới lợi ích và hành vi của người tiêu dùng nhằm khuyến khích, thúc đẩy tiêu dùng xanh, hạn chế và thu hẹp tiêu dùng “nâu” góp phần phát triển kinh tế xanh và thúc đẩy tiêu dùng bền vững. Về nội dung, chính sách tiêu dùng xanh gồm các chính sách nhằm khuyến khích và hỗ trợ các chủ thể tiêu dùng thực hiện mua sắm và sử dụng các sản phẩm xanh (bao gồm cả sản phẩm tái chế) như các chính sách thuế xanh, chính sách giá xanh, chính sách tín dụng tiêu dùng xanh.
<i>Từ đó, có thể hiểu đơn giản rằng chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh là các quan điểm, nguyên tắc, biện pháp thích hợp của một nước dùng để điều chỉnh, khuyến khích hoạt động tiêu dùng các loại sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng nhanh một cách hiệu quả, đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của người tiêu dùng, nhằm hướng đến mục tiêu giảm thiểu tác động xấu đến môi trường, con người và kinh tế - xã hội trong suốt vịng đời của sản phẩm. Các chính sách này được thực hiện thông qua các công cụ thuế, trợ cấp, luật ưu đãi… do chính phủ ban hành với ý nghĩa là để thực hiện được các mục tiêu về kinh tế, môi trường và xã hội của quốc gia đó. </i>
<b>2.2.2. Ý nghĩa của tiêu dùng bền vững và chính sách tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh </b>
<i>2.2.2.1. Ý nghĩa của tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh </i>
<small> Đối với nền kinh tế: </small>
Việc tiêu dùng bền vững các mặt hàng tiêu dùng nhanh là động lực giúp các doanh nghiệp đầu tư vào đổi mới, tạo ra các sản phẩm khơng chỉ ít tác động đến mơi trường mà cịn có chất lượng tốt hơn, ít lãng phí hơn. Hành động này dẫn đến việc giảm chi phí trong dài hạn, do đó tăng tỷ suất lợi nhuận và hiệu quả tài chính. Hơn nữa, các nhà đầu tư, những người ngày càng quan tâm đến xu hướng tiêu dùng toàn
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">cầu, sẽ có xu hướng dễ dàng đầu tư hơn vào các công ty cam kết theo hướng đi: chuyển đổi năng lượng và đấu tranh chống biến đổi khí hậu. Những khoản đầu tư này có thể tăng cường các hoạt động kinh tế và tạo ra cơ hội việc làm ở địa phương, tiết kiệm thời gian, tiền bạc cho cả người lao động và người sử dụng lao động.
Người tiêu dùng thay đổi hành vi sang tiêu dùng bền vững nghĩa là thay đổi mô hình tiêu dùng và tăng nhu cầu về các sản phẩm, dịch vụ bền hơn, có thể sửa chữa và tái sử dụng. Điều này xảy ra sẽ hướng tới nền kinh tế tuần hoàn, nghĩa là một nền kinh tế có tính phục hồi và tái tạo theo mục đích, giữ cho các sản phẩm, vật liệu ln ở mức tiện ích và giá trị cao nhất. Kinh tế tuần hồn góp phần giảm rủi ro cho doanh nghiệp về khủng hoảng thừa sản phẩm, khan hiếm tài nguyên; tạo động lực để đầu tư, đổi mới cơng nghệ, giảm chi phí sản xuất, tăng chuỗi cung ứng...
<small> Đối với môi trường: </small>
Tiêu dùng bền vững đối với mặt hàng tiêu dùng nhanh, cụ thể là trong lĩnh vực thực phẩm và đồ uống, có vai trị quan trọng trong việc giảm thiểu biến đổi khí hậu, khi mà ngành nơng nghiệp có mối liên hệ mật thiết với tài nguyên thiên nhiên. Tăng cường hiệu quả sử dụng tài nguyên theo giá trị và áp dụng theo các giải pháp giảm ơ nhiễm, lãng phí cũng như biện pháp nông lâm nghiệp bền vững hơn giúp giảm phát thải khí nhà kính. Ngồi ra, việc tiêu thụ các sản phẩm có bao bì làm từ vật liệu có thể tái tạo thay vì nhựa, tuân theo tiêu chuẩn và dán nhãn, cải thiện việc phân loại rác,... có thể giảm đáng kể cường độ carbon trong hoạt động sản xuất.
Trong suốt hơn 2 thế kỷ qua, tăng trưởng kinh tế được thúc đẩy bởi việc đốt nhiên liệu hóa thạch trong q trình cơng nghiệp hố, làm giải phóng CO2 - ngun nhân chính gây ra biến đổi khí hậu, với những hậu quả nghiêm trọng. Lượng khí thải CO2 của các nước châu Á chiếm khoảng 60% phát thải của thế giới và cuộc chiến chống biến đổi khí hậu phụ thuộc vào thành công của khu vực trong giảm thải khí carbon. Do đó, các nước châu Á - đặc biệt là những nước có nền kinh tế có thu nhập trung bình và cao, đã và đang có hành động mạnh mẽ hơn để thúc đẩy sản xuất năng lượng sạch, nông nghiệp và giao thơng xanh. Tại hội nghị thượng đỉnh khí hậu COP28 vừa kết thúc tại Các tiểu vương quốc Arab thống nhất vào tháng 12/2023, 134 quốc gia đã đề xuất tích hợp tốt hơn hệ thống nơng nghiệp và thực phẩm vào hành động vì khí hậu, khi nông nghiệp chiếm đến 18% lượng phát thải khí nhà kính tồn cầu.
</div>