Tải bản đầy đủ (.pdf) (35 trang)

Thực trạng “bẫy thu nhập trung bình” ở một số nước đang phát triển và bài học kinh nghiệm cho việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (949.65 KB, 35 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>HỌC VIỆN NGOẠI GIAO</b>

KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ

<b>---TIỂU LUẬN</b>

BỘ MƠN: THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

<b>ĐỀ TÀI: </b>

<b>THỰC TRẠNG “BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH” Ở MỘT SỐNƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM</b>

<b>CHO VIỆT NAM</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>DANH MỤC BIỂU ĐỒ</b>

<b>Hình 1: Tỉ lệ kinh tế tăng trưởng hằng năm của Thái LanHình 2:Tốc độ tăng trưởng của Philippines từ 1960 - 2022</b>

<b>Hình 3:Tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân của Brazil từ 1960 – 1980</b>

<b>Hình 4:Tốc độ tăng trưởng của Brazil từ 1980-2012Hình 5:Tăng trưởng GDP của Việt Nam qua các năm</b>

<b>Hình 6: Hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư giai đoạn 2010-2021</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>MỤC LỤC</b>

<b>DANH MỤC BIỂU ĐỒ...2</b>

<b>PHẦN MỞ ĐẦU...5</b>

<b>1. Lý do chọn đề tài...5</b>

<b>2. Mục tiêu nghiên cứu...7</b>

<b>3. Đối tượng nghiên cứu...7</b>

<b>4. Phạm vi nghiên cứu...7</b>

<b>5. Phương pháp nghiên cứu...7</b>

<b>6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài của đề tài...8</b>

<b>7. Kết cấu của đề tài...8</b>

<b>PHẦN NỘI DUNG...9</b>

<b>CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT...9</b>

<b>1.1 Khái niệm Bẫy thu nhập trung bình...9</b>

<b>1.2 Nguyên nhân mắc Bẫy thu nhập trung bình...10</b>

<b>1.3. Tác động của Bẫy thu nhập trung bình...11</b>

<b>1.4 Giải pháp để thốt khỏi Bẫy thu nhập trung bình...13</b>

<b>CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH Ở MỘT SỐ NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN...15</b>

<b>2.1 Tình hình bẫy thu nhập trung bình ở Thái Lan...15</b>

<b>2.2 Tình hình bẫy thu nhập trung bình ở Philippines...18</b>

<b>2.3 Tình hình bẫy thu nhập trung bình ở Brazil...22</b>

<b>CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG BẪY THU NHẬP Ở VIỆT NAM VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM...25</b>

<b>3.1.Khái quát kinh tế Việt Nam...25</b>

<b>3.2.Thực trạng bẫy thu nhập trung bình ở Việt Nam...27</b>

<b>3.3.Tác động của bẫy thu nhập trung bình tới nền kinh tế Việt Nam...30</b>

<b>3.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam...31</b>

<b>KẾT LUẬN...33</b>

<b>DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:...34</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<b>PHẦN MỞ ĐẦU</b>

<b>1. Lý do chọn đề tài</b>

Trong thời đại tồn cầu hóa và phát triển kinh tế, bẫy thu nhập trung bình là một vấn đề đáng quan tâm đối với các nước đang phát triển. Hiểu rõ về bẫy thu nhập trung bình và những tác động của nó có thể giúp chúng ta tìm ra các giải pháp để đẩy lùi tình trạng này và có được sự phát triển bền vững. Năm 2009, Việt Nam chính thức vượt qua ngưỡng thu nhập thấp và trở thành nước có thu nhập trung bình theo phân loại của Ngân hàng Thế giới (WB). Tuy nhiên, theo đánh giá chung của nhiều nhà nghiên cứu kinh tế, không chỉ sự tăng trưởng mà Việt Nam có được trong giai đoạn vừa qua, mà những chính sách cải cách hiệu quả, cũng như điều hành kinh tế vĩ mô nhạy bén, hợp lý, một phần quan trọng là do tác động của tự do hóa ở Việt Nam. Nguồn lực dồi dào, lực lượng lao động trẻ dồi dào và nhiều hơn nữa có thể được khai thác vào đúng thời điểm và địa lý. Nhưng liệu rằng Việt Nam có thể tiếp tục tăng trưởng nhanh và bền vững?

Tiểu luận này tập trung vào việc phân tích bẫy thu nhập trung bình ở các nước đang phát triển như Thái Lan, Philippines và Brazil, và tìm hiểu những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể rút ra từ những nỗ lực của các nước này. Chúng ta sẽ đi sâu vào các yếu tố gây ra bẫy thu nhập trung bình và những thay đổi cơ cấu kinh tế mà các quốc gia đã trải qua để vượt qua tình trạng này. Tiểu luận nghiên cứu ba nước Thái Lan, Philippines và Brazil vì những lí do:

Đa dạng và đặc thù kinh tế: Thái Lan, Philippines và Brazil có những đặc thù kinh tế riêng biệt và đang đối mặt với các thách thức và nguyên nhân gây ra bẫy thu nhập trung bình khác nhau. Nghiên cứu về bẫy này ở các quốc gia này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những yếu tố cụ thể và các biện pháp phát triển kinh tế phù hợp để vượt qua bẫy này trong từng quốc gia.

Tương đồng về tình hình kinh tế: Thái Lan, Philippines, Brazil và Việt Nam đều là những quốc gia đang phát triển và đang đối mặt với các thách thức trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Việc nghiên cứu bẫy thu nhập trung bình ở các quốc gia này có thể cung cấp thông tin quan trọng và bài học cho Việt

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

Nam trong việc hiểu rõ các yếu tố gây ra bẫy này và đưa ra các biện pháp phát triển kinh tế phù hợp.

Kinh nghiệm học hỏi: Thái Lan, Philippines, Brazil và Việt Nam đều có những kinh nghiệm riêng trong việc đối phó với bẫy thu nhập trung bình. Việc nghiên cứu các quốc gia khác có thể cung cấp cho Việt Nam những bài học từ thành công và thất bại của họ trong việc vượt qua bẫy này. Điều này có thể giúp Việt Nam áp dụng những biện pháp hiệu quả và tránh những sai lầm đã xảy ra ở các quốc gia khác.

Hợp tác kinh tế và chính sách: Việt Nam có mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với Thái Lan, Philippines và Brazil trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại và chính sách. Nghiên cứu về bẫy thu nhập trung bình ở các quốc gia này có thể cung cấp cơ sở thông tin và định hướng cho việc hợp tác kinh tế và chính sách giữa Việt Nam và các quốc gia này, nhằm tăng cường sự phát triển kinh tế và vượt qua bẫy thu nhập trung bình.

Khu vực địa lý và kinh tế: Thái Lan, Philippines, Brazil và Việt Nam đều thuộc vào các khu vực địa lý và kinh tế quan trọng. Thái Lan và Philippines nằm trong khu vực Đông Nam Á, trong khi Brazil và Việt Nam là hai quốc gia lớn ở khu vực Nam Mỹ và Đông Nam Á. Những nghiên cứu về bẫy thu nhập trung bình ở các quốc gia này sẽ cung cấp thông tin quan trọng về tình hình phát triển kinh tế và các thách thức chung trong khu vực, từ đó tạo ra cơ hội để học hỏi và áp dụng các giải pháp phát triển kinh tế phù hợp.

Đặc điểm kinh tế và phát triển: Thái Lan, Philippines, Brazil và Việt Nam có những đặc điểm kinh tế và phát triển riêng biệt. Tuy nhiên, chúng đều đang đối mặt với các thách thức của bẫy thu nhập trung bình, như bất bình đẳng thu nhập, hạn chế cơ sở hạ tầng, thiếu hụt kỹ năng lao động và sự không ổn định kinh tế. Việc nghiên cứu và so sánh các quốc gia này có thể giúp tìm ra các yếu tố chung và cách tiếp cận hiệu quả để vượt qua bẫy thu nhập trung bình.

Hợp tác quốc tế: Nghiên cứu về bẫy thu nhập trung bình ở Thái Lan, Philippines, Brazil và Việt Nam tạo ra cơ hội hợp tác quốc tế. Các quốc gia này có thể học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm, cùng nhau tìm kiếm giải pháp chung và

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội trong khu vực. Việc hợp tác này có thể mang lại lợi ích lớn cho Việt Nam và các quốc gia khác đang đối mặt với cùng một thách thức phát triển.

Qua tiểu luận này, từ những nghiên cứu và phân tích, chúng ta sẽ suy nghĩ về những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể học được. Chúng ta sẽ xem xét những chiến lược và biện pháp mà Việt Nam có thể áp dụng để đẩy lùi bẫy thu nhập trung bình và thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững. Những bài học này sẽ đóng vai trị quan trọng trong việc xác định hướng đi và chính sách phù hợp để Việt Nam vươn lên trong bối cảnh kinh tế toàn cầu ngày càng phức tạp.

<b>2. Mục tiêu nghiên cứu</b>

<b>- Cung cấp kiến thức tổng quan về bẫy thu nhập trung bình, nguyên nhân tác </b>

động và các biện pháp để thốt khỏi tình trạng trên.

- Nghiên cứu bẫy thu nhập trung bình ở các quốc gia đang phát triển: Thái Lan, Philippines, Brazil

- Khái quát kinh tế Việt Nam, những thách thức mà Việt Nam gặp phải khi đối mặt với bẫy thu nhập trung bình và giải pháp mà Việt Nam có thể thực hiện.

<b>3. Đối tượng nghiên cứu</b>

- Thực trạng bẫy thu nhập trung bình ở các nước Thái Lan, Philippines, Brazil, Việt Nam.

<b>4. Phạm vi nghiên cứu</b>

- Nghiên cứu vấn đề bẫy thu nhập trung bình ở các quốc gia đang phát triển: Thái lan, Philippines, Brazil và Việt Nam

<b>5. Phương pháp nghiên cứu</b>

- Phương pháp thống kê,thu thập thông tin - Phương pháp đánh giá

- Phương pháp tổng hợp

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<b>6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài của đề tài</b>

Từ những cơ sở lý thuyết, phân tích và đánh giá vấn đề về bẫy thu nhập trung bình ở các nước đang phát triển Thái Lan, Philippines, Brazil giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những rào cản và thách thức mà các nước đang phát triển phải đối mặt trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Điều này cho phép chúng ta xác định các yếu tố quan trọng cần được giải quyết để vượt qua bẫy này. Rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ta có thể đưa ra các giải pháp cụ thể và điều chỉnh chính sách cho Việt Nam tránh “bẫy thu nhập trung bình”.

<b>7. Kết cấu của đề tài</b>

Kết cấu của đề tài gồm 3 chương: - Chương 1: Cơ sở lý thuyết

- Chương 2: Phân tích bẫy thu nhập trung bình ở một số nước đang phát triển - Chương 3: Thực trạng bẫy thu nhập trung bình ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

<b>PHẦN NỘI DUNG</b>

<b>CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT1.1 Khái niệm “Bẫy thu nhập trung bình”. </b>

<i>Khái niệm Bẫy thu nhập trung bình (Middle Income Trap) được Ngân hàng</i>

Thế giới (WorldBank) lần đầu đưa ra trong báo cáo “Đông Á phục hưng - ý tưởng phát triển kinh tế”, năm 2007 là tình trạng một quốc gia đã vượt qua mức thu nhập thấp để tiến tới một mức thu nhập nhất định nhưng mắc kẹt tại đó và khơng thể tiến tới mức thu nhập cao hơn, mất nhiều thập kỷ vẫn không trở thành quốc gia phát triển do các vấn đề nguồn lực và điều kiện phát triển. Nhiều quốc gia đã trải qua cái bẫy này, đặc trưng bởi tăng trưởng kinh tế chậm lại, tiền lương trì trệ, tiến bộ cơng nghệ hạn chế và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế suy giảm hoặc đình trệ.

Thu nhập quốc dân của nền kinh tế, được Ngân hàng Thế giới phân loại dựa trên mức bình quân đầu người theo dữ liệu từ ngày 1/7/2015 cụ thể như sau: - Thu nhập thấp: GNI bình quân đầu người là 1.045 USD hoặc ít hơn.

- Thu nhập trung bình thấp: GNI bình quân đầu người dao động từ 1.046 USD

Dựa vào những tiêu chí trên thì đối tượng của “bẫy thu nhập trung bình” là những nước có GNI bình qn đầu người ở mức từ 1.046 USD đến 12.735 USD. Thế nhưng đây là những phạm vi chỉ có tính chất tương đối, hồn tồn có thể điều chỉnh dựa trên việc hàng năm, WB sẽ dựa trên thu nhập bình quân đầu người để thay đổi lại cách phân loại các nền kinh tế.

Một quốc gia đang phát triển, được Liên Hợp Quốc (UN) và các tổ chức quốc tế khác sử dụng các tiêu chí khác nhau để phân loại là một quốc gia có trình độ phát triển kinh tế và cơng nghiệp hóa tương đối thấp so với các quốc gia tiên tiến hơn, có bình qn mức sống cịn khiêm tốn và có chỉ số phát triển con người

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

cũng như thu nhập bình qn đầu người khơng cao. Các nước đang phát triển thường phải đối mặt với nhiều thách thức kinh tế xã hội khác nhau và cố gắng cải thiện mức sống, cơ sở hạ tầng và phúc lợi tổng thể của họ.

<b>1.2 Nguyên nhân mắc “bẫy thu nhập trung bình”. </b>

Nguyên nhân của bẫy thu nhập trung bình ở các nước đang phát triển rất đa dạng và tùy theo từng quốc gia. Dưới đây là một số nguyên nhân tiêu biểu:

- Thiếu đổi mới và nâng cấp công nghệ: Các nước đang phát triển thường phải vật lộn để theo kịp những tiến bộ và đổi mới công nghệ. Khi tiếp thu và áp dụng các cơng nghệ mới, có thể phải đối mặt với những thách thức cản trở khả năng tăng năng suất và tiến lên trong chuỗi giá trị của đất nước.

- Thiếu sự đầu tư vào vốn con người: Giáo dục và phát triển kỹ năng là cần thiết cho sự phát triển kinh tế. Các nước đang phát triển thiếu đầu tư vào các chương trình giáo dục và đào tạo có chất lượng có thể phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt kỹ năng có thể hạn chế năng suất và cản trở tăng trưởng kinh tế.

- Khung thể chế yếu kém: Quản trị yếu kém, tham nhũng, thiếu pháp quyền và sự kém hiệu quả của bộ máy hành chính có thể tạo ra một mơi trường kinh doanh không thuận lợi và cản trở sự phát triển của khu vực tư nhân. Các khuôn khổ thể chế yếu kém làm suy giảm niềm tin của nhà đầu tư, kìm hãm tinh thần kinh doanh và hạn chế đa dạng hóa kinh tế.

- Thách thức kinh tế vĩ mô: Các nước đang phát triển thường phải đối mặt với các lỗ hổng kinh tế vĩ mô như lạm phát cao, thâm hụt ngân sách và tỷ giá hối đoái biến động. Những thách thức này có thể tạo ra sự khơng chắc chắn, làm giảm dòng vốn đầu tư gây cản trở sự ổn định và tăng trưởng kinh tế.

- Cơ sở hạ tầng chưa phát triển:Cơ sở hạ tầng yếu kém như mạng lưới giao thơng, năng lượng và truyền thơng có thể cản trở hoạt động kinh tế và thương mại. Thiếu đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng làm hạn chế khả năng kết nối, tăng chi phí giao dịch và cản trở khả năng cạnh tranh của ngành.

- Thiếu đa dạng hóa kinh tế: Các nước đang phát triển chủ yếu dựa vào một số ít ngành cơng nghiệp và hàng hóa, khiến họ dễ gặp phải những tác động bên

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

- Brazil cũng chú trọng vào thúc đẩy xuất khẩu để tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường và thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển như ký kết các thỏa thuận thương mại tự do (FTA), tham gia các tổ chức kinh tế,...

<b>CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG BẪY THU NHẬP Ở VIỆT NAM VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM. </b>

<b>3.1.Khái quát kinh tế Việt Nam.</b>

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã duy trì mức tăng trưởng kinh tế ổn định và mạnh mẽ. Trong giai đoạn 2016-2020, tăng trưởng GDP hàng năm trung bình đạt khoảng 6,8%. Dù tác động của đại dịch COVID-19 đã gây ra một số khó khăn, nhưng chính phủ Việt Nam đã triển khai các biện pháp kích thích kinh tế để hỗ trợ phục hồi và tăng trưởng.

<i> Hình 5: Tăng trưởng GDP của Việt Nam qua các năm </i>

Trong năm 2022, nền kinh tế Việt Nam đã có sự phục hồi ấn tượng với mức tăng trưởng đạt 8,0%, vượt mức trung bình 7,1% trong giai đoạn 2016-2019. Điều này một phần đến từ hiệu ứng cơ sở thấp, được thúc đẩy nhờ phục hồi của tiêu dùng cá nhân trong nước sau đại dịch COVID-19 và hoạt động từ sản xuất định hướng xuất khẩu diễn ra mạnh mẽ. Thế nhưng, đóng góp của khu vực cơng vào tăng trưởng cịn bị hạn chế bởi vấn đề triển khai các chương trình đầu tư cơng cịn chưa được phát triển. Thêm vào đó các hoạt động phục hồi về mức trước đại dịch

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

vào năm 2022, nhu cầu toàn cầu yếu hơn đã gây ra tình trạng các đơn đặt hàng và xuất khẩu chững lại trong Quý 4-2022, đồng thời gây ra áp lực mới lên thị trường lao động. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trung bình là 3,1%. Lĩnh vực tài chính của nước ta chịu nhiều khó khăn hơn trong năm 2022, trong khi cán cân tài khóa ước tính thặng dư.

Trong giai đoạn 2021-2022, sản xuất công nghiệp Việt Nam tiếp tục phát triển. Ngành công nghiệp chế biến và chế tạo gia công xuất khẩu đạt mức tăng trưởng 12,9% trong năm 2021. Ngành công nghiệp điện tử, ô tô và dệt may cũng ghi nhận sự phát triển tích cực.

Tính đến tháng 5/2023, tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam đạt khoảng 130,8 tỷ USD, tăng 33,5% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam bao gồm điện thoại, máy tính, sản phẩm điện tử, dệt may, gỗ và sản phẩm gỗ, nông sản và thủy sản. Đồng thời, giá trị nhập khẩu cũng tăng lên mức khoảng 134,4 tỷ USD.

Việt Nam vẫn thu hút một lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Theo số liệu thống kê đến tháng 5/2023, số vốn FDI đăng ký mới đạt khoảng 14,1 tỷ USD, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước. Các lĩnh vực thu hút FDI chủ yếu là công nghiệp chế biến, bất động sản và xây dựng, khoa học và công nghệ.

Từ đầu năm 2023 đến tháng 5/2023, lạm phát tại Việt Nam tăng nhẹ. Tuy nhiên, Chính phủ đã và đang áp dụng các biện pháp để kiểm soát lạm phát và ổn định giá cả.

Ở cơ cấu của nền kinh giai đoạn tế quý I năm 2023, các lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giữ tỷ trọng 11,66%; các ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 35,47%; khu vực dịch vụ chiếm 43,65%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,22% (Cơ cấu tương ứng ở cùng kỳ năm 2022 là 11,57%; 37,08%; 42,06%; 9,29%).

Về sử dụng GDP giai đoạn quý I năm 2023, tiêu dùng cuối cùng tăng lên 3,01% so với cùng kỳ năm trước, góp vào 46,11% tốc độ tăng chung; tích lũy tài sản tăng 0,02%, đóng góp 0,14%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ giảm 8,33%;

</div>

×