Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.54 MB, 11 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
KHOA CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ VÀ NGOẠI GIAO
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><i><small>PHƯƠNGPHÁP NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC 7</small></i>
<i><small>XÃHỘI HỌC VỀ THIẾT CHẾ XÃ HỘI 8</small></i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">Herbert Spencer là nhà triết học, nhà xã hội học người Anh. Ông sinh ngày 27 tháng 4 năm 1820 (tại Derby, Derbyshire, Anh), mất ngày 8 tháng 12 năm 1903 (tại Brighton, Sussex). Spencer hầu như không theo học tại các trường lớp chính quy mà chủ yếu học tại nhà dưới sự chỉ dẫn của gia đình.
Tuy vậy, ơng vẫn có một nền tảng kiến thức vững chắc về toán học, khoa học tự nhiên và quan tâm đến nghiên cứu khoa học xã hội. Có lẽ cảm hứng của ông được bắt nguồn chủ yếu từ phía gia đình. Cha của Spencer, William George Spencer, là một hiệu trưởng. Những niềm tin bất đồng về tôn giáo của cả cha lẫn mẹ ông đã khiến Spencer có một sự chống cự bản năng đối với tất cả các dạng quyền thế ngay cả khi anh đã từ bỏ đức tin Cơ đốc.
Bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội cùng với môi trường ở Anh thế kỷ XIX đã có ảnh hưởng nhất định đến xã hội học Spencer. Là xã hội đầu tiên cơng nghiệp hố, xã hội Anh ít nhiều thừa hưởng những yếu tố tích cực của thời kì đầu phát triển công nghiệp và chủ nghĩa tư bản. Giống như Adam Smith (1723-1790), Spencer tin tưởng vào "bàn tay vơ hình " (<i>các cá nhân tham giamuốn tối đa hóa lợi nhuận cho mình. Ai cũng muốn thế cho nên vơ hìnhchung đã thúc đẩy sự phát triển và củng cố lợi ích cho cả cộng đồng – Adam</i>
Smith) trong việc duy trì trật tự xã hội gồm các cá nhân theo đuổi lợi ích riêng. Spencer nhìn thấy một số khía cạnh tích cực của chủ nghĩa tư bản như tính hiệu quả, môi trường tự do cạnh tranh và tự do buôn bán.
Bị ảnh hưởng bởi "sinh vật học" của Charles Darwin (1809-1882), Spencer đã đưa ra quan điểm tiến hóa xã hội. Ơng là một trong những người ủng hộ sớm nhất của thuyết tiến hóa và là người đã đạt được tổng hợp tri thức có ảnh hưởng đủ để ủng hộ sự ưu việt của cá nhân đối với xã hội và của khoa học so với tôn giáo. Spencer được nhớ đến nhiều nhất với học thuyết xã hội của Darwin, theo đó các nguyên tắc tiến hóa, bao gồm chọn lọc tự nhiên áp dụng cho các xã hội loài người, các tầng lớp xã hội và cá nhân cũng như các loài sinh vật phát triển theo thời gian địa chất. Vào thời của Spencer, học thuyết xã hội của Darwin được viện dẫn để biện minh cho kinh tế học tự do và trạng thái tối thiểu, được cho là có thể thúc đẩy tốt nhất sự cạnh tranh khơng có kiểm sốt giữa các cá nhân và sự cải thiện dần dần của xã hội thông qua
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">“Survival of the fittest” (“Kẻ sống sót phù hợp nhất"), một thuật ngữ mà chính Spencer đã giới thiệu.
Bên cạnh đó, Herbert Spencer cũng nhận được sự ảnh hưởng trong mảng khoa học tự nhiên như vật lý học và khoa học thực chứng của Auguste Comte. Ông chủ trương rằng xã hội học phải hướng tới tìm ra các quy luật và nguyên lý chung, cơ bản để giải thích hiện thực xã hội.
Ơng được cơng nhận là một trong những trí thức tiêu biểu nhất của thời đại Victoria, cũng như một trong những lá cờ đầu của các lý thuyết tiến hóa áp dụng cho xã hội học và của chủ nghĩa cá nhân.
• <i>Social Statics (Tĩnh học xã hội)</i> (1851);
• <i>The Study of Sociology (Nghiên cứu xã hội học)</i> (1873);
• <i>Principles of Sociology (Các nguyên lý của xã hội học)</i> (1876-1896); • <i>Descriptive Sociology (Xã hội học miêu tả)</i> (1873-1881)
Herbert Spencer lập luận rằng sự tiến hóa xã hội xảy ra thơng qua một quá trình phân chia, nghĩa là, cho sự phát triển của con người mang tính riêng biệt và có tính cá nhân. Đối với ơng, xã hội lồi người đã phát triển thơng qua một q trình phân cơng lao động dần dần, chuyển họ từ các nhóm "nguyên thủy" sang các nền văn minh phức tạp.
Để tranh luận về những điều trên, ông đã đưa ra những so sánh quan trọng giữa các sinh vật - động vật và xã hội lồi người. Ơng kết luận rằng trong cả hai đều có một hệ thống quy định: cho động vật một hệ thống thần kinh và cho xã hội lồi người cấu trúc chính phủ. Ngồi ra cịn có một hệ thống hỗ trợ, trong trường hợp của động vật là thực phẩm còn với con người là hoạt động công nghiệp. Chúng cũng chia sẻ một hệ thống phân phối, mà đối với các sinh vật - động vật là hệ thống tuần hoàn, và trong xã hội lồi người là hệ thống truyền thơng và phương tiện giao thơng. Do đó, những gì mà sinh vật -động vật khác biệt với xã hội loài người là trước đây chúng tồn tại như một
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">toàn thể, như một ý thức thống nhất; trong khi sau đó, ý thức chỉ tồn tại trong mỗi thành viên nhóm. Ơng nói, sự khác biệt lớn giữa động vật và sinh vật xã hội là ở chỗ, trong khi ý thức trước chỉ có một ý thức liên quan đến cái tồn thể, thì ý thức sau chỉ tồn tại ở mỗi thành viên; xã hội tồn tại vì lợi ích của các thành viên chứ khơng phải họ vì lợi ích của nó.
Từ nguyên lý này, Spencer phát triển một lý thuyết về chủ nghĩa cá nhân và sự chia rẽ. Trong khuôn khổ triết học tự do, Spencer lập luận rằng chủ nghĩa cá nhân, như một sự phát triển cá nhân của con người như một thành viên tự trị và khác biệt với phần còn lại, gần gũi hơn với xã hội văn minh, không giống như các xã hội khác như quân đội hay xã hội công nghiệp nơi chế độ chuyên quyền được ưa chuộng và sự phát triển cá nhân của mỗi ý thức bị cản trở.
Ngồi ra, sự phát triển của xã hội cơng nghiệp Anh thế kỷ 19, theo Spencer, đang phát triển một chủ nghĩa “Taylor mới” (Taylorism) và chuẩn bị xã hội cho các hình thức nơ lệ mới trong tương lai. Ông đã đề xuất các phương hướng theo định nghĩa này để phục hồi chức năng cũ của chủ nghĩa tự do, đó là hạn chế quyền lực của các vị vua, và tại thời điểm đó có thể được chỉ đạo để hạn chế các nghị viện.
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">Bên cạnh đó, vì chịu sự ảnh hưởng của Darwin và Comte, các nguyên lý cơ bản của xã hội học Spencer phần nào cũng mang hơi hướng của 2 nhà xã hội học trên:
Herbert Spencer sử dụng thuật ngữ “xã hội học” của Comte. Ông định nghĩa xã hội học là khoa học về các quy luật và các nguyên lý tổ chức của xã hội.
<i>Xã hội được hiểu như là các "cơ thể siêu hình hữu cơ" / "superorganicbodies".</i>
Tương tự như mọi hiện tượng tự nhiên, hữu cơ và vô cơ, xã hội vận động và phát triển theo quy luật. Xã hội học có nhiệm vụ phát hiện ra quy luật, nguyên lý của cấu trúc và của quá trình của xã hội. Xã hội học khơng sa vào phân tích những đặc thù lịch sử của xã hội mà tập trung vào việc tìm kiếm những thuộc tính, đặc điểm chung, phổ biến, phổ quát và những mối liên hệ nhân quả giữa các sự vật, hiện tượng xã hội. Spencer cho rằng có thể vận dụng các nguyên
<i>lý và khái niệm của sinh vật học về cơ cấu và chức năng để nghiên cứu "cơthể xã hội"</i> - Đây cũng là quan điểm của Comte. Bản thân thuật ngữ <i>"cơ cấu"</i>
và <i>"chức năng"</i> mà lúc đầu Comte, sau là Spencer và các nhà xã hội học hiện đại sử dụng chủ yếu là bắt nguồn từ sinh vật học.
Một <i>nguyên lý cơ bản nhất</i> của xã hội học là <i>nguyên lý tiến hóa</i>. Theo Spencer, xã hội loài người phát triển tuân theo quy luật tiến hóa từ xã hội có cơ cấu nhỏ, đơn giản, chun mơn hóa thấp, khơng ổn định, dễ phân rã đến xã hội có cơ cấu lớn, phức tạp, chun mơn hóa cao, liên kết bền vững và ổn định.
Ngồi ngun lý tiến hóa xã hội, Spencer đưa ra những nguyên lý khác. Spencer cho rằng quy mô của cơ thể (xã hội) ảnh hưởng tỷ lệ thuận đối với nhu cầu về sự phân hóa dẫn đến hình thành và phát triển các q trình xã hội. Trong số đó có q trình điều tiết và kiểm sốt, vận hành và duy trì hoạt động, và quá trình phân chia các nguồn lực giữa các bộ phận cấu thành nên xã hội. Do đó, xã hội học có nhiệm vụ chỉ ra các loại yếu tố hay các biến số tác động tới xu hướng, nhịp độ và bản chất của các q trình đó. Spencer chia các "tác nhân của hiện tượng xã hội" thành một số loại:
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7"><i>1. Thứ nhất</i>, là loại <i>biến (tác nhân) chủ quan</i> bên trong của hệ thống xã hội gồm các đặc điểm về trí tuệ, thể lực và các trạng thái xúc cảm;
<i>2. Thứ hai</i>, là các loại <i>biến (tác nhân) bên ngồi</i> thuộc mơi trường khách quan như các đặc điểm khí hậu, đất đai, sơng ngịi;
<i>3. Thứ ba</i>, là loại <i>biến (tác nhân) "tự sinh"</i>, bắt nguồn từ các điều kiện bên trong và bên ngoài như quy mô dân số, mật độ dân số của xã hội và các mối liên hệ giữa các xã hội với nhau.
<i>Ba loại biến này rất quan trọng đối với q trình tiến hóa của xã hội. </i>
Tương tự như cơ thể sống, xã hội có hàng loạt các nhu cầu tồn tại đòi hỏi phải xuất hiện các cơ quan hoạt động theo nguyên tắc chuyên môn hóa để đáp ứng các nhu cầu cơ thể xã hội. Spencer cho rằng, xã hội chỉ có thể phát triển lành mạnh khi các cơ quan chức năng của xã hội đó đảm bảo thỏa mãn các nhu cầu của xã hội. Thực chất đây là những tư tưởng chức năng luận đầu tiên trong xã hội học.
So sánh cơ thể sống với xã hội (<i>cơ thể siêu - hữu cơ</i>), Spencer chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau cơ bản giữa chúng, đó là:
<small>•</small> <i>Đặc điểm khác nhau: là xã hội gồm các bộ phận có khả năng ý thức và</i>
tích cực tác động lẫn nhau một cách gián tiếp, thông qua ngôn ngữ, ký hiệu.
<small>•</small> <i>Đặc điểm giống nhau: là cả cơ thể sinh học và cơ thể xã hội đều có khả</i>
năng sinh tồn và phát triển. Cả hai loại cơ thể này đều tuân theo những quy luật như tăng kích cỡ của cơ thể làm tăng tính chất và trình độ chun mơn hóa chức năng. Các bộ phận của cơ thể tác động lẫn nhau chặt chẽ đến mức thay đổi ở một bộ phận kéo theo thay đổi ở các bộ phận khác. Mỗi bộ phận là một cơ thể vi mô, một cơ quan, một tế bào. Xã hội là một hệ thống gồm các <i>tiểu xã hội</i>. Giống như các cơ thể sống, với tư cách là cơ thể siêu - hữu cơ, xã hội liên tục trải qua các giai đoạn tiến hóa, suy thối kế tiếp nhau, tức là tăng trưởng, phân hóa, liên kết, phân rã v.v... nhằm thích nghi với môi trường xung quanh.
Spencer chỉ ra rằng, khác với khoa học tự nhiên, xã hội học có hàng loạt những vấn đề khó khăn về mặt phương pháp luận. Các khó khăn của xã hội
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">học bắt nguồn từ đặc thù của đối tượng nghiên cứu, gắn liền với các cá nhân với tất cả những đặc điểm về động cơ, nhu cầu, tình cảm, trí tuệ, và hành động phức tạp, đa dạng. Spencer phân biệt hai loại vấn đề khó khăn khách quan và chủ quan.
<i>1. Khó khăn khách quan: liên quan tới vấn đề số liệu; rất khó đo lường</i>
các trạng thái chủ quan của đối tượng nghiên cứu, tức là các đặc điểm cá nhân, các nhóm xã hội, trong khi các hiện tượng xã hội không ngừng vận động, biến đổi. Bản thân quá trình nghiên cứu cũng rất dễ bị ảnh hưởng bởi trạng thái tình cảm và tâm trạng xã hội; một số vấn đề nghiên cứu này gây chú ý nhiều hơn một số vấn đề kia.
<i>2. Khó khăn chủ quan: loại khó khăn này thường liên quan đến người</i>
nghiên cứu; Chẳng hạn, tình cảm cá nhân như "thiên vị chính trị", "thiên vị giai cấp", "thiên vị tơn giáo" đều có thể gây ra những khó khăn chủ quan trong nghiên cứu xã hội học.
Căn cứ vào các đặc điểm của quá trình điều chỉnh, vận hành và phân phối, tức là q trình tiến hóa, Spencer chia các xã hội thành hai loại:
<i>1. Xã hội quân sự (militant): có đặc trưng là cơ chế tổ chức, điều chỉnh</i>
mang tính tập trung, độc đốn cao độ để phục vụ các mục tiêu quốc phòng và chiến tranh; Hoạt động của các cơ cấu xã hội (các tổ chức xã hội) và các cá nhân bị nhà nước kiểm soát chặt chẽ; Chế độ phân phối diễn ra theo chiều dọc và mang tính tập trung cao vì bị nhà nước quản lý, kiểm sốt.
<i>2. Xã hội cơng nghiệp (industrial): có đặc trưng là cơ chế tổ chức ít tập</i>
trung và ít độc đoán để phục vụ các mục tiêu xã hội là sản xuất hàng hóa và dịch vụ; Mức độ kiểm soát của nhà nước đối với các cá nhân và các cơ cấu xã hội thấp.
Thiết chế xã hội là khuôn mẫu, kiểu tổ chức xã hội đảm bảo đáp ứng các nhu cầu, yêu cầu chức năng cơ bản của hệ thống xã hội, đồng thời kiểm soát các hoạt động của các cá nhân và các nhóm trong xã hội. Spencer cho rằng thiết chế xã hội nào giúp xã hội thích nghi, tồn tại và phát triển được thì thiết chế đó được duy trì và củng cố. Trong số các thiết chế xã hội, Spencer đặc biệt chú ý tới thiết chế gia đình và dịng họ, thiết chế nghi lễ, thiết chế chính trị, thiết chế tơn giáo và thiết chế kinh tế.
<i>• Thiết chế gia đình và dịng họ xuất hiện để thỏa mãn nhu cầu cơ bản của</i>
mọi loài: nhu cầu tái sản xuất, tức là duy trì nịi giống. Ngồi ra xã hội nào cũng cần phải có thiết chế gia đình để kiểm sốt hoạt động sinh đẻ -tình dục, quan hệ phụ nữ và nam giới, và nuôi dạy con cái.
<i>• Thiết chế nghi lễ cần thiết để đáp ứng nhu cầu liên kết và kiểm soát các</i>
quan hệ xã hội của con người thông qua các thủ tục, biểu tượng, ký hiệu, nghi thức... Khơng có nghi lễ thì khó duy trì được những cơ cấu, những tổ chức quy mơ lớn.
<i>• Thiết chế chính trị xuất hiện chủ yếu để giải quyết các xung đột bên</i>
trong và bên ngoài xã hội. Sự tập trung quyền lực càng lớn thì càng bộc lộ rõ sự phân chia cơ cấu giai cấp.
<i>• Thiết chế tơn giáo có yếu tố cơ bản là niềm tin vào lực lượng siêu tự</i>
nhiên, siêu nhân. Thiết chế tôn giáo có chức năng củng cố hệ thống chuẩn mực giá trị, niềm tin, tinh thần... để duy trì trật tự xã hội.
<i>• Thiết chế kinh tế nhằm đáp ứng yêu cầu thích nghi của tổ chức xã hội đối</i>
với môi trường và thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người về các sản phẩm và dịch vụ.
Những khái niệm và đặc biệt là các nguyên lý xã hội học của Spencer có ý nghĩa rất quan trọng đối với khoa học xã hội học. Chẳng hạn, những phân tích về tác nhân của xã hội và các nguyên lý tiến hóa xã hội hay nguyên lý về cơ cấu xã hội đóng vai trị là nền tảng hình thành nên xu hướng chức năng luận trong xã hội học sau này. Chẳng hạn, phát triển tư tưởng của Spencer, Durkheim, đại diện tiêu biểu của trường phái chức năng đã tập trung nghiên
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">cứu các bộ phận và các yếu tố khác nhau của tổ chức xã hội trong việc đáp ứng các nhu cầu tồn tại của cải hệ thống xã hội.
Theo ý tưởng của chủ nghĩa cá nhân, Spencer ủng hộ cho phép rằng mỗi thành viên trong xã hội phát triển tốt nhất có thể như một thành viên có thẩm quyền về điều này, và do đó, những người có năng khiếu hoặc tài năng hơn sẽ là những người thành cơng và sẽ thích nghi tốt hơn. Vì lý do này, lý thuyết của ơng thường nằm trong dịng của chủ nghĩa Darwin xã hội, một vấn đề dần dần bị chỉ trích bởi hậu quả của sự nghèo đói lan rộng của chủ nghĩa tư bản công nghiệp đang phát triển.
Tuy nhiên, các đề xuất của ông cũng được đưa ra sau đó bởi các nhà triết học với những dịng tương tự, những người tìm thấy những lập luận để chỉ trích nhà nước phúc lợi phát triển sau chiến tranh.
Các khái niệm và đặc biệt là nguyên lý xã hội học của Spencer có ý nghĩa rất quan trọng đối với khoa học xã hội học. Chẳng hạn, những phân tích về tác nhân của xã hội và các nguyên lý tiến hóa xã hội, ngun lý về cơ cấu xã hội đóng vai trị là nền tảng hình thành nên xu hướng chức năng luận trong xã hội học sau này. Phát triển tư tưởng của Spencer, Durkheim, đại diện tiêu biểu cho <i>trường phái chức năng</i>, đã tập trung nghiên cứu các bộ phận, các yếu tố khác nhau của tổ chức xã hội trong việc đáp ứng các nhu cầu tồn tại của cả hệ thống xã hội.
Mặc dù xã hội học của Spencer không tinh vi theo chuẩn mực của thế kỷ XX, nhưng đã để lại nhiều ý tưởng quan trọng được tiếp tục phát triển trong các trường phái, lý thuyết xã hội học hiện đại. Cách tiếp cận cơ cấu của Spencer đã được các nhà xã hội học Durkheim, Parsons, Merton và những người khác kế thừa và phát triển thành trường phái cơ cấu - chức năng luận khá nổi tiếng trong xã hội học.
Cách phân tích của Spencer về mối liên hệ giữa các đặc điểm dân số học như quy mô và mật độ dân số đã mở đầu cho trường phái sinh thái học người (human ecology) và "trường phái Chicago" (Chicago School) phát triển ở thế kỷ XX. Các trường phái này quan tâm đến phân tích ảnh hưởng giữa các quá trình dân số như tăng dân số, phân bố dân cư và các quá trình xã hội như phân hóa, cạnh tranh và lối sống thành thị. Bóng dáng của xã hội học Spencer cịn in đậm nét trong cách tiếp cận hệ thống, lý thuyết tổ chức xã hội, lý thuyết
</div>