Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.06 MB, 13 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b>HỌC VIỆN NGOẠI GIAO </b>
KHOA CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ VÀ NGOẠI GIAO
<b>TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MƠN XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG </b>
<i><b>Đề tài</b></i><b>: TRÌNH BÀY LÝ THUYẾT VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG XÃ HỘI: KHÁI </b>
<b>NIỆM, PHÂN LOẠI, CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG, LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI </b>
<b> Sinh viên thực hiện: Hoàng Tú Anh </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">NAM VÀ TRÊN TH <b>Ế GIỚ ... 10 </b>I 1. Trên th gi i ... 10ế ớ 2. T i Vi t Nam ... 11ạ ệ III. K T LU<b>ẾẬN ... 12 </b>
IV. PH L<b>Ụ ỤC ... 13 </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">I. L<b>ỜI NÓI ĐẦ</b>U 1. Lý do ch<b>ọn đề</b> tài
“Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hố cho họ những quyền khơng ai có thể xâm phạm được” – Đó là những gì Hồ Lãnh tụ đã nói về sự cơng bằng về quyền con người trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945. Câu nói ấy để lại cho ta suy nghĩ và nhận thức về quyền bình đẳng giữa con người và con người trong xã hội hôm nay. Cũng trong bản Tun ngơn, Người có nhắc đến một đoạn thuộc bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải ln ln được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Từ đây có thể thấy, vấn đề bình đẳng đã ln được chú ý đến từ rất sớm, khơng chỉ ở Việt Nam mà cịn trên thế giới. Nhưng liệu những gì đang diễn ra xung quanh cuộc sống của ta có được như vậy khơng?
Thực tế, bất bình đẳng dường như mới là thứ hiện hữu xung quanh ta ngày một nhiều hơn. Chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp được hình ảnh phân biệt đối xử giữa người và người ví như người da trắng và người da màu, hay những câu chuyện thiên vị đàn ông hơn đàn bà, người nghèo hơn người giàu, người ở thành phố hơn người ở nông thôn… Những điều đáng buồn như vậy đáng lẽ không nên xảy ra ở thời đại xã hội hiện đại và văn minh như ngày nay.
Bản thân em rất quan tâm và sát sao đến các vấn đề xoay quanh bất bình đẳng xã hội vì em ln mong muốn nhìn thấy và ln đấu tranh cho một thế giới chan hồ và tươi đẹp. Chính vì những lí do trên, em đã chọn đề tài “Trình bày lý thuyết về bất bình đẳng xã hội: khái niệm, phân loại, các yếu tố tác động, liên hệ thực tiễn Việt Nam và thế giới”.
2. K t c u ti u lu n <b>ế ấểậ</b>
Với đề tài trên, kết cấu bài tiểu luận được chia thành ba phần chính:
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">Phần 1: Khái niệm chung về bất bình đẳng xã hội Phần 2: Một số dạng bất bình đẳng xã hội
Phần 3: Liên hệ thực tiễn bất bình đẳng xã hội ở Việt Nam và trên thế giới Do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế, bài tiểu luận của em khơng tránh khỏi những sai sót. Em mong cơ giáo có thể đóng góp ý kiến để giúp bài tiểu luận của em được hoàn thiện. Em xin chân thành cảm ơn!
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">II. N I DUNG <b>Ộ</b>
1. Khái ni m b<b>ệất bình đẳ</b>ng xã h i <b>ộ</b>
Các xã hội đều có sự khác biệt và điều đó làm nên đặc trưng riêng của từng xã hội. Hiểu đơn giản, đó là quá trình con người tạo ra sự cách biệt về nhiều phương diện như vị thế, vai trò cùng những đặc điểm khác. Q trình đó chính là để chuẩn bị cho bất bình đẳng xã hội, là yếu tố cần để con người có cơ hội khơng ngang bằng nhau về sử dụng của cái, quyền lực, và uy tín.
Bất bình đẳng xã hội là một vấn đề trung tâm của xã hội học. Bất bình đẳng có tính kế thừa ở mọi thời đại và là một hiện tượng tồn tại ngẫu nhiên giữa các cá nhân trong xã hội, do cơ cấu xã hội mang lại. Như vậy, bất bình đẳng xã hội khác nhau khi tồn tại trong những xã hội khác nhau và nguyên nhân chính là do thể chế chính trị, bối cảnh lịch sử và điều kiện sinh sống của từng nơi quyết định.
Tóm lại, bất bình đẳng xã hội có thể được định nghĩa là sự khác biệt, chênh lệch hoặc khoảng cách trong lợi ích giữa các cá nhân, các gia đình, giữa các nhóm dân cư trong một quốc gia và giữa các quốc gia.
2. Phân lo i b<b>ạ ất bình đẳ</b>ng xã h i <b>ộ</b>
2.1. Bất bình đẳng mang tính tự nhiên
Bất bình đẳng mang tính tự nhiên là sự khác biệt giữa các cá nhân về những đặc điểm có sẵn mà ta khơng thể thay đổi. Ví dụ như đặc điểm ngoại hình, tuổi tác, chủng tộc, trí lực…
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">2.2. Bất bình đẳng mang tính xã hội
Bất bình đẳng mang tính xã hội là sự phân công xã hội làm cho các cá nhân phân tầng, từ đó các cá nhân sẽ nhận được mức độ đãi ngộ và lợi ích khác nhau trong xã hội. Ví dụ như do xã hội có các nhóm, hộ gia đình ở nhiều tầng lớp khác nhau nên sẽ chia thành giới thượng lưu, trung lưu và hạ lưu.
3. M t s <b>ộ ố quan điể</b>m v b<b>ề ất bình đẳ</b>ng xã h i <b>ộ</b>
Để chứng minh cho luận điểm bất bình đẳng xã hội khơng biến mất mà nó là hiện tượng xã hội bất biến, mang tính kế thừa từ xã hội này sang xã hội khác, các nhà xã hội học đã lần lượt đưa quan điểm của mình.
3.1. Quan điểm dựa trên yếu tố sinh học của cá nhân
Quan điểm này cho rằng bất bình đẳng xã hội ln có bởi vì sự khác biệt giữa mỗi người là ln có. Xã hội là một mơi trường mở, trong đó giữa con người và con người ln có sự khác nhau về tài năng và nhu cầu thì bất bình đẳng xảy ra chỉ là một lẽ tất yếu thường tình.
Lấy ví dụ điển hình là về bất bình đẳng giới trong xã hội, tức là sự khác nhau về mặt bản giới trong sinh học. Từ thời đại xưa, đã có nhiều nhà triết học khẳng định những khác biệt mang tính tự nhiên của các cá nhân. Như C.Mác và Ăngghen đã từng nói: “Tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại là sự tồn tại một cách tự nhiên của những cá nhân con người”. Tuy nhiên, vẫn có quá nhiều khác biệt trong phân chia giới như là kết quả không thể tránh được của bất bình đẳng xã hội. Ngày xưa thì có Aristotle (384-322 TCN) cho rằng : “Đàn ông bản chất là thống trị, đàn bà là bị trị, và đó là một luật lệ”, cịn ngày nay có Steven Goldberg nêu quan điểm: “Sự thống trị và sự thành đạt cao của nam giới là khả năng không thể đảo ngược, bởi có những khác biệt về sinh học giữa nam và nữ”.
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">3.2. Quan điểm của nhà xã hội học Karl Marx
C.Mác nghiên cứu dựa trên những học thuyết kinh tế mà ông cho là nền tảng của cơ cấu giai cấp. Ơng cho rằng mối quan hệ giai cấp chính là chìa khố để giải quyết mọi vấn đề trong đời sống xã hội, kể cả bất bình đẳng. Sở dĩ nói như vậy là vì lợi ích chính trị, kinh tế, ý kiến xã hội bắt nguồn và được phân chia từ sự phân tầng xã hội. Vậy nên chừng nào ta còn sống trong xã hội có sự phân tầng thì chừng ấy bất bình đẳng là một lẽ tất yếu và không thể biến mất.
3.3. Quan điểm của nhà xã hội học Max Weber
Weber cho rằng quyền lực kinh tế là kết quả của việc nắm giữ quyền lực đưa vào các lĩnh vực khác. Max Weber nghiên cứu cấu trúc xã hội sau Karl Max nửa thế kỷ nên ông đã kịp ghi nhận những thay đổi trong cấu trúc xã hội để đưa ra những quan điểm khác về sự phân tầng xã hội. Theo ông, cấu trúc xã hội chịu tác động của yếu tố kinh tế và phi kinh tế trong quá trình hình thành và biến đổi. Thị trường mới chính là thứ quan trọng chứ không phải là tái sản xuất như cơ sở kinh tế của giai cấp. Ông phân tích, ngun nhân của bất bình đẳng trong xã hội trước hết là vì khả năng chiếm lĩnh thị trường của cá nhân phụ thuộc vào sự hiểu biết, bản lĩnh và kỹ thuật làm nghề.
3.4. Đánh giá chung các quan điểm
Bất bình đẳng xã hội là một vấn đề đa chiều, đi cùng với cấu trúc xã hội, phân tầng xã hội, nó chính là vấn đề then chốt cần nghiên cứu của xã hội học. Từ quan điểm của các nhà xã hội học nghiên cứu về cơ cấu xã hội thì bất bình đẳng trước hết được xem như là điều kiện để tổ chức xã hội. Thứ hai, bất bình đẳng là cơ sở để cho các quan hệ xã hội dựa vào điều chỉnh sao cho phù hợp với xã hội hiện đại. Cuối cùng, bất bình đẳng là nhân tố đảm bảo cho đời sống và phát triển xã hội.
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8"><b>4. Cơ sở tạo nên bất bình đẳng xã hội </b>
Bất bình đẳng xã hội xuất hiện thì do đa dạng các nguyên nhân ở nhiều phương diện, nhưng các nhà xã hội học đã quy chúng vào ba nhóm cơ bản.
4.1. Những cơ hội trong cuộc sống
Những cơ hội trong cuộc sống có thể được hiểu là những thuận lợi vật chất mà cá nhân bị động hoặc chủ động có được nhưng mà dù là gì, chúng giúp cá nhân đó cải thiện cuộc sống, đem lại tài sản, thu nhập, sức khoẻ…
Trong một xã hội mở, những cơ hội trong cuộc sống được chia đều cho tất cả cá nhân, có một nhóm người đơi lúc sẽ có trong khi các nhóm khác lại khơng và ngược lại. Đây chính là tính khách quan của bất bình đẳng.
4.2. Địa vị xã hội
Sự khác nhau về địa vị xã hội là do một nhóm người trong xã hội xây dựng nên và thừa nhận chúng. Cơ sở địa vị có thể là do quan niệm, thành tố mà nhóm xã hội đó cho là ưu việt và được nhóm xã hội đồng tình và thừa nhận. Đó có thể là đặc điểm kinh tế, trình độ chun mơn, gia đình, lứa tuổi, quốc tịch, cư trú…
4.3. Ảnh hưởng chính trị
Bất bình đăng trong ảnh hưởng chính trị cũng gần giống như trong địa vị xã hội. Ảnh hưởng ấy có được là do có ưu thế về vật chất hoặc địa vị. Trên thực tế, bản thân chức vụ chính trị là cơ sở đạt được địa vị xã hội và những cơ hội trong cuộc sống.
1. B<b>ất bình đẳ</b>ng gi i <b>ớ</b>
Bất bình đẳng giới là kết quả của sự phân biệt đối xử dựa trên giới tính khiến cho một giới tính cụ thể thường xuyên được đặc quyền hoặc thiên vị, ưu tiên hơn giới
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">tính khác. Nó dựa trên nhận thức của xã hội về vai trò giới mà trong đó nam giới thường đường đánh giá cao hơn nữ giới nên bao giờ cũng có nhiều quyền hạn hơn phụ nữ. Đây cũng chính là dạng bất bình đẳng giới phổ biến nhất.
Một vấn đề ngày càng nhận được sự chú ý là sự khác biệt lớn trong giáo dục giữa nam giới và nữ giới, trong đó nữ ít được học tập trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, nhưng chiếm tỉ lệ cao trong các lĩnh vực liên quan đến khoa học xã hội. Đặc biệt, phụ nữ dường như ít được trong khoa học, cơng nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM). Tại Hoa Kỳ, vào năm 1970, chỉ có 9% số bằng tiến sỹ trong lĩnh vực nói trên, bao gồm cả khoa học xã hội là được trao cho phụ nữ, và sau gần 40 năm, đến năm 2018, tỉ lệ đó mới gần một nửa là 47%. Bất chấp sự tiến bộ, vẫn còn rất nhiều rào cản dai dẳng đối với phụ nữ theo đuổi bằng cấp trong lĩnh vực STEM.
Cũng giống như lĩnh vực giáo dục, mặt kinh tế cũng có những bất cơng trong phân bổ việc làm của nam nữ giới theo ngành. Ở các nền kinh tế tiên tiến, phụ nữ được làm việc nhiều hơn ở lĩnh vực dịch vụ thay vì nơng nghiệp và cơng nghiệp. Nhưng có sự chuyển dịch xu hướng trong năm 2018 từ khu vực dịch vụ sang công nghiệp. Ở các nước OECD<small>1</small>, việc làm của nữ giới trong lĩnh vực dịch vụ chiếm 80% số phụ nữ có việc làm, so với 60% ở nam giới. Trong lĩnh vực này, phụ nữ chiếm tỷ lệ cao trong các công việc thuộc lĩnh vực y tế, dịch vụ cộng đồng và giáo dục. ILO cho biết phụ nữ vẫn chiếm đa số trong các lĩnh vực có địa vị và mức lương thấp.
2. B<b>ất bình đẳ</b>ng ch ng t c <b>ủộ</b>
Bất bình đẳng chủng tộc được hiểu là sự phân bổ không đồng đều các nguồn lực, quyền lực và cơ hội kinh tế giữa các chủng tộc trong một xã hội.
<small>1 Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development). Hiện tổ chức này có 38 thành viên quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển nhất thế giới. </small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">Dạng bất bình đẳng xã hội này xảy ra phổ biến hơn cả ở đất nước phát triển bậc nhất thế giới – Mỹ. Giống như người da đen, người gốc Tây Ban Nha ở các bang sau khi được khảo sát thì đều cho ra kết quả được trả lương ít hơn người da trắng. Chủ tịch và giám đốc điều hành của NUL Marc H.Morial cho rằng: “Đây là vấn đề liên quan đến quyền công dân và công bằng kinh tế ở Mỹ. Khoảng cách kinh tế giữa người da đen và người da trắng, vốn là một bộ phận cấu thành của khoảng cách giữa người giàu, người nghèo và người thuộc tầng lơp slao động tại Mỹ, là một thực tế đang tiếp diễn”. Về cơ bản, sự cách biệt kinh tế giữa các chủng tộc đang sống tại Mỹ là một điều đáng quan ngại vì nó đóng góp vào sự chênh lêchj giàu nghèo vốn không ngừng gia tăng ở nước Mỹ trong khoảng 30 năm trở lại đây, gây nên sự chia rẽ và phân biệt chủng tộc.
VÀ TRÊN TH <b>Ế GIỚ</b>I 1. Trên th gi i <b>ế ớ</b>
Phần lớn các thảo luận về hiện trạng thế giới đều nhận định rằng thế giới càng phát triển, bất bình đẳng càng trở nên sâu sắc hơn.
Liên Hợp Quốc vừa cơng bố báo cáo với tựa đề “Tình hình xã hội thế giới: Tình trạng bất bình đẳng” để bàn về các vấn đề cấp bách trên thế giới. Báo cáo này chỉ ra rằng thế giới bị phân cực hơn cách đây 10 năm, sự bất bình đẳng thường tỉ lệ thuận với tốc độ tồn cầu hố. Sự phân hố giàu nghèo trở nên tệ hơn ở một số nước châu Á, châu Mỹ Latin và châu Phi khi chỉ tính riêng vùng Sahara châu Phi, số…… Đáng chú ý, 80% GDP của thế giới thuộc một tỷ người sống ở các nước công nghiệp phát triển, trong khi 5 tỷ người ở các nước đang phát triển chia nhau 20% cịn lại.
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">Rõ ràng, khi khơng chú tâm đến tình trạng bất bình đẳng sẽ dẫn đến sự bất công trong xã hội và không thể bảo đảm các điều kiện sống tốt hơn cho tất cả mọi người. Điều đó sẽ dẫn đến sự gia tăng trong bất bình đẳng xã hội và khơng ai khác, chính chúng ta là người phải trả giá.
2. T i Vi t Nam <b>ạệ</b>
Không phải là một vấn đề quá xa xôi chỉ xảy ra trên thế giới, bất bình đẳng xã hội xảy ra ở ngay cả đất nước nhỏ bé như Việt Nam chúng ta đây.
Biểu hiện của bất bình đẳng xã hội rất đa dạng. Ở Việt Nam, bất bình đẳng xã hội có thể là bất bình đẳng về vùng miền. Ví như một số người sống ở các thành phố lớn thường có xu hướng dè bỉu hoặc khinh thường người ở các tỉnh khác nhỏ hơn hoặc trên vùng núi, tuy không phải tất cả đều như vậy nhưng nó vẫn diễn ra. Bất bình đẳng xã hội cịn hiện hữu dưới dạng bất bình đẳng thu nhập. Trong giai đoạn 2007 – 2018, thu nhập của các nhóm dân cư đều tăng lên nhưng thu nhập của nhóm nghèo ln thấp hơn nhóm giàu, do vậy bất bình đẳng thu nhập ngày càng lớn. Năm 2006 cả nước có 15,5% số hộ nghèo, con số này vào năm 2018 là 5,35%. Trong đó, khu vực thành thị có tỉ lệ hộ nghèo giảm nhanh hơn ở khu vực nơng thơn, điều này chứng tỏ bất bình đẳng thu nhập giữa khu vực nông thôn và thành thị khá lớn.
Để giảm thiểu tình trạng này, Việt Nam đã chủ động có nhiều biện pháp thay đổi tích cực. Về phía Chính phủ, nhiều chính sách đã được ban hành giúp đảm bảo an sinh xã hội, đề xuất các gói hỗ trợ để người lao động nghèo có thêm thu nhập. Về phía các doanh nghiệp, cần phải tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng. Về phía người lao động, họ tự ý thức về việc học tập, trau dồi, nâng cao kỹ năng để thích nghi với xã hội và thị trường lao động không ngừng thay đổi. Những biện pháp trên cần có sự phối hợp chặt chẽ và nhịp nhàng giữa các Bộ ban ngành, địa phương và cá nhân.
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">III. K T LU<b>ẾẬN </b>
Nhân loại đang sống trong một xã hội phát triển nên việc xảy ra bất bình đẳng xã hội là điều không thể tránh khỏi. Như cũng đã phân tích, hiện tượng xã hội này cũng mang tính bất biến và kế thừa, điều duy nhất chúng ta có thể thay đổi là nằm ở cách ta nhìn nhận, đối diện và xử lý vấn đề.
Trong các thập kỷ qua, đã có những nỗ lực tích cực nhằm cải thiện hiện trạng bất bình đẳng xã hội trên thế giới và cả ở Việt Nam mà ta khơng thể phủ nhận. Sự tích cực đó trước hết đã giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng xã hội, đem lại một thế giới công bằng hơn cho các bộ phận bị đối xử thiệt thòi như nữ giới và người da màu và tác động đến các lĩnh vực khác như tăng trưởng kinh tế vì đã giảm thiểu được bất bình đẳng trong thu nhập giữa nam và nữ giới.
Tuy nhiên, trong khi một bộ phận không nhỏ những người đang ra sức để giúp đỡ đòi lại quyền bình đẳng, quyền con người để đem lại một thế giới tốt đẹp hơn thì đâu đó vẫn có những người cịn thờ ơ, vơ cảm và chúng ta cần phê phán nhóm người này. Tóm lại, sống trong một thế giới 4.0 hiện đại về mọi mặt ta không thể không tránh khỏi bất bình đẳng xã hội nhưng đó khơng phải cái cớ để phớt lờ hiện tượng xã hội tiêu cực này, thay vì đó phải hành động để giảm thiểu nó. Có được như thế, thế giới mới hồ bình và chan hồ khi những người có khác biệt về màu da, chủng tộc, giới tính, thu nhập… không bị phân biệt đối xử, ai ai cũng được hưởng quyền con người, quyền bình đẳng. Có lẽ vì thế mà Liên hợp quốc mới chọn ra ngày 10 12 hằng năm -là ngày Nhân quyền thế giới, đặc biệt vào năm 10-12-2012 để gửi gắm thơng điệp “Bình đẳng – Giảm bất bình đẳng – Thúc đẩy quyền con người”. Điều này mang ý nghĩa thật lớn đối với những ai đã luôn phải chịu thiệt thòi, và để ta nhận ra những điều như vậy nên được bảo vệ và phát huy nhiều hơn.
</div>