Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (90.43 KB, 34 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b>“CÁI LẼ THƯỜNG” TRONG TRUYỆN “CON CHUỘT THÀNH</b>
<b>TINH” – THÁNH TÔNG DI THẢO TỪ TUYỂN TẬP TRUYỆN</b>
<b>VIỆT NAM THẾ KỶ X- XIX</b>
<b><small>MỤC LỤC</small></b>
<small>A.PHẦN MỞ ĐẦU……… 3</small>
<small>1.Lý do chọn đề tài……….. 3</small>
<small>2. Mục đích nghiên cứu………... 3</small>
<small>3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………... 3</small>
<small>4. Phương pháp nghiên cứu………. 4</small>
<small>B. NỘI DUNG……….4</small>
<small>Chương 1 Lí luận về “ Lí lẽ chung trong lập luận”……….4</small>
<small>1.Lập luận là gì?... 4</small>
<small>1.1. Khái niệm………. 4</small>
<small>1.2. Cách biểu diễn quan hệ lập luận giữa các phát ngôn……… 4</small>
<small>2. Thế nào được gọi là “lí lẽ ”?... 5</small>
<small>2.2.3. Lí lẽ khách quan và lí lẽ nội tại………. 6</small>
<small>2.3.4. Lí lẽ chung- điểm then chốt cho sáng tạo trong tu từ và thipháp………..7</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><small>2.3.5. Lí lẽ chung trong tranh luận……….. 7</small>
<small>2.2.8.2. Đánh giá theo giá trị chân lí đúng hay sai……….8</small>
<small>2.2.8.3. Đánh giá theo giá trị thẩm mĩ đẹp hay xấu………. 9</small>
<small>2.2.8.4.Đánh giá theo giá trị tinh thần tốt hay xấu……….. 9</small>
<small>2.2.9. Tục ngữ là kho tàng lí lẽ chung………9</small>
<small>Chương 2 Phân tích “Cái lẽ thường” được nhà văn sử dụng trong truyện“Con chuột thành tinh” - Thánh tông di thảo” từ tuyển tập truyện Việt Nam thếkỷ X - XIX ………. 10</small>
<small>1. Tóm tắt nội dung câu truyện……… 10</small>
<small>2. Phân tích “cái lẽ thường ” trong truyện “Con chuột thànhtinh”……… 10</small>
<small>Chương 3 Giải pháp xác lập các lẽ thường thông qua câu truyện…... 16</small>
<small>1. Chú ý đến các tác tử thêm vào như mới, đã………... 16</small>
<small>2. Chú ý đến các dấu hiệu giá trị học………. 16</small>
<small>3. Chú ý đến các kết tử lập luận như nên, nhưng, thì………… 16</small>
<small>C. KẾT LUẬN……….. 16</small>
<small>TÀI LIỆU THAM KHẢO……….17</small>
<b>A. PHẦN MỞ ĐẦU</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">1.Lý do chọn đề tài
Ngữ dụng học có thể được định nghĩa là sự nghiên cứu ngôn ngữ
trong sử dụng và giao tiếp bằng ngôn ngữ. Đây là một bộ mơn mới và sơi
động, là cái đích cuối cùng của tồn bộ ngơn ngữ học, tất cả các bộ mơn
khác như ngữ âm học, từ vựng học, ngữ pháp học và ngữ nghĩa học điều
nhằm đi tới cái đích này. Vì sao phải nghiên cứu ngữ dụng học? Và
nghiên cứu những cái gì? Cách thức nghiên cứu như thế nào?
Thực ra ngữ dụng học nghiên cứu rất nhiều mảng chẳng hạn như
nghiên cứu hành vi ngôn ngữ, cấu trúc hội thoại, lập luận logic…Tuy
nhiên theo chúng tôi nghiên cứu về lí lẽ chung trong lập luận là rất quan
trọng và cần thiết. Bởi lẽ trong cuộc sống con người luôn luôn cần dùng
tới lập luận. Dùng lập luận để chứng minh một điều gì đó. Dùng lập luận
để thanh minh, để giải thích một sự kiện nào đó, để thuyết phục người
khác tin vào một sự kiện và có thể lập luận để bác bẻ một ý kiến khác.
Sự lập luận có tầm quan trọng đặc biệt.Cho nên, ngay từ thời cổ
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">đại, thế kỉ V trước cơng ngun nó đã được chú ý nghiên cứu.
Chúng ta có thể thấy rõ sự hiện diện của nó trong thơ văn thế kỉ
X-XIX. Đặc biệt là trong thể loại truyện văn xuôi. “Con chuột thành tinh” là
một trong những câu truyện tiêu biểu cho sự vận dụng “cái lẽ thường”
của các nhà văn đương thời.
Từ những lí do trên, chúng tơi chọn “Cái lẽ thường trong câu
truyện con chuột thành tinh làm đề tài nghiên cứu”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các lí lẽ lập luận được nhà văn sử dụng
trong câu truyện, chúng tơi có thể tìm thấy cái lẽ thường thông qua các
lượt lời của nhân vật và từ đó đưa ra một số giải pháp cần chú ý khi xác
lập lí lẽ thường.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
“Cái lẽ thường” trong câu truyện “con chuột thành tinh”.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">Các lí lẽ lập luận được nhà văn sử sụng trong câu truyện văn xuôi
“ Con chuột thành tinh”- Thánh tông di thảo từ tuyển tập truyện Việt Nam
thế kỉ X- XIX của Hoàng Hữu Yên tuyển chọn, 1987.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp quan sát, trích dẫn và
phân tích tài liệu.
<b>B. NỘI DUNG</b>
<b>Chương 1 Lí luận về “ Lí lẽ chung trong lập luận”</b>
<b>1. Lập luận là gì?</b>
1.1. Khái niệm
Lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một
kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới.
1.2. Cách biểu diễn quan hệ lập luận giữa các phát ngơn
Ta có thể biểu diễn như sau:
p-> r
p là lí lẽ, r là kết luận (p, r có thể diễn đạt bằng các phát ngôn u1, u2,
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">u3 v.v…)
Trong quan hệ lập luận, lí lẽ được gọi là luận cứ (argument). Vậy có
thể nói quan hệ lập luận là quan hệ giữa luận cứ ( một hoặc một số ) với
kết luận.
Luận cứ có thể là thơng tin miêu tả hay là một định luật, một nguyên
lí xử thế nào đấy.
Ví dụ:
- Con mèo này màu đen(p) (nên) rất dễ sợ(r).
p là một thông tin miêu tả.
- Mệt mỏi thì phải nghỉ ngơi(p) mà cậu thì đã làm việc liền 8 tiếng
rồi (q) cậu phải nghe nhạc một lát (r).
Ở ví dụ này chúng ta có hai luận cứ, p là một nguyên lí sinh hoạt
và q là nhận xét về một trạng thái tâm sinh lí.
<b>2. Thế nào được gọi là “lí lẽ ”?</b>
2.1. Khái niệm
Nói tới lập luận là nói tới lí lẽ. Lí lẽ đó có thể được thể hiện trong
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">một câu mà cũng có thể được thể hiện trong nhiều câu có liên kết với
2.2. Lí lẽ chung: một hệ thống logic xã hội đời thường( cái lẽ thường)
2.2.1. Vấn đề lí lẽ chung được đặt ra một cách thực tiễn như sau:
Mỗi một sự kiện sẽ gây ra một phản ứng, một cách đánh giá nào đó.
Chẳng hạn, trước một hành động, , trước một sự kiện tịa án sẽ có sự phán
xét. Như vậy người ta cần tìm các dun cớ, các lí lẽ cho một sự kiện và
trình bày nó một cách hệ thống.
Từ xa xưa, phương pháp chung để tìm ra lí lẽ trong lập luận về một sự
kiện là đề cập tới một loạt câu hỏi liên quan tới sự kiện. Ngay từ thời
trung cổ, điều này đã được đúc kết thành một châm ngôn về 7 yếu tố cấu
thành cơ sở cho lí lẽ về một sự kiện. Đó là “quis, quid, ubi, quibus
auxilliis, cur, quomoddo, quando”(ai?, vật gì? ở đâu? Cơng cụ gì? Duyên
do gì? Cách thức ( thế nào)? Khi nào?).(Dẫn theo Platin 1990 : 237).
Cái lối hỏi làm nền tảng cho sự lập luận và tạo lập văn bản này tồn tại
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">ở nhiều dân tộc và trong nhiều thể loại.
2.2.2. Lí lẽ cho những sự kiện là có sẵn
Mỗi sự kiện đều liên quan một cách hữu cơ với những sự kiện khác.
Chúng tạo nên mối quan hệ nhân quả phức tạp giữa những yếu tố khác
nhau liên quan đến chủ thể của hành động, chủ thể của sự kiện, những
yếu tố về đối tượng, thời gian, động cơ của hành động. Mối quan hệ này
đã tồn tại sẵn đối với từng sự kiện.
Vậy thì khi đi tìm lí lẽ cho một sự kiện khơng phải là tìm ra những lí
lẽ mới chưa từng có mà tìm trong kho lí lẽ chung đã biết, đã có về những
mối quan hệ đã tồn tại giữa các sự kiện, những lí lẽ thích đáng nhất, có
sức thuyết phục nhất cho sự kiện đang được quan tâm.
Những lí lẽ cho một sự kiện cũng vậy. Chúng được đưa ra một cách
cân nhắc, có tính tốn phục vụ cho một mục tiêu rõ ràng và tạo thành một
chuỗi lí lẽ hợp lí, có sức thuyết phục cho sự kiện. Nếu người đi săn có
nhiều con đường để xua đuổi con mồi thì người biện hộ hoặc cáo buộc
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">cũng có cách trình bày theo những trình tự khác nhau những lí lẽ đưa ra
phục vụ cho mục tiêu của mình.
2.2.3. Lí lẽ khách quan và lí lẽ nội tại
Từ thời cổ đại người ta đã phân biệt lí lẽ thành 2 loại: nội tại và
khách quan.
Lí lẽ nội tại gồm những lí lẽ về những chứng cứ liên quan tới những
qui luật về quan hệ nhân quả. Yếu tố cá nhân cũng là những chứng cứ
làm luận chứng cho quy luật nhân quả. Theo Quintilien, có 14 yếu tố cá
nhân dùng làm cơ sở xây dựng luận chứng cho lập luận. Đó là gia đình,
dân tộc, tổ quốc, giới tính, tuổi tác, giáo dục, trạng thái thể chất, tài
sản.v.v… Người ta lập luận theo kiểu “ Người này có giáo dục vậy thì
người này khơng thể hành động nghư vậy”, hay “Người này đang trong
trạng thái suy sập tinh thần cho nên khơng có gì đáng ngạc nhiên khi
người này đã có hành động ấy.v.v. ”
Có 23 yếu tố làm cơ sở cho những luận chứng nhân quả.
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">Lí lẽ khách quan là loại lí lẽ xây dựng trên những chứng cứ khơng
thuộc phạm vi lí lẽ nội tại. Người ta xếp vào đây tất cả những gì có được
một cách thực tế, như : “dư luận, tiếng đồn, sự dằn vặt, giấy tờ, lời thề,
các bằng chứng…”. Chẳng hạn “Ông X đã nhiều lần thể hiện sự trung
thực của mình, lại đã thề trước hội đồng vậy thì những điều ơng ấy nói là
đáng tin cậy”…
2.3.4. Lí lẽ chung- điểm then chốt cho sáng tạo trong tu từ và thi
Theo H. Lausberg (1971), một tác giả người Đức, từ topos được
Curtius dùng từ năm 1948 như một thuật ngữ của lí luận văn học với
nghĩa là “một dạng thức khái quát mà nhà văn hiện thực hóa giọng điệu
theo những nhu cầu diễn đạt cần thiết (dẫn theo Platin, 1990)”. Điều này
có nghĩa là “chủ đề”, duyên cớ làm nên chủ đề” sẽ tạo nên những hình
thức và những chức năng đa dạng ở một tác phẩm văn học. Một topos- lí
lẽ chung- cũng có thể là một cơng thức, một khn mẫu nói năng. Chẳng
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">hạn những khn mẫu cho cách nói khiêm tốn, cho cách bày tỏ sự tơn
phục. Người ta cũng dùng lí lẽ để tự an ủi. Trong thần thoại Hi Lap,
Achille được báo trước rằng sẽ bị chết yểu. Chàng ta chấp nhận số phận
với lí lẽ “Ngay Héraclès quyền uy là thế cũng khơng thốt khỏi cái chết”.
Theo Curtius(1956), lí lẽ chung dựa trên tiền đề tâm lí, những đặc
thù dân tộc và lịch sử cũng là những phương tiện và cội nguồn của những
sáng tạo, phát hiện những quy luật thi pháp cả về phương diện hình thức
lẫn phương tiện nội dung.
2.3.5. Lí lẽ chung trong tranh luận
Trong những cuộc hội thoại tranh luận, mỗi bên đối thoại thường sử
dụng những câu hỏi chất vấn dựa trên những lí lẽ chung. Điều này được
biết đến ngay từ thời Socrate và các nhà nghiên cứu về thuật ngụy biện
từ thời đó. Nghiên cứu về sự chất vấn trong hội thoại dẫn đến “ nghệ
thuật hội thoại” luận cứ theo cách gọi của Hintikka (1987).
Lí thuyết về thang độ luận cứ của Ducrot (1973) giúp ích rất nhiều
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">trong việc phân tích những hiện tượng hội thoại tranh luận, đặc biệt là
những câu chất vấn để bác bỏ, những câu hỏi về lí lẽ.
2.3.6. Một số kiểu lí lẽ để thuyết phục
2.3.6.1. Lí lẽ về thuộc tính
Có nhiều người có tài ăn nói- lợi khẩu – thường thyết phục được
người khác nhờ những lí lẽ nghe “ thuận tai”. Những lí lẽ này thường
khơng có hình thức của một tam đoạn luận “ hơn - kém”.
2.3.6.2. Một vài logic xã hơi đời thường trong lí lẽ về thuộc tính
Ở đây, chúng ta sẽ nêu lên một số cách lập luận cũng dựa trên thuộc
tính, nó phản ánh logic đời thường của chúng ta.
- Lấy thuộc tính tất yếu của hiện tượng này để chứng minh rằng một
hiện tượng khác cũng có thuộc tính ấy.
- Lấy thuộc tính bộ phận làm lí lẽ cho thuộc tính quyết định.
- Lấy sự đồng nhất logich để nhấn mạnh tới một sự đương nhiên, tất
yếu như là một quy luật.
Hành vi con người là một phương diện của thuộc tính con người. Vì
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">vậy, có riêng những lí lẽ về hành vi con người.
2.3.7. Lí lẽ chung về hành vi và con người
- Lí lẽ căn cứ vào hành động: Từ hành động suy ra con người.
- Lí lẽ căn cứ vào con người: Từ con người suy ra hành động.
2.2.8. Lí lẽ chung về sự đánh giá
2.2.8.1. Một sự vật thường được đánh giá theo 4 phương diện sau:
Chân, thiện, mĩ, dụng. Sự đánh giá mỗi sự vật sẽ căn cứ vào những
chuẩn mực về loại sự vật đó hiện được xã hội chấp nhận. Cùng một hiện
tượng, cùng một loại sự vật nhưng mỗi thời nhìn nhận một khác, mỗi nơi
nhìn nhận mỗi khác, mỗi xã hội nhìn nhận một khác theo những chuẩn
mực khác nhau. Nghĩa là chuẩn mực của sự vật thay đổi theo khơng gian,
thời gian, dân tộc, văn hóa.
2.2.8.2. Đánh giá theo giá trị chân lí đúng hay sai
Lí lẽ theo kiểu này là : “Sự việc này đúng vì quả thực là nó tồn tại”;
“Điều này đúng vì nó căn cứ khoa học”; “Bản này hồn tồn đáng tin vì
đây là bản gốc.”
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">2.2.8.3. Đánh giá theo giá trị thẩm mĩ đẹp hay xấu
Lí lẽ theo kiểu này là:
- Vật này rất giá trị vì nó đẹp.
- Tịa nhà này rất tuyệt vời (vì) trơng rất nguy nga, tráng lệ.
- Dùng sản phẩm X, bạn sẽ có một vẻ đẹp khác thường.
2.2.8.4.Đánh giá theo giá trị tinh thần tốt hay xấu
Hành vi ứng xử của con người được đánh giá theo những chuẩn mực
đạo đức xã hội mà mọi người có nghĩa vụ tuân theo. Về phương diện
khách quan đó là tiêu chuẩn đạo đức chung cho mọi người. Về phương
diện chủ quan, có những người tự đề ra những nguyên tắc đạo đức nhất
định mà người đó sẽ tuân theo và do đó dùng để đánh giá những người
khác. Vì vậy, một người có thể nhân danh nguyên tắc đạo đức nào đó của
xã hội hoặc của chính mình, để làm cơ sở cho một lí lẽ.
2.2.9. Tục ngữ là kho tàng lí lẽ chung
Bình luận về một con người bạc ác, hay hãm hại người khác, chúng ta
nói : “nó hay hại người, tất có người hại nó”. Câu này là một lập luận dựa
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">trên lí lẽ về thuyết nhân quả “gieo gió thì gặt bảo”, “sinh sự thì sự sinh”.
Một gia đình trước kia giàu có, quyền cao chức trọng nhưng ăn ở với mọi
người khơng ra gì, hống hách… sau đó đời cháu đã bị sa sút, trở nên
nghèo hèn, người ta có thể bình luận: “Đời cha ăn mặn đời con khát
nước mà.” Câu này cũng là một lí lẽ về thuyết nhân quả. Có hàng loạt
những lời ngợi khen hay chê trách, ban thưởng hay trừng phạt, khuyến
khích hay can ngăn… cũng đều dùng tới lí lẽ về quan hệ nhân quả “ có
chí thì nên”, “có cơng mài sắt có ngày nên kim”… Những lí lẽ đó đều là
những tục ngữ. Chúng phản ánh nhận thức con người về qui luật xã hội
và tự nhiên, qui luật về những mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tượng.
Chúng là lí lẽ, triết lí của một cộng đồng xã hội, của một dân tộc. Vì vậy,
tục ngữ là kho tàng lí lẽ chung, lí lẽ về mọi phương diện của cuộc đời
người sống trong trời đất.
<b>Chương 2 Phân tích “Cái lẽ thường” được nhà văn sử dụng</b>
<b>trong truyện “Con chuột thành tinh” - Thánh tông di thảo” từ tuyển</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16"><b>tập truyện Việt Nam thế kỷ X - XIX </b>
1. Tóm tắt nội dung câu truyện
Đây là câu truyện văn xuôi do Thánh tông di thảo(chữ Hán) và được
Bùi Văn Nguyên dịch sang tiếng Việt.
Câu truyện kể về một anh chàng con nhà giàu được cha mẹ cưới cho
một người vợ mà anh rất mực thương yêu. Một hôm người cha bảo anh
ấy nên đi tìm thầy học đạo kẻo về già khơng làm gì được. Anh ấy đã vâng
lời cha và cùng với một nô bộc đi học ở phương xa. Thấy người chồng đi
vắng, một con chuột tinh đã biến thành anh ta và ngủ với vợ của anh ta
vào lúc đêm khuya. Sự việc này cứ tiếp diễn như thế cho đến khi ông cha
viết một bức thư gọi con trai về. Khi người chồng về người vợ chẳng
những không thấy vui mừng mà cịn khơng nói năng gì khi người chồng
hỏi han. Khi bị chồng sỉ nhục người vợ mới kể ra tất cả. Con chuột đã
biến y như người chồng đến nỗi cha mẹ và vợ không nhận ra ai là thật ai
là giả nên phải nhờ đến vua nhưng vua cũng không thể xử án được lại
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">phải nhờ đến thần linh. Cuối cùng con chuột đã bị giết, đốt ra tro và rắc
xuống sông.
Đây là một câu truyện kì dị, mang tính ma qi, nhưng nó rất hấp dẫn
<b>vì nhà văn đã sử dụng lí lẽ lập luận sắc bén, logic, hợp lẽ thường thơng</b>
qua các cặp trao đáp.
2. Phân tích “cái lẽ thường ” trong truyện “Con chuột thành tinh”
Để cốt truyện thêm phần hấp dẫn, nhà văn đã sử dụng rất nhiều
luận cứ làm lập luận, chẳng hạn như các trích đoạn sau:
Trích đoạn 1:
“Có một anh con nhà giàu hai mươi tuổi, được cha mẹ cưới cho
một người vợ có nhan sắc mà anh rất thương yêu(1). Được nửa năm cha
anh nói với anh(2)
- Người xưa nói: Trẻ mà khơng học, lúc già sẽ làm được gì nữa(3)!.
Con nay đương tuổi cường tráng, chính là lúc tiến đức tu nghiệp, chứ nếu
cứ mãi mê tình chăn gối để cho ngày xanh trôi qua, sau này sẽ hối không
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">kịp(4). Con hãy đi xa tìm học, hàng tháng về nhà một lần cũng đủ(5). ”
Câu (1)(2) là câu giới thiệu nhưng đến câu (3) nhà văn đã sử dụng
luận cứ về thuyết nhân quả. Sau đó là một loạt lập luận nêu lên những lí
lẽ cần thiết để chứng minh tai sao người cha lại bảo con phải đi học. Lập
luận thứ nhất là “con nay đương tuổi cường tráng(p), chính là lúc tiến đức
tu nghiệp(r)”. Lập luận thứ hai là đưa ra là một giả thiết “chứ nếu cứ mãi
mê tình chăn gối để cho ngày xanh trôi qua(p), sau này sẽ hối không
Về phương diện ngôn ngữ, lập luận này đã sử dụng các liên từ để
giải thích như “chính là lúc”, hay quan hệ từ “chứ nếu cứ ……sau này
sẽ……” để thuyết phục.
Trích đoạn 2:
“ Người con cương quyết từ giả cha mẹ, cùng một lão bộc đi phương
xa tìm thầy học tập(6). Buổi tiễn đưa người vợ quyến luyến nhỏ to mấy
</div>