Tải bản đầy đủ (.pdf) (22 trang)

Xã hội học đại cương đề tài nghiên cứu quan điểm của sinh viên ngoại giao về hôn nhân đồng giới

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.33 MB, 22 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>HỌC VIỆN NGOẠI GIAO VIỆT NAMKHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ</b>

<small>************ </small>

TIỂU LUẬN

MƠN HỌC: XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG

<b>ĐỀ TÀI: Nghiên cứu quan điểm của sinh viên Ngoại giao về hơn nhân</b>

đồng giới

Sinh viên thực hiện: Nhóm 6 Trưởng nhóm: Chu Thanh Phương

Lớp: XHHĐC-QHQT50.6_LT

Giảng viên hướng dẫn: TS. NGUYỄN THỊ HỒNG NAM

Hà Nội, tháng 12 năm 2023

<b> </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu...5

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...6

6. Phương pháp nghiên cứu...6

7. Kết cấu...6

<b>II. Nội dung...7</b>

1. Phương pháp thực hiện nghiên cứu...7

2. Tổng hợp kết quả nghiên cứu...7

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>I. Lời mở đầu</b>

1. Tên đề tài

Nghiên cứu quan niệm của sinh viên Ngoại giao về hơn nhân đồng giới. 2. Tính cấp thiết của đề tài

LGBT - viết tắt của các chữ cái đầu của một cộng đồng những người đồng tính luyến ái nữ (Lesbian), đồng tính luyến ái nam (Gay), song tính luyến ái (Bisexual), người chuyển giới (Transgender). Ngoài ra hiện nay còn nhiều những thuật ngữ mới xuất hiện trong cộng đồng như người có khuynh hướng tình dục nằm ngồi nhóm nam, nữ (Queer), người liên giới tính (Intersex), người vơ tính (Asexual),... Ở thời kỳ trước, khi y học chưa phát triển, xã hội chưa hiện đại như ngày nay thì những người thuộc cộng đồng LGBT có thể bị coi là mắc bệnh tâm thần. Nhưng kể từ ngày 15/7/1990, Liên Hiệp Quốc công bố LGBT không phải là một bệnh tâm thần - một cột mốc đáng nhớ với những người thuộc cộng đồng này bởi họ đã chính thức được thừa nhận, được tự do sống với chính mình và được coi là một trong những cộng đồng của nhân loại. Đi kèm với sự phát triển và công nhận, cộng đồng LGBT ngày nay cũng đang vận động địi lại những quyền lợi cơ bản của mình như sự công nhận về mặt pháp lý hay bảo vệ quyền con người.

Với sự cởi mở và cập nhập hơn trong thời đại ngày nay, những vấn đề cơ bản của cộng đồng đang dần được xã hội quan tâm và bàn luận. Điển hình là dự thảo luật Chuyển đổi giới tính dành cho nhóm cộng đồng người chuyển giới đang nhận được nhiều sự quan tâm từ những nhóm tổ chức và Quốc hội khi dự thảo luật này đã được đăng tải trên trang cổng thông tin Quốc hội vào ngày 30/11/2023 và sẽ được xuất trình Quốc hội để lấy ý kiến vào kỳ họp tiếp theo diễn ra vào tháng 10 năm 2024. Đây là một thông tin đáng mừng cho cộng đồng

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

cũng như toàn thể nhân dân khi nhà nước Việt Nam đã có những cái nhìn cởi mở hơn về quyền lợi dành cho nhóm thiểu số này. Đặc biệt, vấn đề về hôn nhân đồng giới cũng là một khía cạnh quan trọng nhận được nhiều sự quan tâm tới từ xã hội, cũng đang trong quá trình vận đồng, lấy ý kiến công khai nhằm đảm bảo những quyền lợi cơ bản về hơn nhân, tình u, quyền con người cho nhóm cộng đồng người đồng tính.

Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu, đánh giá được nhu cầu, mức độ quan tâm và sự nhận thức của sinh viên Học viện Ngoại giao về vấn đề Hôn nhân đồng giới hiện nay. Thông qua những nghiên cứu tổng quát cùng phần khảo sát đã thực hiện với những sinh viên cùng thế hệ, các hoạt động trao đổi, thảo luận nhóm đã diễn ra sơi nổi và giúp từng thành viên có cái nhìn khoa học hơn, cụ thể hơn về chủ đề này. Từ đây, giúp cho các thành viên trong nhóm có cái nhìn sâu sắc hơn về đề tài nhóm đang thực hiện nói riêng, cũng như là có cái nhìn bao qt và tồn diện hơn về học phần xã hội học nói chung.

3. Tóm tắt lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề “Hôn nhân đồng giới” đã được chú ý và quan tâm tại Việt Nam từ khá sớm, đặc biệt, năm 2013, Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) cùng Viện Xã hội học và Viện Chiến lược và Chính sách y tế đã phối hợp, thực hiện cuộc khảo sát xã hội quy mô toàn quốc về thái độ, quan điểm của xã hội Việt Nam về vấn đề hôn nhân đồng giới. Đã có 33.7% người tham gia khảo sát ủng hộ hợp pháp hóa hơn nhân cùng giới và 41.2% cơng nhận quyền chung sống như vợ chồng của những người chung giới tính. Cũng như vậy, theo khảo sát của Vnexpress trong tháng 8/2013, có 1.388/1.732 người (chiếm 80.14%) đề nghị thừa nhận và có 1.732 người (chiếm 19.86%) khơng đồng ý thừa nhận [1]. Trong nghiên cứu đồng tính nữ, nếu pháp luật cho phép, 77% cho rằng họ muốn kết hôn, 3% không muốn, 16% cho rằng kết hôn hay không

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

không quan trọng và số cịn lại khơng rõ mong muốn của mình [2]. Kết quả của những cuộc nghiên cứu, khảo sát trên đã góp phần cung cấp những thơng tin nền tảng, thúc đẩy sự sửa đổi trong bộ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, khi Quốc hội Việt Nam thông qua việc bỏ điều khoản “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” (Luật Hơn nhân và Gia đình năm 2000) và thay thế bằng quy định “khơng thừa nhận hơn nhân giữa những người cùng giới tính” (Điều 8, Khoản 2 về điều kiện kết hôn, Luật Hơn nhân và Gia đình năm 2014).

Tính đến gần đây, năm 2021 vẫn còn tồn tại rất nhiều quan điểm trái chiều về việc kết hôn đồng giới bao gồm cả đồng tình, phản đối và trung lập. Ở Việt Nam hiện chưa có một cuộc nghiên cứu thống kê chính thức nào về xu hướng tính dục, đặc biệt là thống kê số lượng người đồng tính nam và đồng tính nữ. Theo cuộc thống kê khơng chính thức từ tổ chức phi chính phủ CARE, ước tính đến năm 2012, Việt Nam có khoảng từ 50.000 – 125.000 người đồng tính[3]. Tính tới năm 2022, con số này đã tăng lên đáng kể (chiếm từ 9-11% dân số theo iSEE và VESS) [4]. Số lượng các cặp đơi đồng tính cơng khai kết hơn cũng ngày càng tăng.

4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4.1. Mục đích nghiên cứu

Bài nghiên cứu nhằm hai mục đích là đánh giá mức độ hiểu biết của sinh viên Ngoại giao về khái niệm “Kết hôn đồng giới” cũng như thái độ của sinh viên Ngoại giao về “Kết hôn đồng giới tại Việt Nam”.

4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Những nhiệm vụ đặt ra để đạt được mục đích của bài nghiên cứu bao gồm: Sự phổ biến của khái niệm “Hơn nhân đồng giới” trong nhóm sinh viên Ngoại giao;

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

thực trạng hiểu biết của sinh viên Ngoại giao về khái niệm “Hôn nhân đồng giới”; ảnh hưởng về mặt đạo đức, xã hội và luật pháp Việt Nam về vấn đề “Kết hôn đồng giới”.

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Khách thể cung cấp thông tin cho đề tài nghiên cứu là sinh viên khóa 50 Học viện Ngoại giao với phạm vi nghiên cứu là 50 sinh viên.

6. Phương pháp nghiên cứu

Để hồn thành đề tài một cách tốt nhất, nhóm có sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau. Đầu tiên là phương pháp sưu tầm và nghiên cứu tài liệu. Nhóm đã tìm và phân tích các tài liệu từ sách, báo, internet, các bài báo cáo rút ra từ những cơng trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài để có được những số liệu, tư liệu thứ cấp, thậm chí là những phân tích, kết luận có sẵn phục vụ cho việc nghiên cứu có luận cứ rõ ràng. Phương pháp thứ hai là phương pháp trưng cầu ý kiến thông qua bảng hỏi và đây là phương pháp thu thập thông tin chủ đạo trong nghiên cứu này. Đối với thông tin thu được từ bảng hỏi, sẽ được xử lý và phân tích để trình bày trong phần kết quả nghiên cứu.

7. Kết cấu

Để làm rõ đề tài nghiên cứu, bài tiểu luận sẽ bao gồm 3 chương: - Chương 1: Thực hiện phương pháp nghiên cứu bảng hỏi.

- Chương 2: Tổng hợp kết quả nghiên cứu về quan niệm kết hôn đồng giới của sinh viên Học viện Ngoại giao

- Chương 3: Đánh giá, nhận xét, khuyến nghị về vấn đề nghiên cứu.

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

<b>II. Nội dung</b>

1. Phương pháp thực hiện nghiên cứu

Nhóm thực hiện việc trưng cầu ý kiến, quan niệm của 50 sinh viên khóa 50 Học viện Ngoại giao về vấn đề kết hôn đồng giới qua phương pháp khảo sát bằng Bảng hỏi. Trong Bảng hỏi có 9 câu hỏi bao gồm những câu hỏi đóng, mở… 2. Tổng hợp kết quả nghiên cứu

Từ bảng khảo sát cho thấy, phần lớn sinh viên có quan điểm trung lập về vấn đề này, con số này lên tới 33 sinh viên và đạt số phần trăm cao nhất 66%. Trong khi đó, chỉ có 4 sinh viên, tương đương với 8% tổng số người tham gia, khơng hoặc gần như khơng đồng tình với ý kiến này. Trái lại, có đến 30% tổng số sinh viên cho rằng đây là một ý kiến nên được ủng hộ. Cuối cùng, chỉ có 3 sinh viên quan niệm rằng đây là một câu hỏi khó đưa ra một câu trả lời thích đáng và có 1 sinh viên duy nhất chưa hiểu rõ câu hỏi nên không trả lời.

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

Khi được hỏi đã từng nghe hoặc đọc về hôn nhân đồng giới chưa, trong số 50 đáp án có 98% người trả lời đã từng nghe qua và 2% chưa từng nghe qua.

Có đến 43 người được hỏi (chiếm 86%) đồng tình hoặc gần như đồng tình với việc cơng nhận hơn nhân đồng giới tại Việt Nam. Đây là một con số khá cao, chứng minh rằng sinh viên Khóa 50 Học viện Ngoại giao có cái nhìn cởi mở, tích cực về một chủ đề vốn từng không được xem trọng như này. Chỉ có 1 người được hỏi cho rằng họ gần như khơng đồng tình. 12% cịn lại bày tỏ quan điểm trung lập về vấn đề này, họ cho rằng vấn đề này khó trả lời đối với họ.

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

Trong 98% người trả lời rằng họ đã từng nghe về hôn nhân đồng giới, có: - 92% biết đến thơng qua các trang mạng xã hội (Facebook, Instagram,...) - 76% tìm hiểu qua các phương tiện truyền thơng chính thống như thời sự,

phát thanh,...

- 50% biết tới qua bạn bè hoặc người thân - 30% tìm hiểu bằng sách báo, tạp chí

Bảng dưới đây cho biết câu trả lời của sinh viên khi được yêu cầu đưa ra khái niệm về hôn nhân đồng giới:

Số lượng sinh viên Tỉ lệ (%) Quan điểm

người cùng giới tính sinh học: Nam -nam hoặc nữ - nữ.

hôn nhân cơ bản giữa những người

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

cùng giới tính.

Với câu hỏi đánh giá mức độ hiểu biết của mình về vấn đề hơn nhân đồng giới như thế nào, 13,5% người trả lời nói rằng họ đã tìm hiểu kĩ về vấn đề hôn nhân đồng giới trong khi 32,7% cho rằng họ đã có hiểu biết cơ bản. Đây cũng là số lượng chiếm hơn ⅓ đối tượng khảo sát, điều này cho thấy rằng gần một nửa số lượng sinh viên tham gia khảo sát đã có những nhận thức cơ bản về hôn nhân đồng giới. 27 người (chiếm 51,9%) cho rằng họ có nghe nhắc đến nhưng chưa hoặc khơng tìm hiểu về vấn đề này. Cịn lại 1 người bỏ qua không trả lời câu hỏi này.

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

Theo như kết quả của bài khảo sát, có đến 17 sinh viên trên tổng số 50 sinh viên khơng đồng tình hoặc gần như khơng đồng tình với quy định của pháp luật Việt Nam. Trong khi đó, số lượng sinh viên đồng ý với điều luật này lên tới 38%, nhiều hơn số lượng sinh viên khơng đồng ý 4%, tương đương với có 19 sinh viên đồng tình với luật lệ này. Cuối cùng, có 14 sinh viên cho rằng đây là 1 câu trả lời khó trả lời và chỉ có duy nhất 1 sinh viên chưa từng nghe qua về hôn nhân đồng giới chọn trung lập.

Từ kết quả của bảng khảo sát, ta có thể thấy rằng sinh viên duy nhất chưa từng nghe qua về khái niệm hôn nhân đồng giới đã lựa chọn khơng đưa ra bất kỳ lời bình luận nào về vấn đề này. Đây cũng là câu trả lời đạt tỉ lệ thấp nhất, chỉ đạt 2% tương đương với chỉ có duy nhất sinh viên này chọn phương án trả lời này. Cũng theo như sinh viên này thì đây là một vấn đề nhạy cảm và cịn nhiều tranh cãi nên người này đã khơng đưa ra bất cứ đánh giá nào. Bên cạnh đó, cũng có 18% người tham gia cho rằng câu hỏi này khó trả lời hoặc khơng. Phần đơng sinh viên tham gia khảo sát (80% người) đồng ý rằng hôn nhân đồng giới không ảnh hưởng tới thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội. Ngồi ra cũng có 6% sinh viên có quan điểm ngược lại. Họ đều có lý do sẽ được đề cập sau trong bài khảo sát này.

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

Đối với câu hỏi hơn nhân đồng tính sẽ có lợi hay có lợi ích hay tác hại gì đến xã hội Việt Nam, sau đây là quan điểm của từng cá nhân: Có 15 người cho rằng “Hơn nhân đồng giới” có cả mặt lợi và hại: Trong số 12 người nêu rõ lợi ích và tác hại của kết hơn đồng giới, họ đều có điểm chung khi cho rằng kết hơn đồng giới là đem lại cơng bằng, bình đẳng cho cộng đồng LGBTQIA+, bảo vệ họ khơng bị kì thị, bắt nạt trong xã hội. Đây còn là cơ hội để họ có được quyền tự do con người, được sống làm chính mình và sống một cách hạnh phúc, giúp xã hội trở nên đa dạng hơn. 1 ý kiến cho rằng kết hôn đồng giới giúp giảm bớt áp lực xã hội lên bố mẹ, giảm căng thẳng trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái khi bố mẹ người đồng tính biết con mình có cơ hội tiến tới hơn nhân và cuộc sống gia đình như những người khác trong xã hội. 1 sinh viên khác cũng cho biết thời đại hiện nay, do xã hội đã cởi mở và ít kỳ thị hơn nên những người đồng tính cơng khai ngày càng nhiều hơn. Số lượng các cặp đôi công khai hôn nhân đồng tính của mình ngày càng tăng. Nước ta cũng đã có cái nhìn cởi mở hơn về cuộc sống hơn nhân giữa họ bởi họ thực sự yêu thương, tôn trọng lẫn nhau, là những người có ích cho xã hội.

Về tác hại của “Hôn nhân đồng giới”, phần lớn sinh viên cho rằng điều này sẽ gây ra sự bất ổn về tỷ lệ sinh (giảm tỷ lệ sinh, dân số già) đặc biệt ở một xã hội như Việt Nam khi tư tưởng phải có con “nối dõi tơng đường” vẫn cịn đè nặng. Họ cịn cho biết “Hơn nhân đồng giới” có thể ảnh hưởng tới nhận thức và tâm lý chung của xã hội, từ đó nảy sinh nhiều vấn đề khác (bệnh tình dục,...). Mặt khác thì Việt Nam là một nước Châu Á đang phát triển với những tiêu chuẩn cực kì khắt khe, đặc biệt là các thế hệ cũ như ông, bà, cha mẹ. Những người ở thế hệ cũ khó có thể chấp nhận được sự mới mẻ này, và điều đó cũng tương tự với một lượng khơng nhỏ của thế hệ mới, có thể nói hầu hết đã bình thường hóa nhưng vẫn cịn những cá nhân khơng chấp nhận được điều này.

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

13 người tham gia cho rằng hơn nhân đồng giới có lợi cho xã hội Việt Nam. Phần lớn ý kiến đều nói rằng kết hơn đồng giới sẽ giúp cộng đồng LGBTQIA+ được sống thật với giới tính, giúp họ có được hạnh phúc trọn vẹn, mở ra cơ hội mới cho họ. Điều này còn thúc đẩy họ được thực hiện quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực hôn nhân gia đình. Việc cơng nhận hơn nhân đồng giới còn thể hiện rằng xã hội Việt Nam đã văn minh, tiến bộ và phát triển hơn. Hơn thế nữa, việc này sẽ tạo tiền đề cho sự công bằng trong xã hội, bởi lẽ khi sinh ra chúng ta khơng thể tự lựa chọn giới tính của mình và khơng phải ai cũng có đủ điều kiện, cơ hội để thực hiện phẫu thuật chuyển giới. Có 2 người khơng nói rõ lý do cụ thể về quan điểm của họ. Có 2 người cho rằng hơn nhân đồng giới gây hại đến xã hội Việt Nam. Tong khi 1 ý kiến cho rằng việc kết hôn đồng giới sẽ gây mất cân bằng tỉ lệ nam nữ kết hơn sau này thì 1 ý kiến khác cho rằng hơn nhân đồng giới sẽ giảm tỷ lệ sinh.

Có 10 sinh viên cho rằng vấn đề này khơng có lợi hay hại đến xã hội Việt Nam hiện nay. 1 người cho rằng “Vấn đề chủ yếu mọi người thường lo lắng về hơn nhân đồng tính là việc phát triển nịi giống bị suy giảm. Thực chất hơn nhân đồng tính khơng ảnh hưởng lớn tới vấn đề này , khoa học càng ngày càng phát triển và thí nghiệm đàn ơng mang thai đang có chuyển biến tích cực.” 3 ý kiến cho rằng việc kết hơn đồng giới sẽ không ảnh hưởng hay gây hại đáng kể đến xã hội Việt Nam vì ngày nay mọi người khá cởi mở và thoải mái về vấn đề này. 1 ý kiến cho rằng hôn nhân đồng giới cũng giống như hôn nhân dị giới, cơ bản không đem lại điều gì ảnh hưởng quá xấu xa đến xã hội Việt Nam. Ngược lại, pháp luật không công nhận tính hợp pháp của hơn nhân đồng giới, cho phép sống chung nhưng không thừa nhận về mặt pháp luật có thể đem đến nhiều bất cập. Thứ nhất là bất cập khi cặp đơi đó xảy ra mâu thuẫn, vấn đề phân chia tài sản, hay những đồ vật giá trị sẽ rất khó khăn, ... Thứ hai, đã có rất nhiều trường hợp, khi một người phải đưa vào cấp cứu trong tình trạng nguy kịch và bác sĩ, bệnh viện yêu cầu có sự xác nhận của người nhà, người thân, người bạn đời

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

đồng giới của họ lại không thể đứng ra thay mặt làm điều đó. Vì thế, khi hợp thức hóa hơn nhân đồng giới, những vấn đề trên sẽ khơng cịn lo ngại nữa. Có 2 người cho biết: Hơn nhân đồng giới khơng có hại gì đến Việt Nam, nếu công nhận hôn nhân đồng giới, con người được sống thoải mái, hạnh phúc thì xã hội sẽ tốt đẹp hơn. Cịn 3 người khơng đưa ra lý do cụ thể. Với những người trung lập, có 9 người không nêu quan điểm cá nhân về vấn đề này vì bản thân họ khơng rõ.

Nhận xét: Đa số các sinh viên khóa 50 Học viện Ngoại Giao tham gia khảo sát đều cho rằng hôn nhân đồng giới có cả lợi và hại đến xã hội Việt Nam, con số này lên đến 15 sinh viên, tương đương với 7,35%. Tiếp theo đó là quan điểm cho rằng vấn đề này sẽ có lợi cho xã hội Việt Nam, ý kiến này được 13 sinh viên trả lời.Trong khi đó, có 20% tổng số sinh viên tham gia bài khảo sát cho rằng hôn nhân đồng giới sẽ khơng có tác động gì. Chỉ có 2 sinh viên nêu ra quan điểm rằng điều này sẽ có ảnh hưởng khơng tốt đến xã hội. Có đến 9 sinh viên không rõ về việc liệu việc kết hơn giữa 2 người đồng giới có ảnh hưởng tốt hay xấu đến xã hội Việt Nam hay không.

3. Đánh giá, nhận xét, và các khuyến nghị 3.1. Đánh giá và nhận xét

Dựa trên kết quả khảo sát trong phạm vi 50 sinh viên Ngoại giao cho thấy 37/50 sinh viên ủng hộ việc công nhận hôn nhân đồng giới tại Việt Nam cũng như 34/50 sinh viên cho rằng hôn nhân đồng giới không làm ảnh hưởng tới thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội. Quan điểm phổ biến mà các nhóm ủng hộ đưa ra khi được hỏi về tác động của hôn nhân đồng tính đến xã hội Việt Nam là những cuộc hơn nhân ấy không mang lại bất kỳ tác động tiêu cực nào tới xã hội Việt Nam, thậm chí lại có nhiều tác động tích cực vì giúp các cá nhân được sống là chính mình, mở ra một xã hội cởi mở, xóa bỏ định kiến và góp phần tạo

</div>

×