Tải bản đầy đủ (.pdf) (27 trang)

Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.49 MB, 27 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ Ồ CHÍ MINH </b> H

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

1.1. Khái niệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra ... 5

<i>1.1.1. Khái niệ</i>m b<i>ồi thường thiệt hại ... 5 </i>

<i>1.1.2. Khái niệm súc vật ... 5 </i>

<i>1.1.3. Khái niệ</i>m b<i>ồi thường thiệt hại do súc vật gây ra ... 5 </i>

1.2. Đặc điểm trách nhi m bồi thường thiệt hệ ại do súc vật gây ra ... 6

<i>1.2.1. Có thiệt hại thực tế xảy ra ... 7 </i>

<i>1.2.2. Có sự ện gây thiệ</i> ki t h<i>ại trái pháp luậ</i>t ... 8

<i>1.2.3. Có mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra ... 8 </i>

1.3 Ch ủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thi t h i ... 9 ệ ạ <i>1.3.1 Trách nhiệ</i>m b<i>ồi thường thiệt hại do chủ sở hữu ... 9 </i>

1.3.2 Ch<i>ủ thể là ngườ</i>i chi<i>ếm hữ</i>u, s d<i>ử ụng súc vật: ... 10 </i>

1.3.3 Ch<i>ủ thể là ngườ</i>i th <i>ứ ba làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác: ... 10 </i>

1.4 Các trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại súc vật gây ra ... 11

<i>1.4.1 Trường hợp thiệt hại phát sinh bởi súc vật do sự kiện bất khả kháng ... 11 </i>

<i>1.4.2 Trường hợp thiệt hại phát sinh bởi súc vật nhưng hoàn toàn do lỗ ủa bên bị</i>i c thi<i>ệt hạ ... 12 </i>i. 1.5. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ... 12

<i>1.5.1. Nguyên tắ</i>c b<i>ồi thường theo thỏa thuận ... 13 </i>

<i>1.5.2. Nguyên tắ</i>c b<i>ồi thường toàn bộ và kịp thời ... 13 </i>

<i>1.5.3. Nguyên tắc giảm mức bồi thường ... 13 </i>

<i>1.5.4. Nguyên tắc thay đổi mức bồi thườ</i>ng ... 14

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ .... 14 2.1. M t s vộ ố ấn đề còn tồn t i trong viạ ệc áp dụng pháp luậ ề trách nhiệt v m bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra vào thực tiễn... 14

2.1.1. Th c ti n v <i>ựễề việc xác định “súc vật” và phân biệt với “thú dữ” ... 14 </i>

2.1.2 Th c ti n v<i>ựễề việc xác đị</i>nh ch <i>ủ thể chịu trách nhiệ</i>m b<i>ồi thường ... 15 </i>

2.1.3. Th c ti n v <i>ựễề việc xác định chủ thể chịu trách nhiệ</i>m b<i>ồi thường thiệt hại khi súc vật bị b ỏ rơi hoặc tr ốn thoát, đi lạc gây ra thiệt hại ... 16 </i>

2.1.4. Th c ti n v <i>ựễề việc xác định gia súc đượ</i>c th <i>ả rông theo tập quán ... 17 </i>

2.2. M t s ki n nghộ ố ế ị hoàn thiện quy định pháp luật v bề ồi thường thi t hệ ại do súc vật gây ra ... 19

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ... 22

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>DANH SÁCH NHÓM </b>

<b>Too long to read onyour phone? Save</b>

to read later on your computer

Save to a Studylist

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

<b>CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO SÚC VẬT GÂY RA </b>

<b>1.1. Khái niệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra </b>

<i><b>1.1.1. Khái niệm bồi thường thiệt hại </b></i>

Trong đời sống hàng ngày, các thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân, tài sản, danh dự, uy tín của tổ chức có thể xảy ra dưới nhiều tác động khác nhau, có thể là tác động khách quan, là những hành vi vi phạm một quy tắc xử sự, đó có thể là ý chí của các bên tạo ra hoặc do một quy tắc xử sự do pháp luật quy định. Do đó, Nhà nước sử dụng nhiều biện pháp để ngăn chặn những tác động, quy tắc xử sự, tại Điều 584 BLDS 2015 quy định về Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, như vậy giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại sẽ phát sinh một quan hệ pháp luật, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại do bên gây thiệt hại gây ra. Quan hệ pháp luật đó được gọi là trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

<i><b>1.1.2. Khái niệm súc vật </b></i>

Súc vật được hiểu là “thú nuôi trong nhà”, “con vật nuôi trong nhà”, “súc vật ni trong nhà”, hoặc có thể hiểu một cách chung nhất là “súc vật là những lồi vật ni trong nhà”. Tuy nhiên, vật ni có thể là các loài thú hoặc các loài chim, mà súc vật là động vật thuộc lớp thú, là “một loài động vật có bốn chân, có vú và sinh con”, gia cầm là “giống vật có cánh ni trong nhà như gà, vịt, ngỗng...”. Ngồi ra, súc vật cịn được hiểu là “thú dữ được thuần hoá ...”. Mặc dù BLDS 2015 không đưa ra khái niệm về súc vật, nhưng đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về súc vật. Nhìn chung, các cách định nghĩa này đều khẳng định súc vật là loài thú được thuần dưỡng để nuôi ở trong nhà.

<i><b>1.1.3. Khái niệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra </b></i>

Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cũng là một trường hợp của BTTH ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, khác với các trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khác, thiệt hại do súc vật gây ra xảy ra không xuất phát từ hành vi trực tiếp của chủ sở hữu, tuy nhiên người chủ sở hữu trong trường hợp này được hưởng lợi ích từ súc vật. Vì vậy, họ phải có nghĩa vụ bồi thường những thiệt hại do chính súc vật của mình gây ra, dù hành vi thiệt hại đó có nằm trong ý chí của người chủ sở hữu hay không. Việc gây thiệt hại của súc vật xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau, như:

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

(i) Dù đã được thuần hóa nhưng súc vật vẫn mang những bản tính tự nhiên của động vật hoang dã, do con người thiếu ý thức trong quản lý hoạt động của súc vật, chúng có thể gây thiệt hại.

(ii) Sự quản lý của con người với súc vật thông qua các phương thức và công cụ quản lý khác nhau. Chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu, sử dụng súc vật trong trường hợp có sự lơi lỏng hoặc khó quản lý hoạt động của súc vật dẫn tới súc vật gây thiệt hại cho chủ thể khác.

(iii) Dưới tác động của môi trường, điều kiện sống, bệnh dịch mà động vật có những động thái gây thiệt hại trái với bản tính tự nhiên của nó như trâu bị mắc bệnh điên, chó dại…

Việc chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng hoặc người thứ ba để súc vật gây thiệt hại là lỗi suy đoán mặc định trong việc quản lý cho đến khi có bằng chứng ngược lại chứng minh họ khơng có lỗi. Mục đích của việc này là nhằm nâng cao trách nhiệm quản lý của họ đối với súc vật. Việc suy đốn lỗi đối với người chủ sở hữu sẽ khơng áp dụng trong trường hợp, súc vật gây thiệt hại do lỗi hoàn toàn thuộc về người chiếm hữu, sử dụng súc vật trái pháp luật hoặc của chính người bị thiệt hại.

Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra được định nghĩa như sau: "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra là một trường hợp cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nhằm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm và mang tính tài sản"

<b>1.2. Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra </b>

Khi nói về điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra có quan điểm cho rằng, để xác định trách nhiệm BTTH do súc vật gây ra chỉ cần 3 điều kiện sau đây:

(i) Có thiệt hại thực tế xảy ra;

(ii) Có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật;

(iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật và thiệt hại thực tế đã xảy ra.

Theo đó, khi súc vật gây thiệt hại, người bị thiệt hại không cần chứng minh lỗi của chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật mà chỉ cần chứng minh có sự kiện súc vật gây ra thiệt hại cho mình là có quyền u cầu BTTH. Quan điểm khác lại cho rằng lỗi là cơ sở của trách nhiệm BTTH nói chung và trách nhiệm BTTH do súc vật gây ra nói riêng.

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

Nhóm đồng ý với quan điểm thứ nhất, là trách nhiệm BTTH do súc vật gây ra phát sinh khi có ba điều kiện đó là: Có thiệt hại xảy ra, có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động của súc vật và thiệt hại xảy ra. Theo đó, khi súc vật gây thiệt hại, lỗi không phải là một trong các điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH. Điều này có thể được lý giải bởi những lý do sau:

Thứ nhất, “xét về hình thức, lỗi là thái độ tâm lý của người có hành vi gây ra thiệt hại, lỗi được thể hiện dưới dạng cố ý hay vô ý”. Như vậy, lỗi là yếu tố gắn liền với hành vi gây thiệt hại trái pháp luật của con người, một hành vi bị coi là có lỗi nếu người thực hiện hành vi đó có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình. Hoạt động của súc vật không thể coi là một hành vi có ý thức nên khi súc vật gây thiệt hại thì bản thân súc vật khơng thể bị coi là có lỗi.

Thứ hai, trong nhiều trường hợp, súc vật có thể gây thiệt hại mà ngay bản thân CSH, NCH, sử dụng súc vật cũng không thể kiểm soát được. Đây là những trường hợp mà CSH, NCH, sử dụng súc vật đã tuân thủ mọi quy định liên quan đến việc quản lý súc vật, nhưng súc vật vẫn gây thiệt hại. Về nguyên tắc, CSH được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với súc vật, nên CSH phải gánh chịu những nghĩa vụ tương ứng. Do đó, để đảm bảo ngun tắc cơng bằng và nguyên tắc quyền không tách rời nghĩa vụ mà Hiến pháp năm 2013 đã quy định thì CSH, NCH, sử dụng súc vật phải gánh chịu rủi ro mà súc vật mang lại, tức là phải BTTH cho người bị thiệt hại ngay cả khi khơng có lỗi.

<i><b>1.2.1. Có thiệt hại thực tế xảy ra </b></i>

Thiệt hại được hiểu là những tổn thất về vật chất và những tổn thất về tinh thần. Thiệt hại do hành vi gây ra hay do súc vật gây ra cũng đều có thể bao gồm hai yếu tố này. Tuy nhiên, thiệt hại do súc vật gây ra là hậu quả của sự hoạt động của súc vật, không tồn tại hành vi gây thiệt hại của chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu, sử dụng súc vật, mà hoạt động của súc vật không được coi là hoạt động có ý thức. Nhưng, thiệt hại do danh dự, uy tín, nhân phẩm bị xâm phạm phát sinh khi có hành vi vi phạm pháp luật tức là hành vi này có ý thức và ý chí, hay nói cách khác là khơng thể có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật mà khơng được ý thức kiểm sốt hay khơng được ý chí của chủ thể điều khiển. Vì vậy, thiệt hại trong trách nhiệm BTTH do súc vật gây ra chỉ bao gồm thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng chứ khơng bao gồm thiệt hại do danh dự, uy tín, nhân phẩm bị xâm phạm.

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

<i><b>1.2.2. Có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật </b></i>

Chúng ta thấy rằng, có lẽ là không hợp lý khi một tài sản gây thiệt hại mà chúng ta xét đến yếu tố hành vi. Súc vật là một dạng tài sản và súc vật gây ra thiệt hại thì khó có thể xem là hành vi trái pháp luật vì hành vi gây thiệt hại trái pháp luật chỉ đúng khi thiệt hại do con người gây ra. Súc vật vơ tri, khơng có nhận thức để điều chỉnh hoạt động của chúng, do đó pháp luật có quy định rõ: chăn nuôi, nuôi giữ các loại súc vật thì phải thực hiện những hành vi nhất định để phòng ngừa, hạn chế khả năng súc vật gây ra thiệt hại cho những người xung quanh. Như vậy, hành vi trái pháp luật ở quy định này được hiểu là hành vi trái pháp luật của con người đối với việc súc vật gây thiệt hại. Ví dụ: xùy chó cắn người hoặc khơng rọ mõm nên chó mới cắn được người. Việc thực hiện hay khơng thực hiện những hành vi đó được xem là hành vi trái pháp luật ở dạng hành động hoặc không hành động của con người và dẫn đến sự kiện súc vật gây thiệt hại.

<i><b>1.2.3. Có mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra </b></i>

Trong mối quan hệ này, hoạt động của súc vật là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại, thiệt hại là hậu quả tất yếu của hoạt động của súc vật. Tuy nhiên, sự hoạt động của súc vật được coi là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại phải là hoạt động tự thân của súc vật, tức là không chịu sự tác động của con người.

Chỉ khi hoạt động “tự thân” của súc vật là nguyên nhân gây ra thiệt hại thì đó mới là mối quan hệ nhân quả mà chúng ta xem xét trong các điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH do súc vật gây ra. Nếu hành vi của con người tác động làm cho súc vật gây ra thiệt hại thì mối quan hệ này là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, và đó chính là một trong các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm BTTH do hành vi của con người gây ra.

Ví dụ: Ơng A đang dẫn chó đi trên đường, khơng rọ mõm. Chó thuộc sở hữu của ơng A cắn bị thương ơng B đi cùng lề đường, chi phí điều trị hết 3 triệu đồng. Trong trường hợp này, nếu ơng B hồn tồn khơng có lỗi trong việc gây thiệt hại cho mình và có đầy đủ chứng cứ chứng minh thiệt hại do chó của ơng A gây ra thì ơng A phải chịu trách nhiệm bồi thường cho ông B. Hành vi trái pháp luật của ông B dạng không hành động (không rọ mõm chó) dẫn đến sự kiện gây thiệt hại là con chó cắn bị thương ơng B. Thiệt hại chi phí điều trị 3 triệu đồng của ơng A là hậu quả và nguyên nhân gây ra hậu quả này là sự kiện chó của ơng A cắn bị thương ông B. Cũng cần lưu ý rằng, khi và chỉ khi tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

gây thiệt hại là sự kiện trái pháp luật và hậu quả xảy ra thì mới đủ điều kiện xem xét đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra. Đây cũng là cách quy định được thừa nhận rộng rãi ở một số quốc gia trên thế giới như Canada, Anh và Mỹ (trừ các trường hợ được miễn p trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại).

<b>1.3 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại </b>

Căn cứ theo quy định tại 586 BLDS 2015 quy định rằng chủ thể có năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân, đây chính là nguyên tắc chung của chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên việc chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không chỉ dựa trên cơ sở là công tác quản lý súc vật ni do chính chủ sở hữu mà cịn dựa trên việc các chủ thể khai thác lợi ích từ súc vật thì vẫn phải chịu trách nhiệm.

Do đó việc súc vật gây ra thiệt hại khơng chỉ dựa vào yếu tố lỗi của người bồi thường mà

<i>cịn dựa trên ngun tắc “người được hưởng lợi ích từ súc vật hoặc được hưởng quyền khai thác lợi ích từ súc vật phải chịu rủi ro do súc vật mang lại”. </i><small>1</small>

Theo lẽ trên sẽ có 3 chủ thể tiêu biểu về việc chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật nuôi gây ra:

<i><b>1.3.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do chủ sở hữu </b></i>

Chủ thể là chủ sở hữu sẽ chia ra hai trường hợp:

<i>Thứ nhất, chủ sở hữu nằm trong phạm vi gây ảnh hưởng do công tác quản lý của họ gây </i>

ra. Ở trường hợp này, chủ sở hữu sẽ căn cứ năng lực theo điều 586 BLDS 2015. Thế nên, chủ sở hữu súc vật đó là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì họ sẽ tự chịu trách nhiệm về phần thiệt hại của súc vật của họ gây ra do có sự vi phạm về quy định quản lý súc vật. Nếu chủ sở hữu khơng có năng lực quản lý súc vật thì súc vật sẽ được quản lý người giám hộ của chủ sở hữu đó. Do đó việc bồi thường do vi phạm cơng tác quản lý súc vật sẽ do người giám hộ đó chịu trách nhiệm

<i>Thứ hai, chủ sở hữu thực hiện đúng, không sai phạm và không vi phạm việc quản lý. Tuy </i>

nhiên, thiệt hại gây ra là do rủi ro của súc vật mang lại. Trong trường hợp này, việc căn cứ

<i>xác định thiệt hại sẽ dựa theo nguyên tắc “quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân” </i>

<small>2</small>- Khoản 1, Điều 15, Hiến Pháp 2013 và theo lẽ cơng bằng. Có nghĩa là người hưởng quyền lợi (chủ sở hữu) vẫn phải chịu trách nhiệm bất kể đó nằm ngồi cơng tác quản lý của họ mà

<small>1 </small><i><small>Vũ Quang Hùng 2022) Trách nhiệ</small></i><small>. (. m b</small><i><small>ồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do súc vật gây ra theo pháp luật Việt Nam hiện hành, trang </small></i><small>39. Luận văn thạc sĩ luậ ọc, khoa Lut hật, Đạ ọc Qui hốc gia Hà Nộ . i </small>

<small>2 Kho n 1 ảĐiều 15 Hiến Pháp 2013</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

súc vật của họ lại gây ra rủi ro. Nếu như chủ sở hữu khơng có khả năng quản lý, việc quản lý thuộc vào người giám hộ thì nếu súc vật có gây ra thiệt hại thì chủ sở hữu vẫn sẽ bồi thường tuy nhiên sẽ là người giám hộ đại diện bồi thường và người giám hộ sẽ bồi thường dựa trên tài sản của chủ sở hữu. Trong trường hợp nếu chủ sở hữu khơng có tài sản bồi thường thì người giám hộ cũng sẽ khơng phải bồi thường vì họ khơng được hưởng quyền lợi từ việc quản lý súc vật cũng như họ khơng có lỗi trong cơng tác quản lý (vì đây là do súc vật gây ra rủi ro ngoài phạm vi quản lý).

<i><b>1.3.2 Chủ thể là người chiếm hữu, sử dụng súc vật: </b></i>

Tại Điều 603 BLDS 2015 quy định về chủ thể là người chiếm hữu sử dụng có trách nhiệm

<i>bồi thường như sau: “Người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.” . </i>

Nếu như người chiếm hữu, sử dụng súc vật mà súc vật gây ra thiệt hại thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường theo luật định tuy nhiên còn phụ thuộc theo thoả thuận của họ.

Tại trường hợp này, có thể thấy rõ việc người chiếm hữu, sử dụng súc vật nuôi (theo pháp luật) đa phần sẽ giao kết thoả thuận với chủ sở hữu. Thoả thuận giữa hai bên mang ý chí tự do, nếu bên chủ sở hữu và bên chiếm hữu sử dụng, thỏa thuận người chịu trách nhiệm bồi thường hại thì sẽ căn cứ theo thoả thuận đó. Vì đặc thù việc chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phụ thuộc vào giao kết thoả thuận của hai bên.

<b>Vậy nếu chiếm hữu, sử dụng vật nuôi trái pháp luật? Trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ do ai? Nếu trong trong trường hợp này thì người chịu trách nhiệm hoàn là bên chiếm </b>

hữu, sử dụng vì chính họ đã làm vừa làm gián đoạn q trình nhận lợi ích từ vật ni của chủ sở hữu (ăn cắp, ăn trộm,...) và điều này họ chịu trách nhiệm hoàn toàn là đúng với căn cứ quy

<i>định tại khoản 3 Điều 603 BLDS 2015 “3. Trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường”. Tuy </i>

nhiên nếu chủ sở hữu, người chiếm hữu, người sử dụng có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường.

<i><b>1.3.3 Chủ thể là người thứ ba làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác: </b></i>

<i>Tại Khoản 2 Điều 603 BLDS 2015 quy định như sau :”Trường hợp người thứ ba hồn tồn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.”</i><small>3</small>. Cụm từ “hồn tồn có lỗi làm cho súc vật gây ra thiệt hại” thể hiện rằng vấn đề được nảy sinh

<small>3 Khoản 2 Điều 603 Bộ luật Dân sự 2015</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

xuất (XIII, 2015)phát từ người thứ 3. Súc vật ở đây có thể nằm trong quản lý của bên chủ sở hữu hay không thì khơng quan trọng. Quan trọng là do “lỗi” của bên thứ ba làm cho súc vật gây ra thiệt hại thì người thứ 3 này hồn tồn phải chịu trách nhiệm. Trong trường hợp chủ sở hữu có thể quản lý mà lại cùng với người thứ 3 gây ra lỗi thì cả hai phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại liên đới. Thế nên việc bồi thường thiệt hại do người thứ ba có thể thấy rõ việc “súc vật gây ra thiệt hại” chỉ mang tính trung gian và nó hồn tồn do lỗi của bên thứ 3. Vì vậy, bên thứ 3 làm cho súc vật gây ra thiệt hại thì phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo điều 586 BLDS 2015.

Ví dụ, A chọc chó khiến cho chó cắn B thì A sẽ phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại mặc dù chó thuộc về chủ sở hữu là C.

Trong trường hợp chủ sở hữu biết được rằng vật ni mình có tính hung hăng mà bỏ mặc thì điều này gây ra “lỗi” thì chủ sở hữu và người thứ ba phải liên đới chịu trách nhiệm theo

<i>quy định của luật “nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại”. </i>

<b>1.4 Các trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại súc vật gây ra </b>

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật nuôi gây ra khá phổ biến. Tuy nhiên vẫn xuất hiện một số trường hợp như người quản lý súc vật gặp sự kiện khách quan không quản lý được cũng như do lỗi bên bị thiệt hại thì họ khơng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 584 BLDS 2015 quy định về trường hợp miễn trừ

<i>trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau: “ Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác” </i><small>4</small>

<i><b>1.4.1 Trường hợp thiệt hại phát sinh bởi súc vật do sự kiện bất khả kháng </b></i>

<i>Quy định tại Điều 156 BLDS 2015: “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.” </i><small>5</small> thế nên chúng ta có thể hiểu rằng sự kiện bất khả kháng không chỉ bao gồm đơn thuần là lũ lụt, mưa, thiên tai,... mà nó cịn phụ thuộc thêm vào ý chỉ khắc phục của con người. Với quy định tại Điều 584 chúng ta có thấy hồn tồn phù hợp vì nếu có thiên tai hay sự kiện khách quan diễn ra mà chủ thể của súc vật nuôi

<small>4 Khoản 2 Điều 584 Bộ luật Dân sự 20155Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015 </small>

</div>

×