Tải bản đầy đủ (.pdf) (58 trang)

Những quan niệm tiến bộ của nguyễn du trong truyện kiều – hoàn chỉnh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (752.41 KB, 58 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>NHỮNG QUAN NIỆM TIẾN BỘ CỦA NGUYỄN DU </b>

<i><b>TRONG TRUYỆN KIỀU – HOÀN CHỈNH </b></i>

<b>Học phần: Văn học trung đại Việt Nam 2 Mã lớp học phần: LITR188201 </b>

<b>TIỂU LUẬN GIỮA KỲ </b>

<b>Giảng viên hướng dẫn học phần: ThS. Đàm Thị Thu Hương </b>

<b>THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2023 </b>

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Khoa Ngữ Văn

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b>NHỮNG QUAN NIỆM TIẾN BỘ CỦA NGUYỄN DU </b>

<i><b>TRONG TRUYỆN KIỀU – HOÀN CHỈNH </b></i>

<b>TIỂU LUẬN GIỮA KỲ </b>

<b>Học phần: Văn học trung đại Việt Nam 2 Mã lớp học phần: LITR188201 </b>

<b>Giảng viên hướng dẫn học phần: Ths. Đàm Thị Thu Hương Sinh viên thực hiện: </b>

1. Trương Thị Thanh Hiền – 4501606032 (Nhóm trưởng). 2. Trần Thị Hương Hảo - 46.01.606.025

3. Lương Thuận Vân - 46.01.606.106 4. Nguyễn Quế Trân - 46.01.606.089

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

4 Đặt câu hỏi/10 điểm

Trả lời câu hỏi/10 điểm

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

âm thanh diễn kịch.

<i>- Sửa lại PPT (khi </i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

- Chuẩn bị âm thanh. - Trả lời câu hỏi các

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

<b>Trân - 48.01.606.069 </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

<b>MỤC LỤC </b>

<b>MỞ ĐẦU (Trương Thị Thanh Hiền) ... 1 </b>

<b>NỘI DUNG CHÍNH ... 2 </b>

2.1.TÌMHIỂUTÁCGIẢVÀTÁCPHẨM ... 2

2.1.1. Nguyễn Du (Lương Thuận Vân) ... 2

<i>2.1.2. Đoạn trường tân thanh - Truyện Kiều (Trần Thị Hương Hảo) ... 4 </i>

<i>2.2. NHỮNG QUAN NIỆM TIẾN BỘ CỦA NGUYỄN DU TRONG TRUYỆN KIỀU... 6 </i>

<i>2.2.1. Quan niệm về chữ Trinh (Nguyễn Quế Trân) ... 6 </i>

2.2.2. Ca ngợi tình yêu tự do đôi lứa (Mai Ngọc Huyền Trân) ... 11

2.2.3. Sự thương xót đối với thân phận người phụ nữ (Ngơ Quỳnh Như) ... 16

<b>KẾT LUẬN (Trương Thị Thanh Hiền) ... 22 </b>

<b>TÀILIỆUTHAMKHẢO ... 24 </b>

<b>PHỤ LỤC 1 Kịch bản diễn kịch ... 25 </b>

<b>PHỤ LỤC 2 Kịch bản Talkshow Những quan niệm tiến bộ của Nguyễn Du trong </b> <i>Truyện Kiều ... 29 </i>

<i><b>PHỤ LỤC 3 Câu hỏi Kahoot về Nguyễn Du và Truyện Kiều ... 34 </b></i>

<b>BẢNG TỔNG HỢP CÂU HỎI CỦA CÁC NHÓM DÀNH CHO NHÓM 5 ... 36 </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

<b>MỞ ĐẦU </b>

<b>(Trương Thị Thanh Hiền) </b>

Nhắc đến Nguyễn Du, người ta nhớ đến một tài năng sống mãi trong lòng dân tộc Việt. Hậu thế đã kính cẩn gọi Nguyễn Du bằng những danh từ mỹ miều nhất để tả

<i>về tài năng của ông, như “đại thi hào”, “người tài hoa nức tiếng”,… Không những thế, Nguyễn Du là một trong những “Danh nhân văn hóa thế giới”, một danh hiệu mà tổ </i>

chức Giáo dục, Khoa, học và Văn hóa Liên Hợp Quốc UNESCO đã vinh danh khi nhắc tới Nguyễn Du. Hầu hết các giai đoạn trong cuộc đời của mình, Nguyễn Du dù sống nghèo khó, khổ cực với những thăng trầm, biến thiên của thời đại, nhưng cũng từ đó, ơng sáng tạo ra những áng văn thơ bất hủ trong dòng chảy văn học Việt Nam nói chung, văn học trung đại Việt Nam nói riêng.

Các tác phẩm của Nguyễn Du được người đọc trân quý và ca tụng, đặc biệt nhất

<i>phải kể đến kiệt tác Truyện Kiều. Đây là tác phẩm đã chinh phục được đơng đảo tình </i>

cảm của người đọc, là một trong những quyển sách đã tốn khơng ít giấy mực để phê bình, bình luận, nghiên cứu hơn ba thế kỉ qua. Một trong những điều tạo nên kiệt tác

<i>Truyện Kiều, là bởi vì nó được chắp bút từ những quan niệm vượt lên thời đại của tác </i>

giả sinh sống, hướng con người đến những giá trị tương lai mà tác giả hằng mong mỏi. Để rồi, khi cầm đến tay người đọc thời hiện đại, những quan niệm của Nguyễn Du vẫn cịn được tìm tịi, suy ngẫm những ý nghĩa mới lẫn cũ.

Chính vì sức hút của những quan niệm tiến bộ của Nguyễn Du được thể hiện

<i>trong Truyện Kiều; đồng thời, dựa trên cơ sở tham khảo một số cơng trình nghiên cứu và sự tìm tịi học hỏi của nhóm. Chúng tơi chọn đề tài Những quan niệm tiến bộ của </i>

<i>Nguyễn Du trong Truyện Kiều để chỉ ra một số quan niệm vượt thời đại của Nguyễn </i>

Du, đồng thời đúc kết ra những giá trị trong tư tưởng Nguyễn Du đã truyền tải trong

<i>Truyện Kiều. </i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

<b>NỘI DUNG CHÍNH </b>

<b>2.1.1. Nguyễn Du (Lương Thuận Vân) </b>

Nguyễn Du (1765-1820), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, sinh tại kinh thành Thăng Long (Hà Nội). Cha là Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm quê ở xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, làm quan đến chức Tham tụng (Tể tướng) dưới triều Lê; mẹ là bà Trần Thị Tần quê ở Kinh Bắc –Bắc Ninh. Nguyễn Du ra đời trong một gia đình đại quý tộc, có thế lực vào bậc nhất đương thời.

Thuở nhỏ Nguyễn Du sống trong nhung lụa, nhưng cuộc sống này kéo dài khơng q mười năm. Vì 10 tuổi đã mồ côi cha, năm 13 tuổi, mẹ ông mất, ông và các anh em ruột phải đến sống với người anh cả khác mẹ là Nguyễn Khản.

Một số cột mốc đáng chú ý trong cuộc đời Nguyễn Du theo niên biểu như sau:

1780 <i>Khi ấy Nguyễn Du mới 15 tuổi thì xảy ra “Vụ án năm Canh Tý”. Trịnh </i>

Khải bị kiêu binh phá - giết, thế là anh em Nguyễn Du từ bấy lâu đã đến nương nhờ ông Khản, mỗi người phải mỗi ngã.

1783 Nguyễn Du thi Hương đỗ tam trường (tú tài), sau đó khơng rõ vì sao, ơng khơng đi thi nữa.

1789 Nguyễn Huệ, một trong ba thủ lĩnh của nhà Tây Sơn đã kéo quân ra Bắc đánh tan hai mươi mấy vạn quân Thanh sang tiến chiếm Đại Việt. Nguyễn Du cũng chạy theo vua Lê Chiêu Thống (1766-1793) nhưng không kịp, đành trở về quê vợ, q ở Quỳnh Cơi ở Thái Bình, sống nhờ nhà người anh vợ. Được vài năm, Nguyễn Du về Nghệ An. 1796 Nghe tin ở Gia Định, chúa Nguyễn Ánh (1762-1819) đang hoạt động

mạnh, ông định vào theo, nhưng chưa đi khỏi địa phận Nghệ An thì đã bị quân Tây Sơn do tướng Nguyễn Thuận chỉ huy, bắt giữ ba tháng.

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

1802 Khi chúa Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long, thì ơng được gọi ra làm quan cho nhà Nguyễn, khi ấy ông nhậm chức Tri huyện tại huyện Phù Dung.

1803 Nguyễn Du đến cửa Nam Quan tiếp sứ thần nhà Thanh, Trung Quốc. 1805 - 1807 Nguyễn Du được thăng hàm Đông Các điện học sĩ và làm Giám khảo

trường thi Hương ở Hải Dương. Lần lượt các

năm 1809, 1813, 1814

Nguyễn Du làm Cai bạ dinh Quảng Bình, rồi thăng chức Cần Chánh điện học sĩ và giữ chức Chánh Sứ sang Trung Quốc, sau khi về nước ông được thăng lên Hữu tham tri Bộ.

1802 Nguyễn Du lại được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc, nhưng chưa kịp lên đường thì mất đột ngột do dịch bệnh. Sau đó, ơng được đưa về mai táng ở xã An Ninh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên.

Chính vì Nguyễn Du được sinh ra trong thời cuộc đất nước có nhiều biến động lịch sử, lại trải qua nhiều gian khó, trầm luân của cuộc đời. Vì thế, Nguyễn Du thường được biết đến là một nhà thơ thấm nhuần tinh thần nhân văn cao đẹp, một nhà thơ hiện thực sâu sắc, một con người từng trải những gian khổ của cuộc đời, và là người đã sáng tạo ra những tác phẩm vượt thời gian về quyền sống bằng một tài năng nghệ thuật đặc biệt. Các tác phẩm của Nguyễn Du thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với nỗi khổ của con người trần thế, được viết từ ngòi bút như thể trút hết cả tâm can và trí tuệ gửi gắm vào vào từng con chữ.

Nói về các tác phẩm văn chương của Nguyễn Du, thì nét nổi bật chính là sự đề cao xúc cảm. Nguyễn Du là nhà thơ có học vấn uyên bác, nắm vững nhiều thể thơ của Trung Quốc, như: ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật, thất ngôn luật, ca, hành... nên ở thể

<i>thơ nào, ơng cũng có bài xuất sắc.Ví như tác phẩm văn tế - Văn tế sống Trường Lưu nhị </i>

<i>nữ gồm 98 câu, viết theo lối văn tế, tác phẩm này được tạo ra với mục đích bày tỏ nỗi </i>

<i>niềm uất hận vì cuộc tình với hai cô gái phường vải khác. Hay tác phẩm Thác lời trai </i>

<i>phường nón, gồm có 48 câu thơ được viết theo thể lục bát, đây là tác phẩm bày tỏ nỗi </i>

lịng, tình cảm của anh con trai bên phường nón đối với cơ gái bên phường vải,….. Đặc

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

biệt hơn cả là tài làm thơ bằng chữ Nơm của ơng, trong đó có một số tác phẩm nổi bật

<i>tiêu biểu đã nhắc qua như: Thác lời trai phường nón, Văn tế Trường Lưu nhị nữ, Văn tế </i>

<i>thập loại chúng sinh, mà đỉnh cao là Truyện Kiều, đã cho thấy thể thơ lục bát có khả </i>

năng chuyển tải nội dung tự sự và trữ tình to lớn trong thể loại truyện thơ.

Những tác phẩm bằng chữ Hán của Nguyễn Du rất nhiều, nhưng mãi đến năm 1959 mới được ba nhà nho là: Bùi Kỷ, Phan Võ và Nguyễn Khắc Hanh sưu tầm, phiên

<i>dịch, và chú thích, trong đó có. Hay Thanh Hiên thi tập (Tập thơ của Thanh Hiên) gồm 78 bài, viết chủ yếu trong những năm tháng trước khi làm quan nhà Nguyễn. Hay, Nam </i>

<i>trung tạp ngâm (Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam) gồm 40 bài, viết khi làm quan ở </i>

<i>Huế, Quảng Bình và những địa phương ở phía nam Hà Tĩnh, và Bắc hành tạp lục (Ghi </i>

chép linh tinh trong chuyến đi sang phương Bắc) gồm 131 bài thơ, viết trong chuyến đi sứ sang Trung Quốc.

<i><b>2.1.2. Đoạn trường tân thanh - Truyện Kiều (Trần Thị Hương Hảo) </b></i>

<i>Đoạn trường tân thanh hay được gọi phổ biến là Truyện Kiều, là một truyện thơ </i>

lục bát gồm 3254 câu, được viết bằng chữ quốc ngữ. Tác phẩm đã xuất sắc thể hiện tinh thần nhân đạo, chủ nghĩa, phản ánh sinh động xã hội bất công, cuộc đời khốn khổ lúc

<i>bấy giờ. Đoạn trường tân thanh được viết dựa trên một bộ tiểu thuyết chương hồi bằng văn xi Trung Quốc có tên Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. </i>

<i>Truyện Kiều xoay quanh cuộc đời của Kiều, một người con gái thông minh và </i>

sắc sảo nhưng lại có số phận đáng thương. Thúy Kiều có một gia đình ấm êm, đến một cuộc tình đã hẹn ước cùng Kim Trọng, nhưng khi biến cố ập đến bất ngờ Kiều đành phải hy sinh bán thân mình cứu cha, gạt bỏ đoạn tình cảm của mình với Kim Trọng. Cuộc đời đầy bi thương của Kiểu trong suốt 15 năm lưu lạc, trải qua nhiều biến cố đau thương từ thể xác đến tinh thần, có lúc Kiều muốn gục ngã buông bỏ tất cả nhưng rồi lại vực dậy vơi với niềm hy vọng, khát khao nhỏ bé về tương lai mà cô đã tiếp tục bước

<b>đi. Tác phẩm đã bộc lộ một cuộc hành trình đầy cảm xúc, gian truân của Kiều. </b>

<i>Để hiểu hơn về tác phẩm này ta có thể chia Truyện Kiều thành ba giai đoạn: Gặp </i>

gỡ và đính ước; Gia biến và lưu lạc; Đoàn tụ.

<b>Đầu tiên là gặp gỡ và đính ước. Kiều được miêu tả là một người con gái tài sắc </b>

vẹn toàn, mặn mà sắc sảo, thơng minh, hiếu thuận với cha mẹ. Kiều có hai người em

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

tên Thúy Vân và Vương Quan, cả ba chị em sống êm đềm, hòa thuận với nhau. Thúy Vân được Nguyễn Du miêu tả cũng đoan trang, tài sắc như chị mình. Trong lễ thanh minh đầu năm Kiều đã gặp Kim Trọng và cả hai đã nảy sinh tình chàng ý thiếp, thề nguyện thủy chung cùng nhau. Lúc này đây dường như Kiểu đã có tất cả trong tay từ gia đình ấm êm đến tình yêu đẹp với Kim Trọng.

<b>Tiếp đến là gia biến và lưu lạc. Tai họa bất ngờ ập đến, cha và em trai Kiều phải </b>

vào chốn lao ngục, lúc này đây Kiều muốn cứu cha mình nhưng khơng cịn cách nào khác kiều đành bán thân cứu cha, làm trịn đạo hiếu. Kiều nhờ Vân thay mình nên dun với Kim Trọng. Sau đó, Kiều bán mình cho Mã Giám Sinh để làm vợ nhưng không biết mình bị lừa vào lầu xanh, khi hiểu hết chuyện thì liền dùng dao tự vẫn. Tú Bà vì tiếc

<i>“món hàng” này nên đã cứu Kiều và hứa cho Kiều yên ổn. Tuy nhiên sau đó bà ta thuê </i>

Sở Khanh để dụ Kiều bỏ trốn tạo cơ hội cho bà ta bắt quả tang Kiều, nhân cơ hội này đánh đập và răng đe nàng buộc nàng phải nghe theo lời bà ta. Sau đó Kiều được Thúc Sinh chuộc ra khỏi lầu xanh, nhưng tưởng cuộc đời nàng đã êm ấm về sau, Thúc Sinh đã có vợ là Hoạn Thư, tính tình hay ghen nên đã bày mưu hãm hại, hành hạ Kiều để để thỏa lịng ghen tng. Q đau thương, Kiều xin ra Quan Âm Các chép kinh. Sau đó, Kiều ăn cắp chng vàng khánh bạc nhà Hoạn Thư, trốn thoát và nương nhờ cửa Phật, Sư Giác Duyên vì tin Bạc Bà nên đã gửi gắm nàng qua đó. Nhưng một lần nữa, nàng lại bị lừa rơi vào chốn lầu xanh lần thứ hai. Cũng chính ở đây Kiều gặp Từ Hải, Từ Hải lấy Kiều làm vợ giúp nàng thoát khỏi chốn lầu xanh nhưng Từ Hải lại mắc lừa quan Tổng đốc Hồ Tôn Hiến nên đã bỏ mạng, Kiều bị bắt đi hầu rượu, đàn hát rồi bị ép gả cho viên thổ quan. Lúc này vì quá đau đớn tủi nhục Kiều đã gieo mình xuống sông Tiền Đường nhưng nàng được Sư Giác Duyên cứu giúp, nương nhờ cửa Phật lần hai.

<b>Cuối cùng là phần đoàn tụ. Quay lại từ đầu câu chuyện, sau nửa năm chịu tang chú, Kim Trọng trở về tìm Kiều, biết được mọi chuyện, chàng Kim vơ cùng đau khổ. </b>

Được gia đình Kiều khuyên nhủ, chàng Kim đành nối duyên với Thúy Vân nhưng trong lịng Kim Trọng vẫn nhớ thương, khơng qn được người cũ. Sau đó, Kim Trọng và Vương Quan lúc bấy giờ đi tìm Kiều và biết những gì Kiều đã trải qua khi lưu lạc, nên càng quyết tâm đi tìm Kiều hơn. Khi trở về, Vân muốn trao lại duyên cho chị mình cùng Kim Trọng nhưng Kiều đã từ chối. Khi Kiều đoàn tụ với gia đình và gặp lại Kim Trọng

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

<i>nàng không nối lại duyên số với Kim Trọng, nàng chỉ đồng ý “duyên bạn bầy” với Kim </i>

Trọng.

Nguyễn Du đã thông qua câu chuyện về Kiều và những nhân vật xung quanh để nêu lên những vấn đề xã hội, tâm lý và nhân văn sâu xa. Từ chữ hiếu đến tình u, lịng trung thành, đạo đức đến sự ác độc, tác giả đã tạo nên một thế giới văn học phức tạp và đa chiều, tiếp cận được những khía cạnh tinh tế của con người.

Khơng chỉ vì nội dung và cốt truyện sâu sắc, mà việc lựa chọn ngôn ngữ, vận

<i>dụng điệu thơ và chữ Nôm trong tác phẩm cũng mang lại giá trị đặc biệt cho Truyện </i>

<i>Kiều. Điều này giúp tạo nên một không gian văn chương độc đáo, tôn vinh và bảo tồn </i>

văn hóa truyền thống của dân tộc.

<i>Truyện Kiều đã trở thành một biểu tượng văn hóa của Việt Nam, được nghiên </i>

<i>cứu chi tiết qua nhiều đời nay. Truyện Kiều là một kiệt tác, không chỉ về mặt văn học </i>

mà còn về ý nghĩa nhân văn. Tác phẩm tạo nên sức mạnh văn hóa và mang lại tầm ảnh hưởng lớn cho văn chương Việt Nam, là một phần quan trọng không thể thiếu trong kho tàng văn học dân tộc.

<i><b>2.2. NHỮNG QUAN NIỆM TIẾN BỘ CỦA NGUYỄN DU TRONG TRUYỆN </b></i>

<i><b>KIỀU </b></i>

<i><b>2.2.1. Quan niệm về chữ Trinh (Nguyễn Quế Trân) </b></i>

Do những yếu tố về lịch sử trong hàng nghìn năm, Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng Nho giáo. Có khơng ít bằng chứng cho thấy Nho giáo vẫn tiếp tục chứng tỏ sự có mặt bền bỉ của nó trong cuộc sống của người Việt Nam hiện nay. Các

<i>cuộc tranh luận về “Công, dung, ngôn, hạnh” của phụ nữ vẫn được khuyến khích và </i>

trinh tiết của phụ nữ vẫn được dùng như một thước đo để đánh giá nhân cách của họ. Trong khi diễn ngôn bình đẳng giới khuyến khích phụ nữ khẳng định quyền của mình trong mọi lĩnh vực, kể cả tình dục thì có một thực tế là chúng ta đừng hy vọng xóa bỏ bất bình đẳng giới nếu một khi những quan niệm sùng bái trinh tiết của phụ nữ chưa bị xóa bỏ. Trong khi đó, từ trăm năm về trước, ta đã có một tư tưởng vô cùng tiến bộ về trinh tiết người phụ nữ. Điều đó được thể hiện vừa ý vị, vừa táo bạo qua Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du.

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

Để thể hiện rõ quan niệm về chữ trinh, Nguyễn Du đã để cho Thúy Kiều trải qua bao sóng gió trong tình yêu với nhiều mối tình khác nhau. Tha thiết có, mặn nồng có và

<i>thống qua, khổ đau cũng có… Nhưng khi đọc Truyện Kiều, độc giả thường nghĩ ngay </i>

đến mối tình của nàng với Kim Trọng, cũng chính mối tình này cho ta thấy nhiều hơn

<i>những khía cạnh của chữ “trinh” mà Nguyễn Du xây dựng. </i>

<i>Cùng thời với cụ Nguyễn Du, văn học Việt Nam khó tìm thấy sự “tự do” trong tình u như ở Truyện Kiều. Cụ đã để cho đôi trẻ “tự do” yêu đương thề nguyền, đính ước. Đặc biệt Kiều đã “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” để tìm đến với tình u. Gót chân ấy với sự “xăm xăm” đạp bằng mọi trở ngại của lễ giáo phong kiến, khát khao chủ động, quyết liệt đến với tình u ấy cho đến ngày hơm nay nhiều “con mắt </i>

<i>hiện đại” vẫn không khỏi ngỡ ngàng. Vậy nhưng khi Kim Trọng: “Sóng tình dường đã xiêu xiêu </i>

<i>Xem trong âu yếm có chiều lả lơi.” </i>

<i>Thì Nguyễn Du lại để cho Kiều “tỉnh táo” và chính sự tỉnh táo ấy giúp ơng bộc bạch: </i>

<i>“Đã cho vào bậc bố kinh Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu” </i>

<i>Quan niệm “chữ Trinh” của cụ Nguyễn ở đây gắn với “bậc bố kinh”, “đạo tòng phu” </i>

của lễ giáo phong kiến. Đây rõ ràng là một quan niệm truyền thống thấm đẫm tư tưởng Nho giáo, người phụ nữ phải coi trọng tiết hạnh, trinh trắng và đó chính là thước đo về phẩm giá, đức hạnh của họ. Trong đạo vợ chồng theo Nho giáo, người phụ nữ phải giữ

<i>gìn được sự trinh trắng, “con gái” của mình đến khi về nhà chồng. Nó là yếu tố tiên </i>

quyết đến đạo đức, cuộc sống hôn nhân, đạo làm vợ của họ.

Xét về sự ảnh hưởng của ý thức hệ, Nguyễn Du là một đại quý tộc, được hấp thụ tư tưởng Nho gia. Do đó, quan niệm về chữ Trinh theo tư tưởng truyền thống ấy cũng là một điều dễ hiểu, dễ lí giải được. Mặt khác, theo suốt Truyện Kiều và nỗi lòng nàng Kiều người đọc sẽ thấy quan niệm này lại không nhất quán, đồng nhất như tư tưởng

<i>Nho gia trên. Đặc biệt, có lúc ơng đã phải “day dứt” vì sự cứng nhắc ấy. Có lúc ông lại quan niệm theo một “lối khác” của riêng ông. </i>

<i>Sự “day dứt” đó được ông gửi gắm qua nỗi niềm đau đớn của Thúy Kiều khi </i>

phải bán mình chuộc cha, trao thân cho Mã Giám Sinh:

<i>“Phẩm tiên rơi đến tai hèn </i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

<i>Hoài cơng nắm giữ, mưa gìn với ai.” “Biết thân đến bước lạc lồi Nhị đào thà bẻ cho người tình chung.” </i>

Xét về lí, Thúy Kiều lúc này đã chính thức là vợ của Mã Giám Sinh (vì Mã Giám Sinh

<i>đến và nói mua Kiều về làm vợ). Nếu theo quan niệm truyền thống, gìn giữ chữ Trinh như Kiều nói “Đạo tịng phu lấy chữ trinh làm đầu” thì khơng có gì phải bàn. Điều đáng bàn là Kiều lại đang day dứt vì trao “chữ Trinh đáng giá ngàn vàng” cho “chồng” </i>

- cho Mã Giám Sinh - cho một kẻ hèn hạ, cho một người mà Kiều khơng u.

Đặc biệt, càng day dứt vì điều đó thì nàng càng nghĩ đến Kim Trọng - người tình

<i>chung, và rồi khao khát muốn trao thân gửi phận, “Nhị đào thà bẻ cho người tình </i>

<i>chung”. Từ đó, người đọc nhận ra rằng dường như quan niệm “chữ Trinh” lúc này của </i>

<i>đại thi hào đã bắt đầu lệch ra khỏi tử tưởng “rường cột” lễ giáo phong kiến. Theo đó, ta có thể hiểu rằng với Nguyễn Du “chữ Trinh” chỉ “đáng giá nghìn vàng” khi nó được </i>

gìn giữ và gửi trao cho tình u đích thực, cho một người xứng đáng chứ không nhất

<i>thiết phải tuân theo “đạo tòng phu”. </i>

Quan niệm này của Nguyễn Du ở thời đại ông và ngay cả rất nhiều người Phương Đơng bây giờ vẫn cịn là điều rất mới mẻ, hiện đại, tiến bộ. Đặc biệt ở thời phong kiến,

<i>đây rõ ràng là một cuộc “cách mạng” về quan niệm “chữ Trinh”. Quan niệm ấy xuất phát từ ý thức đề cao giá trị con người từ tấm lịng nhân văn, “con mắt nhìn thấu sáu </i>

<i>cõi” của Đại thi hào. </i>

Trơi theo dịng thời gian, thân Kiều qua tay bao kẻ đàn ơng, có tên và không tên, đê hèn và cao quý. Nàng đã phải hai lần làm kỹ nữ, chấp nhận thân mình trong cảnh:

<i>“Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa” </i>

<i>Đời nàng chìm nổi vơ định theo số phận “hồng nhan bạc mệnh”. Có những lần, nàng </i>

bị lừa gạt (Mã Giám Sinh, Sở Khanh,....), nhưng cũng có lúc nàng tìm được cho mình một bến đỗ bình yên (Thúc Sinh, Từ Hải). Mặc dù trải qua quá nhiều sóng gió, nhưng trong tâm Kiều ln dành một khoảng lặng cho Kim Trọng với bao cảm xúc, khát khao, mơ tưởng:

<i>“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng Tin sương luống những rày trông mai chờ.” </i>

Hay:

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

<i>“Nhớ lời nguyện ước ba sinh Xa xơi ai có thấu tình ai chăng.” </i>

<i>Vậy nhưng, khi được đồn tụ gia đình, khi được “danh chính ngơn thuận” là vợ Kim Trọng thì Thúy Kiều lại đưa “chữ Trinh” ra để từ chối tình cảm Kim Trọng: </i>

<i>“Chữ trinh còn một chút này Chẳng cầm cho vững, lại dày cho tan.” </i>

<i>Đến đây, quan niệm về “chữ Trinh” đã khác hẳn hoàn toàn quan niệm truyền thống. </i>

Đặc biệt, xét một cách khách quan, dù biện minh như thế nào đi chăng nữa Kiều cũng

<i>từng là gái lầu xanh, trải qua nhiều lần chồng, vậy mà lại “dám” đưa “chữ Trinh” ra để </i>

nói cùng Kim Trọng, thì quả là một điều rất táo bạo, khác người của cụ Nguyễn. Theo

<i>đó, “chữ Trinh” với người phụ nữ cịn được hiểu là sự tơn trọng, tình cảm trong sáng, </i>

thánh thiện vơ ngần mà con người dành cho nhau trong tình u.

Ngồi ra, để giải thích và chiêu tuyết cho tấm lịng trinh trắng của Kiều, đại thi hào đã để Kim Trọng thốt ra những lời cảm thông sâu sắc với người mình yêu:

<i>“Xưa nay trong đạo đàn bà Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường.” </i>

Nghĩa là, theo Nguyễn Du khi đánh giá sự trinh trắng cả người phụ nữ phải có cái nhìn thống rộng, nhiều chiều, cần phụ thuộc vào hoàn cảnh, thái độ, lối sống của người đó trong những hồn cảnh cụ thể. Đây là tấm lịng bao dung, nhân đạo vơ bờ của cụ Nguyễn Du.

Đặc biệt, dù Nguyễn Du đứng trên lập trường của một nhà nho truyền thống, nhưng nhà thơ rất táo bạo khi đưa ra quan niệm mới mẻ, tiến bộ:

<i>“Như nàng lấy hiếu làm trinh Bụi nào cho đục được mình ấy nay.” </i>

<i>Trong truyện, Thúy Kiều vì phải bán mình chuộc cha và em mà phải hi sinh “đời con </i>

<i>gái”, rơi vào chốn nhơ nhớp của đời. Xét về mặt hành xử, đứng trước việc giữ gìn cho </i>

mình và giữ gìn sự bình yên cho gia đình, thì nàng đã đặt chữ hiếu lên trên hết. Do đó,

<i>ở đây, “chữ Trinh” có thể hiểu là sự hi sinh, quên mình, là tấm lịng hiếu đạo bao la của con người. </i>

<i>Như vậy, từ chữ Trinh nhằm chỉ đạo đức, phẩm giá của người phụ nữ trong “đạo </i>

<i>tòng phu” của quan niệm truyền thống, Nguyễn Du đã nâng lên thành một quan niệm </i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

mới mẻ, hiện đại, thoáng rộng hơn nhiều. Rõ ràng, ta thấy Nguyễn Du đã có được ý

<i>thức, nhận thức, hay ít ra tâm thức về hai phương diện của chữ “trinh” ở Kiều nói riêng, ở người phụ nữ cao quý nói chung: “Trinh” – sinh lý và “trinh” – tâm hồn, tinh thần. Với ông, chữ “trinh” – sinh lý là quan trọng, nhưng chữ “trinh” – tâm hồn, tinh thần còn cao quý hơn. Bởi “chữ trinh” tâm lý, tinh thần đại diện cho sự tơn trọng, tình cảm </i>

trong sáng, thánh thiện vô ngần mà Thúy Kiều (nói riêng), những người phụ nữ cao quý (nói chung) dành cho thứ gọi là tình yêu của mình.

Kiều chấp nhận tái hôn với Kim Trọng sau bao lý lẽ từ chối, cũng là của một tình

<i>yêu “Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai” mà Kiều ngẫm ra rằng, suốt 15 năm dù </i>

có gặp cả những người đàn ơng có lịng vị tha (Thúc Sinh), anh hùng cái thế và cao cả bao dung (Từ Hải) nhưng khơng có ai như Kim Trọng đã cùng mình xây nên một lâu đài ái tình lý tưởng! Trong đêm hợp cẩn hoa chúc, Thúy Kiều và Kim Trọng bày tỏ:

<i>“Nghe lời sửa áo cài trâm Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng </i>

<i>Thân tàn gạn đục khơi trong Là nhờ quân tử khác lòng người ta </i>

<i>Mấy lời tâm phúc ruột rà Tương tư dường ấy mới là tương tư </i>

<i>Chở che đùm bọc thiếu gì? Trăm năm danh tiết cũng về đêm nay. </i>

<i>Thoắt thơi tay lại cầm tay Càng u vì nết càng say vì tình”. </i>

Những thú vui, hạnh phúc ấy là gì, nếu khơng phải là tình u (từ này hầu như khơng có trong từ vị tiếng Việt khi nói về quan hệ trai gái thời phong kiến, thời ấy chỉ gọi là tình nghĩa) là chữ trinh – tâm hồn Kiều trao cho Kim Trọng? Bởi ta thấy dù lưu

<i>lạc 15 năm, trải qua bao sóng gió thì “Trăm năm danh tiết cũng về đêm nay”. Đứng trước tình lang, nàng “Khấu đầu lạy tạ” vì theo nàng, hành động của Kim Trọng “cao </i>

<i>thâm nghìn trùng”. Tấm thân Thúy Kiều từ đục sang trong chính là nhờ “qn tử khác lịng người ta”. Đây cũng là điểm sáng trong quan điểm tiến bộ của Nguyễn Du về chữ </i>

<i>“trinh”. </i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

<i>Soi vào Truyện Kiều “một viên đá triết học trong văn học Việt Nam” (Đỗ Lai </i>

Thúy, 2006, trang 9), ta càng đọc, càng ngẫm thấy Nguyễn Du hiện đại, mới mẻ, tân tiến biết dường nào, trên rất nhiều phương tiện, mà ở bài viết này chỉ đề cập cái nhìn,

<i>tư tưởng “khác lịng người ta” của thi hào về chữ trinh người phụ nữ có tâm hồn, tinh </i>

thần cao đẹp. Cũng từ Nguyễn Du thế kỷ XVIII ta nghĩ đến những quan niệm cứng nhắc về chữ trinh (sinh lý) ở phụ nữ trong đời sống tinh thần Việt Nam ngoài xã hội cũng như trên trang sách văn học hiện nay. Nên có một cái nhìn mới mẻ như Nguyễn Du để đề cao hơn những giá trị về tinh thần, về tâm hồn, về đạo đức của người phụ nữ.

Tóm lại, khác với quan niệm gị bó của Nho giáo, Nguyễn Du thông qua các tác phẩm của mình đã cho chúng ta thấy chính tình u thương, trong đó có tình u đơi lứa, đã cảm hóa con người, làm con người trở nên nhân đạo hơn, tốt đẹp hơn. Thúy Kiều của Nguyễn Du trong những giờ phút khắc nghiệt nhất của cuộc đời đã nghĩ đến mối tình đầu với Kim Trọng và điều đó giúp nàng vượt lên khỏi cái chết, sự đau khổ để tiếp

<i>tục sống và giữ gìn nhân phẩm của mình. Quan niệm của Nguyễn Du về chữ “trinh”, </i>

về nhân cách con người thật mới mẻ, nhân đạo, phá vỡ những chuẩn mực đạo đức giáo điều xa rời thực tế của tư tưởng chính thống.

<b>2.2.2. Ca ngợi tình u tự do đôi lứa (Mai Ngọc Huyền Trân) </b>

<i>Được ra đời vào thời trung đại, Truyện Kiều không chỉ mang đậm những đặc </i>

điểm thi pháp truyền thống mà với ngòi bút tài hoa, Nguyễn Du đã đưa khơng ít phương

<i>diện trong tác phẩm đi trước thời đại. Một trong những phương diện “hiện đại”, thể </i>

hiện được quan niệm tiến bộ của ơng trong tác phẩm chính là chủ đề về tình u tự do đơi lứa.

Sống dưới thời phong kiến, tình yêu nam nữ là thứ bị cấm kỵ trong xã hội bấy

<i>giờ. Tất cả như bị ràng buộc vào các quy tắc đương thời như “cha mẹ đặt đâu, con ngồi </i>

<i>đấy” hoặc nếu có sự chủ động trong việc tìm kiếm bạn đời thì đó là nam, khơng phải </i>

<i>nữ (“trâu đi tìm cọc”, chứ khơng có chuyện “cọc đi tìm trâu”), “lấy vợ kén tông, lấy </i>

<i>chồng kén giống”, “nam nữ thụ thụ bất thân”, “môn đăng hộ đối”... Nhưng trái lại, </i>

<i>trong Truyện Kiều, những quy tắc ràng buộc trên đều bị phá vỡ, điều đó đi ngược lại </i>

giáo điều bất di bất dịch tồn tại hàng ngàn năm. Qua đó ta thấy được sự táo táo bạo của đại thi hào khi xây dựng mối tình Kim Kiều đẹp đẽ, không bị cản trở bởi lễ giáo gia

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

phong, vượt qua định kiến xã hội. Tình cảm u đương của đơi nam thanh nữ tú ấy nảy sinh một cách tự nhiên, từ sự rung động của hai con tim, khơng có sự gượng ép hay can thiệp của bất kì ai.

<i>“Người quốc sắc, kẻ thiên tài Tình trong như đã mặt ngồi cịn e” </i>

Về Kim Trọng - chàng là một học trị chính thống của Nho giáo. Chàng chắc

<i>chắn phải biết đến lễ giáo “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, hôn nhân phải do cha mẹ sắp </i>

đặt nhưng chàng đã tự mình đính ước với Thúy Kiều. Từ buổi tình cờ gặp Thuý Kiều trong tiết thanh minh, thấy người đẹp yêu kiều thướt tha, chàng Kim liền chạm phải tiếng sét ái tình, và rồi chàng thư sinh Kim Trọng đem lòng tương tư bóng hình giai nhân. Đó là trạng thái tâm lý tự nhiên của các chàng trai khi bước vào tuổi thanh niên. Tuy nhiên, không phải là chuyện trai tài gái sắc hạnh ngộ yêu nhau như một cuộc tình lãng mạn nhất thời, mà chàng Kim đã nghĩ ngay đến chuyện duyên tình trăm năm.

<i>“Chàng Kim từ lại thư song, </i>

<i>Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây. Sầu đong càng lắc càng đầy, </i>

<i>Ba thu dồn lại một ngày dài ghê.” </i>

Và:

<i>“Vì chăng dun nợ ba sinh, </i>

<i>Thì chi đem thói khuynh thành trêu ngươi. Bâng khuâng nhớ cảnh, nhớ người, </i>

<i>Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi.” </i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

<i> Còn về Thúy Kiều, nàng cũng tương tự chàng Kim, nàng là một con người của </i>

đạo đức Nho giáo và chính là con nhà gia giáo. Nàng ắt hẳn cũng hiểu rõ những giáo điều lễ nghi nhưng nàng cũng đã phải lòng Kim Trọng ngay lần gặp đầu tiên:

<i>“Bóng tà như giục cơn buồn </i>

<i>Khách đà lên ngựa người còn ghé theo” </i>

<i>Và rồi người con gái đa cảm Thúy Kiều, sau cuộc gặp gỡ ấy cũng “ngổn ngang </i>

<i>trăm mối bên lịng”. Bóng hình Kim Trọng đã trở thành “ý trung nhân” trong lòng </i>

nàng, để lại bao nỗi bâng khuâng, gieo nên ước vọng tình duyên nơi nàng. Kiều tự vấn lịng mình, cũng là tự vấn cho số phận của cuộc tình mới chớm nở:

<i>“Người đâu gặp gỡ làm chi </i>

<i>Trăm năm biết có dun gì hay không?” </i>

Nguyễn Du quả thật tinh tế khi miêu tả được những tâm trạng khi yêu. Nếu như

<i>nàng ngày nhớ đêm mong thì chàng bạo dạn hơn, quyết tìm đến nhà nàng “xăm xăm đè </i>

<i>nẻo Lam Kiều lần sang”. Nhưng vì nhà nàng “Thâm nghiêm kín cổng cao tường” nên </i>

chàng khơng tìm và nhìn được nàng. Thất vọng, chàng dạo quanh tường nhà Kiều và nhìn thấy phía sau có một ngơi nhà, biết tin đó là nhà của một người bn đi xa vắng, chàng mượn cớ hỏi thuê để được ở gần nhà nàng. Điều này có thể khiến ta cảm thấy kì lạ, nghịch lý nhưng đâu đó ta đã thấy được quan niệm tiến bộ của Nguyễn Du - ông ủng hộ tình yêu tự do nam nữ, ủng hộ những hành động thể hiện sự hết lòng để có thể đến được bên người mình u. Để rồi, cuộc gặp gỡ định mệnh lại được nối dài. Hai người gặp nhau trong cảnh ngộ Kiều để vương chiếc kim thoa trên cành cây.

<i>“Dưới đào dường có bóng người thướt tha. Bng cầm xốc áo vội ra, </i>

<i>Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh. Lần theo tường gấm dạo quanh, </i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

<i>Trên đào nhác thấy một cành kim thoa.” </i>

Trong cuộc hội ngộ ấy, Kim Trọng liền nhân cơ hội nói hết những nhớ thương,

<i>bày tỏ ước muốn được “gắn bó” với Thúy Kiều. Dẫu lễ giáo phong kiến còn khiến nàng Kiều giữ lễ tiết: “Dù khi lá thắm chỉ hồng/Nên chăng thì cũng tại lịng mẹ cha”; nhưng </i>

khi nghe được những lời lẽ chân thành từ chàng Kim, lòng nàng đã cảm thấy yêu rồi. Tình yêu đã khiến nàng mạnh mẽ dám vượt lên mọi rào cản để nhận lời gắn bó với Kim Trọng:

<i>“Đã lòng quân tử đa mang, Một lời vàng tạc đá vàng thủy chung.” </i>

Có thể thấy được rằng, Nguyễn Du đã thể hiện được quan niệm tiến bộ của ơng về tình

<i>u đơi lứa. Khơng phải “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, ông đã trao cho các nhân vật </i>

quyền tự tìm kiếm người mình yêu, và quyền tự quyết định ai sẽ là người nên duyên vợ chồng với mình. Để rồi cả Kim Trọng lẫn Thuý Kiều đều tự quyết định tiến đến hơn

<i>nhân, “qn” đi vai trị định đoạt của cha mẹ, vượt quyền cha mẹ, tự trao đổi vật làm ghi và thề thốt với nhau. Ngay từ trong “buổi mới lạ lùng”, chàng Kim còn đã nghĩ </i>

ngay đến chuyện nếu mẹ cha khơng đồng ý thì sẽ tự tử:

<i>“Ví dù giải kết đến điều, Thì đem vàng đá mà liều với thân.” </i>

Quan niệm tiến bộ vượt thời đại của Nguyễn Du không chỉ thể hiện ở việc Thúy Kiều và Kim Trọng đã yêu nhau bằng một tình yêu trong sáng, tự do hị hẹn mà điều đó

<i>cịn thể hiện ở chi tiết táo bạo “cọc đi tìm trâu”. Ơng là người đã dám đứng trên “chuẩn </i>

mực” Nho giáo để ngợi ca, tôn vinh một người con gái đẹp, tài năng và dám chủ động vì tình yêu. Bởi vì trong tư duy thời phong kiến, nếu có sự chủ động trong chuyện tìm

<i>kiếm bạn đời thì đó là nam chứ không phải nữ. Thế nhưng, trong Truyện Kiều, Nguyễn </i>

Du đã để nhân vật nữ Thuý Kiều chủ động, táo bạo trong việc tìm đến với người u,

<i>bước chân cơ đã vượt ra ngồi mọi khn phép của lễ giáo khi “xăm xăm băng lối vườn </i>

<i>khuya” qua nhà Kim Trọng, chủ động đề nghị trao lời thề nguyền giữa cả hai. Nàng và </i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

<i>chàng đã trao kỷ vật thề hẹn “chiếc vành với bức tờ mây”, cả hai người tự nguyện đính ước có vầng trăng làm minh chứng. Nhưng ngay từ lúc trao nhận “của tin”, Kim – Kiều còn bỏ qua quy tắc “nam nữ thụ thụ bất thân”. Sự bứt phá khỏi quy tắc này càng được thể hiện rõ rệt hơn khi Thuý Kiều đi vào phòng Kim Trọng ở tư thế “sánh vai về chốn </i>

<i>thư hiên”, và rồi ngồi gần chàng Kim đến mức “dải là hương lộn, bình gương bóng lồng”. Những từ “sánh”, “lộn”, “lồng” cho thấy cả chàng lẫn nàng đã trong tư thế gần </i>

bên nhau của nam nữ hiện đại, khơng hề cịn khoảng cách!

<i>“Tiên thề cùng thảo một chương, Tóc mây một món dao vàng chia đơi. </i>

<i>Vầng trăng vằng vặc giữa trời, Đinh ninh hai mặt một lời song song. </i>

<i>Tóc tơ căn vặn tấc lịng, </i>

<i>Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương. Chén hà sánh giọng quỳnh tương, Dải là hương lộn bình gương bóng lồn.” </i>

<i>Thêm nữa, Thuý Kiều và Kim Trọng còn vượt qua quy tắc “nam nữ thụ thụ bất </i>

<i>thân” cấm đốn trai gái sang phịng ở của nhau. Ở việc này, Kiều cũng là người đi </i>

trước! Kiều chẳng những một thân đến phòng chàng Kim, lại cịn ở đó tình tự suốt đêm cho đến sáng hôm sau. Điều này càng chứng minh ở thời đại Nguyễn Du, tình yêu trong tác phẩm của ông là thứ tình yêu tự do. Đây là những điều cấm kỵ của xã hội đương thời nhưng đại thi hào đã vượt rào luân lý thời đại mình để hướng tới một sự tiến bộ tất yếu của nhân loại.

Không những vậy, việc quên hay cố tình chống đối, các quy tắc lễ giáo phong kiến còn được thể hiện ở nhân vật Thúc Sinh. Thúc Sinh thậm chí cịn dám tun bố thẳng với cha: sẵn sàng quyên sinh nếu cha mẹ khơng đồng ý chuyện u đương của mình.

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

<i>“Lượng trên quyết chẳng thương tình, Bạc đen thơi có tiếc mình làm chi!” </i>

Khơng chỉ Kim Trọng hay Thúc Sinh, nói chung là tất cả các nhân vật trong

<i>Truyện Kiều đều không theo sự sắp đặt của cha mẹ trong chuyện quan hệ nam nữ, hơn </i>

nhân. Ở thời đại Nguyễn Du, tình u trong tác phẩm của ơng là thứ tình u tự do - đây là những điều cấm kỵ của xã hội đương thời. Đại thi hào đã vượt rào luân lý thời đại mình để hướng tới một sự tiến bộ tất yếu của nhân loại. Rõ ràng, tình yêu trong tác

<i>phẩm này chỉ tồn tại lý lẽ của con tim, khơng có sự ràng buộc nào của lễ giáo. “Nếu xét </i>

<i>theo luân lý phổ thơng cùng thời thì quả là một hành vi táo bạo khó tha thứ, một cuộc cách mạng về quan niệm luyến ái. Nguyễn Du đã đi trước thời đại của ơng hằng thế kỷ, giải phóng người phụ nữ khỏi những ràng buộc lễ giáo để chỉ nghe theo tiếng gọi trung thực của lịng mình” (Bùi Hạnh Nghi, 2008, trang 19). </i>

<b>2.2.3. Sự thương xót đối với thân phận người phụ nữ (Ngô Quỳnh Như) </b>

<i>Truyện Kiều của Nguyễn Du không chỉ là tác phẩm văn học lớn nhất Việt Nam </i>

thế kỷ XIX, mà còn là minh chứng rõ nét cho sự tiến bộ vượt bậc của nhà thơ về tư tưởng nhân đạo. Điều đó được thể hiện rất rõ qua thái độ cảm thông, trắc ẩn sâu sắc của Nguyễn Du dành cho các nhân vật nữ tài hoa nhưng có số phận éo le trong truyện. Theo

<i>Nguyễn Văn Thọ "Việc Nguyễn Du dành tình cảm chân thành và sự cảm thông sâu sắc </i>

<i>cho những nhân vật nữ éo le số phận như Thúy Kiều, Hoạn Thư... đã nâng tầm Truyện Kiều thành kiệt tác vượt thời đại" (Nguyễn Văn Thọ, 2019, trang 124). </i>

Hình tượng Đạm Tiên là minh chứng sớm nhất cho lòng nhân ái của Nguyễn

<i>Du. Đạm Tiên là một trong những nhân vật nữ đầu tiên xuất hiện trong Truyện Kiều, để lại dấu ấn sâu sắc về sự cảm thông của Nguyễn Du với phụ nữ. Nàng là “thân bất vô </i>

<i>kỷ” mới bán mình vào chốn phong lưu làm ca nhi. Cuộc đời của nàng dường như chỉ </i>

quanh quẩn trong chốn lầu xanh. Dù muốn thoát khỏi cái số phận éo le ấy nhưng lại

<i>“lực bất tòng tâm”. Nàng nổi danh gần xa bởi nhan sắc xinh đẹp và tài hoa của mình. </i>

Có những người vì nghe danh mà khơng tiếc lặn lội đường sá để ngắm nhìn nhan sắc và thưởng thức tài hoa của nàng. Tuy xinh đẹp, tài hoa là thế nhưng người đời vẫn

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

không quên Đạm Tiên là ca nhi chốn lầu xanh nhơ nhuốc. Những định kiến xã hội, lễ giáo nhà Nho đương thời đã biến Đạm Tiên từ một cô gái đáng thương trở thành nàng kỹ nữ tầm thường không xứng đáng được hưởng hạnh phúc. Họ mặc nhiên nghĩ phận

<i>nữ nhi lại làm nghề ca kỹ thì người con gái đã trở nên “tầm thường” trong mắt. Có lẽ vốn thói xưa nay “hồng nhan bạc mệnh”, nàng đã mất khi tuổi cịn trong độ xn thì. </i>

Chính những định kiến xã hội đương thời mà trong tiết thanh minh các mộ phần khác đều được chăm chút khói hương thì mộ của nàng lại lạnh lẽo đến đáng thương:

<i>“Sè sè nấm đất bên đàng Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh </i>

<i> Rằng: “Sao trong tiết Thanh minh Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?” </i>

<i> Vương Quan mới dẫn gần xa: “Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi </i>

<i> Nổi danh tài sắc một thì Xơn xao ngồi cửa kém gì yến anh </i>

<i> Kiếp hồng nhan có mong manh </i>

<i> Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương” </i>

Trước hoàn cảnh ấy, Nguyễn Du đã thể hiện thái độ cảm thông sâu sắc, chia sẻ nỗi đau với Đạm Tiên thay vì lên án như người đương thời. Ơng thương xót trước vận mệnh éo le của cơ gái tội nghiệp, là nạn nhân của số phận bất hạnh. Ông thấu hiểu được nỗi đau, nỗi khổ của người con gái đã lỡ dấn mình vào chốn phong lưu vì hồn cảnh. Ơng đã thể hiện những điều đó thơng qua lời của nàng Thúy Kiều:

<i>“Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa: Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” </i>

Thay vì kết tội, Nguyễn Du cảm thông trước cuộc đời đầy truân chuyên của Đạm Tiên - điều rất chân thành và nhân văn. Nguyễn Du đã hiểu được rằng người đàn bà ở

<i>thời đại ấy có trong mình những nỗi niềm đau đáu: bị trói buộc bởi chữ “trinh”, bị tước </i>

đoạt đi quyền mưu cầu hạnh phúc, rồi họ cũng phải bó mình trước những luật lệ hà khắc

</div>

×