Tải bản đầy đủ (.pdf) (37 trang)

tóm tắt: Migration, climate change, and unemployment in asia

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (363.49 KB, 37 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM ……….. </b>

HUỲNH HIỀN HẢI

<b>DI CƯ, BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ THẤT NGHIỆP Ở CHÂU Á </b>

<b>TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH KINH TẾ HỌC </b>

TP. Hồ Chí Minh, năm 2023

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HỒ CHÍ MINH ……….. </b>

HUỲNH HIỀN HẢI

<b>DI CƯ, BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ THẤT NGHIỆP </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Vấn đề nghiên cứu </b>

Có nhiều lý do dẫn đến người dân di cư đến nơi khác, cả di cư trong nước hoặc quốc tế. Năm động lực di cư chính bao gồm các yếu tố kinh tế, nhân khẩu học, xã hội, chính trị và mơi trường (Black và cộng sự, 2011). Các nhà nghiên cứu vẫn tập trung nhiều vào các khía cạnh kinh tế, nhân khẩu học, vốn xã hội hoặc các vấn đề chính trị mà khơng quan tâm đúng mức đến lý do mơi trường và khí hậu của di cư (Hoffmann và cộng sự, 2021). Khoa học về mối liên hệ giữa di cư-môi trường hoặc biến đổi khí hậu vẫn chưa đưa đến một kết luận trọng tâm nào - và có lẽ điều đó sẽ không bao giờ dẫn đến (Hunter và cộng sự, 2015). Ngoài ra, sự di chuyển của người dân giữa các vùng có thể dẫn đến những thay đổi về cung cầu lao động, tỷ lệ việc làm và thất nghiệp sẽ thay đổi (Harris & Todaro, 1970). Trong khi các lý thuyết chủ yếu mô tả và nhấn mạnh sự di chuyển lao động dựa trên các yếu tố kinh tế và q trình cơng nghiệp hóa, như được minh họa bởi Lewis (1954) và Harris-Todaro (1970). Tuy nhiên, các lý thuyết di cư gần đây, Lý thuyết kinh tế học mới về di cư lao động và Lý thuyết hệ thống thế giới đã thúc đẩy các nhà nghiên cứu chuyển trọng tâm sang các yếu tố môi trường như những yếu tố quyết định quan trọng của di cư. Bất chấp sự thay đổi trọng tâm và nhận thức về tầm quan trọng của khía cạnh mơi trường của di cư (Black và cộng sự, 2011), vẫn chưa có một phân tích và tổng hợp tồn diện và có hệ thống về các yếu tố này.

Năm 2020, Châu Âu và Châu Á có lần lượt khoảng 87 và 86 triệu người di cư quốc tế, chiếm 61% tổng nguồn người di cư quốc tế toàn cầu (IOM, 2023). Châu Á, nơi góp phần lớn nhất

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

vào hiện tượng nóng lên tồn cầu, cũng là một trong những khu vực dễ bị tổn thương nhất trước tác động của biến đổi khí hậu. Năm 2021, hơn 57 triệu người trong khu vực bị ảnh hưởng bởi thảm họa khí hậu và nguy cơ dự kiến sẽ tăng lên. Nếu trường hợp xấu nhất xảy ra, đến năm 2050, đại đa số người dân sống ở những khu vực có nhiều khả năng xảy ra các đợt nắng nóng chết người sẽ ở châu Á, nơi càng trở nên trầm trọng hơn do sự nóng lên tồn cầu và lượng khí thải CO2 (IPCC, 2022). Theo Tổ chức Lao động Quốc tế, năm 2020, tỷ lệ thất nghiệp trung bình ở các nước châu Á là 7,56% so với mức 4,31% vào năm 1991 (ILO, 2020).

Những tác động phức tạp và đa dạng của di cư đã thúc đẩy tác giả nghiên cứu mối liên hệ giữa các yếu tố khí hậu và di cư, di cư và thất nghiệp, biến đổi khí hậu và thất nghiệp. Bằng cách sử dụng các công cụ kinh tế lượng thích hợp, tác giả mong muốn khám phá những bằng chứng mới về những mối quan hệ này. Theo đó, tác giả lựa chọn và thực hiện luận án “Di cư, biến đổi khí hậu và thất nghiệp ở châu Á”.

<b>1.2 Mục tiêu nghiên cứu </b>

Luận án nghiên cứu này được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu sau.

<i>Đầu tiên, </i>nghiên cứu này phân tích ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu như nhiệt độ, lượng mưa, lượng khí thải CO<small>2</small> đến di cư. Luận án này sẽ cung cấp bằng chứng về cơ sở lý luận của vấn đề di cư do khí hậu.

<i>Thứ hai, </i>mục tiêu nghiên cứu này cung cấp bằng chứng về mối quan hệ của di cư quốc tế dẫn đến thất nghiệp. Ngoài ra, nghiên cứu này cố gắng khám phá sự khác biệt giữa các quốc gia có thu nhập cao và các quốc gia có thu nhập thấp ở Châu Á.

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<i>Thứ ba, </i>tác động của các yếu tố mơi trường hoặc khí hậu đến thị trường lao động, đặc biệt là tình trạng thất nghiệp, ở các nước châu Á sẽ được xem xét, cả dài hạn và ngắn hạn. Luận án này sẽ cung cấp bằng chứng hỗ trợ thị trường lao động khu vực Châu Á từ đó có thể đưa ra một số chính sách phù hợp cho các

<b>nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu. </b>

<b>1.3 Câu hỏi nghiên cứu </b>

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, các câu hỏi nghiên cứu sau được đặt ra.

<i>Đầu tiên, </i>ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến di cư ở các nước châu Á là gì?

<i>Thứ hai, </i>mối quan hệ giữa di cư và thất nghiệp ở khu vực châu Á là gì? Tác động của việc di cư đến tỷ lệ thất nghiệp ở các nước có thu nhập cao là gì? Tác động của việc di cư đến tỷ lệ thất nghiệp ở các nước thu nhập thấp?

<i>Thứ ba, </i>tác động của biến đổi khí hậu đến tình trạng thất nghiệp

<i>của các nước châu Á trong ngắn hạn và dài hạn là gì? </i>

<i><b>1.4 </b></i> <b>Giá trị và đóng góp của luận án </b>

<i>Thứ nhất, </i>các nước châu Á nơi người dân di cư vì nhiều lý do khác nhau. Yếu tố kinh tế vẫn là chủ đề chính của những phát hiện chưa quan tâm đến yếu tố khí hậu đối với việc di cư.

<i>Thứ hai, </i>các nước châu Á có tỷ lệ di cư lao động cao nhưng chưa có những nghiên cứu đầy đủ về di cư quốc tế liên quan đến thị trường lao động ở khu vực này một cách đầy đủ.

<i>Thứ ba, </i>luận án này phát hiện cơ chế tác động của biến đổi khí hậu đến tỷ lệ thất nghiệp ở châu Á.

<b>1.5 Đối tượng nghiên cứu </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

Để phân tích những mối quan hệ giữa mơi trường, thất nghiệp và di cư ở các nước châu Á. Nghiên cứu này bao gồm ba nghiên cứu liên quan đến nhau về mối liên hệ giữa biến đổi khí hậu, di

<b>cư và thất nghiệp. </b>

<b>1.6 Phương pháp luận 1.6.1 Dữ liệu </b>

Để trả lời câu hỏi thứ nhất và thứ hai, nghiên cứu này sử dụng dữ liệu của 47 quốc gia trong giai đoạn 1990-2020 với ước tính dữ liệu 5 năm do hạn chế về dữ liệu di cư từ Liên hợp quốc. Hơn nữa, dữ liệu không bao gồm Đài Loan, Hồng Kơng, Macao và Palestine vì thiếu số liệu của các quốc gia này. Để trả lời câu hỏi thứ ba, nghiên cứu này sử dụng dữ liệu hàng năm của 45 quốc gia, không bao gồm Đài Loan, Hồng Kông, Macao, Maldives, Bắc Triều Tiên và Palestine vì thiếu số liệu của các

<b>quốc gia này. </b>

<b>1.6.2 Phương pháp </b>

Nghiên cứu này sử dụng một số kỹ thuật chính để khám phá vấn đề nghiên cứu, bao gồm các ước lượng GLS, GMM, FMOLS, DOLS và CCR để đạt được các kết quả hồi quy phù hợp nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu.

<b>1.7 Cấu trúc của luận án </b>

Chương đầu tiên giới thiệu các vấn đề nghiên cứu. Và chương thứ hai hệ thống hóa các định nghĩa và khoảng trống nghiên cứu. Chương thứ ba đánh giá các yếu tố khí hậu ảnh hưởng đếndi cư quốc tế ở các nước châu Á. Chương thứ tư phân tích mối quan hệ của di cư quốc tế đến tình trạng thất nghiệp. Tiếp theo, trong chương năm, tác động của các yếu tố khí hậu đến thị trường lao động ở Châu Á sẽ được xác định. Cuối cùng,

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

chương 6 đề xuất những kết quả chính của luận án và nêu lên một số kiến nghị đối với các nhà hoạch định chính sách.

<b>CHƯƠNG 2 </b>

<b>ĐỊNH NGHĨA VÀ KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU 2.1 Định nghĩa </b>

<i><b>2.1.1 Di cư </b></i>

Di cư là một hiện tượng liên quan đến việc con người di chuyển từ nơi này sang nơi khác, cho dù đó là sự thay đổi nơi cư trú lâu dài hay tạm thời (Lee, 1966). Số người nhập cư trừ đi số người di cư trong một khoảng thời gian, chia cho dân số nước tiếp nhận trong khoảng thời gian đó (UN, 2017).

<i><b>2.1.2 Biến đổi khí hậu </b></i>

UN (1997) định nghĩa rằng mơi trường có thể được định nghĩa là tập hợp các yếu tố bên ngoài tác động đến sự tăng trưởng, phát triển và sự tồn tại của các sinh vật sống. Noman (2015) cho rằng môi trường bao gồm tất cả các điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và quá trình sống của sinh vật. Theo NASA (2015), khí hậu đề cập đến số liệu thống kê dài hạn về các kiểu thời tiết. Nhiệt độ, lượng mưa, lượng khí thải CO2 là những yếu tố quan trọng quyết định khí hậu và mơi trường.

<i><b>2.1.3 Thất nghiệp </b></i>

Thất nghiệp bao gồm những người khơng có việc làm và muốn có việc làm, đã tích cực tìm việc làm trong 4 tuần qua và sẵn sàng bắt đầu làm việc trong hai tuần tới; cộng với những người thất nghiệp, đã tìm được việc làm và đang chờ bắt đầu trong 2 tuần tới, và là thước đo thất nghiệp (ILO, 2003).

<b>2.3 Khoảng trống nghiên cứu </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<i><b>2.3.1 Biến đổi khí hậu và di cư </b></i>

Đầu tiên, mặc dù số lượng nghiên cứu ngày càng tăng, mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu và di cư và các cơ chế cơ bản của nó vẫn chưa được hiểu rõ. Các lý thuyết khác nhau đưa ra lời giải thích tại sao và làm thế nào biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến quyết định di cư. Bên cạnh việc làm gián đoạn sinh kế, đặc biệt là của các hộ nông dân vốn chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện môi trường để tạo thu nhập, biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng đến việc di cư thông qua một số kênh khác. Suckall và cộng sự. (2016) kết luận rằng biến đổi khí hậu có khả năng làm tăng các rào cản đối với di cư hơn là làm tăng di cư. Trong khi đó, nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy mối quan hệ tích cực trong đó minh họa rằng biến đổi khí hậu hoặc các yếu tố môi trường dẫn đến sự gia tăng di cư (Backhaus et al. 2016; Nawrotski & Bakhtsiyarava, 2016; Mastrorillo et al., 2016; Dallman và Millock, 2017; Chen và Mueller, 2018; Sloat và cộng sự, 2020). Ngồi ra, tính dễ bị tổn thương và tác động của biến đổi khí hậu là mối quan tâm lớn đối với khu vực châu Á. Các quốc gia trong khu vực này rất dễ bị tổn thương trước suy thối mơi trường và biến đổi khí hậu do phần lớn di cư và hoạt động kinh tế. Những thay đổi về khí hậu, chẳng hạn như nhiệt độ ấm lên, lượng mưa giảm và lượng khí thải CO2 là một phần của các yếu tố thúc đẩy vì chúng dẫn đến suy thối mơi trường.

<i><b>2.3.2 Di cư và thất nghiệp </b></i>

Hầu hết người di cư quốc tế xuyên biên giới để tìm kiếm sự cải thiện kinh tế và ảnh hưởng khác nhau đối với thị trường lao động. Các lĩnh vực khác cần quan tâm là vai trò và việc quản lý lao động di cư trong khu vực có tác động đến năng suất và thúc đẩy phát triển kinh tế cũng như xã hội. Các nhà kinh tế tập trung vào các nước EU hay OECD mà chưa quan tâm kỹ đến

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

các khu vực đang phát triển như cận Sahara, châu Á rõ ràng như EU & OECD: Nica (2015); Czaika & Parsons (2017); Kilic và cộng sự. (2019); Guzi & Mikula (2022); Beyer và cộng sự. (2022); schneider (2022), Nhóm quốc gia: Arisman & Yaja (2020); Mueller và cộng sự. (2018); Một quốc gia: Hồi giáo & Khan (2015); Awad và cộng sự. (2015); Latif (2015); Alkhateeb và cộng sự. (2018); Espinosa & Emparanza (2019); AboElsoud và cộng sự. (2020); Thomas (2019); Mohler và cộng sự. (2018); Panthamit (2017); Monte và cộng sự. (2018). Luận án này đặc biệt phát hiện tác động của di cư quốc tế đến tình trạng thất nghiệp ở các nước châu Á bằng dữ liệu mới nhất bằng các phương pháp kiểm tra dữ liệu phù hợp.

<i><b>2.3.3 Biến đổi khí hậu và thất nghiệp </b></i>

Các điều kiện kinh tế vĩ mô như chất lượng môi trường, các vấn đề về thị trường lao động đã được các nhà kinh tế và nhà nghiên thảo luận rộng rãi. ILO (2018) cho thấy hoạt động của con người đã góp phần hoặc làm trầm trọng thêm các thảm họa khác nhau liên quan đến môi trường, dẫn đến mất đi khoảng 23 triệu năm lao động mỗi năm trong khoảng thời gian từ 2000 đến 2015. Theo ILO (2011), sản xuất công nghiệp chiếm 80% lượng khí thải CO2 của châu Âu, do đó cần phải tìm cách giảm lượng khí thải liên quan đến cơng việc. Ngồi ra, quá trình chuyển đổi xanh thể hiện mơ hình giới tính, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực do nam giới thống trị như năng lượng và xây dựng (Masterman-Smith, 2010). Dasgupta và cộng sự. (2021) đã phát hiện ra các yếu tố giảm thiểu ước tính thực nghiệm theo ngành và khu vực riêng biệt đối với nguồn cung lao động. Agba và cộng sự. (2021) đã chứng minh rằng việc thích ứng với biến đổi khí hậu mang lại những cơ hội hỗ trợ sự tồn tại của con người. Luận án này phát hiện cơ chế tác động của biến đổi khí hậu đến thị trường lao động trong ngắn hạn và dài hạn và các

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

nhóm quốc gia có thu nhập khác nhau trong các phát hiện trước giúp cung cấp thêm bằng chứng cho các nhà hoạch định chính sách, đặc biệt là tỷ lệ thất nghiệp ở Châu Á.

<b>2.4 </b> <i><b>Đóng góp </b></i>

<i>Thứ nhất</i>, các nước châu Á chủ yếu là các thị trường mới nổi, nơi người dân di cư vì nhiều lý do khác nhau, từ lý do kinh tế đến các lý do khác. Yếu tố kinh tế vẫn là chủ đề chính được phát hiện chưa quan tâm đến yếu tố môi trường đối với di cư.

<i>Thứ hai, </i>các nước châu Á có tỷ lệ di cư lao động cao nhưng chưa có những phát hiện đầy đủ về di cư quốc tế liên quan đến thị trường lao động. Luận án này có thể cung cấp bằng chứng về mối quan hệ giữa di cư quốc tế và tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực này.

<i>Thứ ba, </i>luận án này khám phá cơ chế tác động của biến đổi khí hậu đến thị trường lao động liên quan đến tình trạng thất nghiệp. Vấn đề biến đổi khí hậu với lao động vẫn cịn tồn tại và còn nhiều tranh luận trái chiều cần được làm rõ, đặc biệt là ở

Châu Á, nơi đối mặt với hiện tượng nóng lên tồn cầu, chắc chắn sẽ chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu. Theo Liên đồn Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế (IFRC, 2021), hơn 57 triệu người trong khu vực bị ảnh hưởng bởi thảm họa khí hậu vào năm 2021, với nguy cơ dự kiến sẽ tăng lên. Trên

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

thực tế, báo cáo năm 2020 của Viện Toàn cầu McKinsey cảnh báo rằng đến năm 2050, phần lớn người dân cư trú tại các khu vực có nguy cơ xảy ra sóng thần chết người sẽ ở châu Á. Báo cáo nhấn mạnh thêm tính cấp thiết của việc giảm sự nóng lên toàn cầu xuống 1,5°C, đồng chủ tịch Nhóm cơng tác III của IPCC, Jim Skea (2020), người tuyên bố rằng nếu không cắt giảm ngay lập tức và quyết liệt lượng khí thải trên tất cả các lĩnh vực thì việc đạt được mục tiêu này sẽ là không thể (IPCC, 2022). Sự thay đổi môi trường sống liên quan đến biến đổi khí hậu đang ngày càng được quan tâm. Số lượng người di cư ở châu Á đứng thứ hai trên thế giới. Để xem xét mối liên hệ phức tạp giữa biến đổi khí hậu và di cư ở các nước châu Á.

<b>3.2 Lý thuyết và tổng quan nghiên cứu 3.2.1 Lý thuyết </b>

<i><b>3.2.1.1 Luật di cư của Ravenstein (1885) </b></i>

Ravenstein (1885) đã phát triển một chuỗi di cư được gọi là “luật di cư”. Ravenstein đã mô tả mức độ và hướng di cư trong cơng trình của mình về quy luật di cư và giải thích các phong trào di cư liên quan đến các cơ hội và hạn chế.

<i><b>3.2.1.2 Mơ hình di cư của Lee (1966) </b></i>

Năm 1966, Lee trình bày một lý thuyết toàn diện về di cư, bắt đầu bằng việc xác định các yếu tố gây ra tình trạng di cư dân số ở một khu vực nhất định. Lý thuyết của Lee cho rằng các yếu tố này có thể được phân thành bốn loại: (i) các yếu tố liên quan đến nguồn gốc, (ii) các yếu tố liên quan đến điểm đến, (iii) các trở ngại can thiệp và (iv) các yếu tố cá nhân.

<i><b>3.2.1.3 Các động lực di cư của Black (2011) </b></i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực phát triển, khoa học khí hậu, mơi trường và thích ứng với khí hậu cần quan tâm nhiều hơn đến vấn đề di cư. Cần có sự hiểu biết tốt hơn về mức độ di cư ảnh hưởng đến tính dễ bị tổn thương và khả năng phục hồi khi đối mặt với biến đổi môi trường.

<b>3.2.2 Tổng quan nghiên cứu </b>

Theo phát hiện của Beine & Parsons (2017) cho thấy, ở các nước thu nhập thấp và trung bình, thiên tai có xu hướng ngăn cản việc di cư hơn là khởi xướng việc di cư. Chen & Mueller (2019) phát hiện ra rằng chỉ riêng tình trạng di cư và sản xuất nơng nghiệp bị ảnh hưởng rất ít bởi lũ lụt. Falco và cộng sự. (2018) báo cáo rằng các tác động tiêu cực liên quan đến khí hậu đến năng suất nông nghiệp dẫn đến sự gia tăng đáng kể tình trạng di cư từ các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là ở các nước nghèo, mặc dù ở mức độ thấp hơn ở các nước thu nhập trung bình. Cattaneo và cộng sự. (2019) phát hiện ra rằng mối tương quan giữa khí hậu và di cư không phải là tuyến tính. Ngồi ra, ảnh hưởng của sự thay đổi lượng mưa và nhiệt độ đến việc di cư thay đổi tùy theo mùa. Mueller và cộng sự. (2020) đưa ra bằng chứng chỉ ra rằng việc giảm tỷ lệ di cư ra khỏi thành thị không liên quan đến việc giảm cơ hội việc làm tại địa phương mà là do tác động tiêu cực đến việc làm liên quan đến khí hậu. Sedova và Kalkuhl (2020) đưa ra bằng chứng cho thấy những cú sốc thời tiết bất lợi làm giảm di cư nông thôn-nông thôn và quốc tế, thay vào đó thúc đẩy người dân di cư đến các thành phố ở các bang khác và có khả năng thịnh vượng hơn . Tổng quan lý thuyết và nghiên cứu cho thấy một khoảng trống nghiên cứu trong mối quan hệ giữa di cư và biến đổi khí hậu. Thứ nhất, mặc dù có rất nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này nhưng các cơ chế cơ bản của mối quan hệ khí hậu-di cư vẫn chưa được hiểu rõ. Thứ hai, các quốc gia ở châu Á khác nhau

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

nhưng đều có chung mối lo ngại về tính dễ bị tổn thương và tác động của biến đổi khí hậu. Những yếu tố này bao gồm nhiệt độ, lượng mưa và lượng khí thải CO2 cũng như thu nhập bình qn đầu người, lạm phát và các yếu tố kinh tế xã hội khác.

<b>3.3 Phương pháp luận </b>

<i><b>3.3.1 Dữ liệu </b></i>

Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu của 47 quốc gia châu Á do Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Lao động Quốc tế và Liên hợp quốc thu thập từ năm 1990 đến năm 2020 theo dữ liệu 5 năm để trả lời RQ1 với tối đa 329 quan sát. Hơn nữa, dữ liệu không bao gồm Đài Loan, Hồng Kông, Macao và Palestine vì thiếu số liệu của các quốc gia này.

<i><b>3.3.2 Phương pháp </b></i>

Nghiên cứu này sử dụng hai kỹ thuật chính để khám phá vấn đề nghiên cứu, đó là ước lượng bảng động, kỹ thuật GMM hệ thống hai bước.

<i><b>3.3.3 Mơ hình nghiên cứu </b></i>

Luận án này đề xuất mơ hình hồi quy sau để xem xét tác động quan trọng của các yếu tố môi trường và kinh tế xã hội đến di cư quốc tế (Mueller et al., 2020; Backhaus et al., 2015; Sloat et al., 2020, Falco et al., 2018).

<small>ܯܫܩܴܣܶܫܱܰ</small><sub>௜௧</sub><small>= ߚ</small><sub>଴</sub><small>+ ߚ</small><sub>ଵ</sub><small>ܯܫܩܴܣܶܫܱܰ</small><sub>௜௧ିଵ</sub><small>+ ߚ</small><sub>ଶ</sub><small>ܶܧܯ</small><sub>௜௧</sub><small>+ ߚ</small><sub>ଷ</sub><small>ܶܧܯ</small><sub>௜௧ିଵ</sub><small>+ ߚ</small><sub>ସ</sub><small>ܴܣܫ</small><sub>௜௧</sub> <small>+ ߚ</small><sub>ହ</sub><small>ܴܣܫ</small><sub>௜௧ିଵ</sub><small>+ ߚ</small><sub>଺</sub><small>ܥܱ2</small><sub>௜௧</sub><small>+ ߚ</small><sub>଻</sub><small>ܥܱ2</small><sub>௜௧ିଵ</sub><small> + ߚ</small><sub>଼</sub><small>ܩܴܱ</small><sub>௜௧</sub> <small>+ ߚ</small><sub>ଽ</sub><small>ܴܶܣܦܧ</small><sub>௜௧</sub><small>+ ߚ</small><sub>ଵ଴</sub><small>ܷܰܧܯܲܮ</small><sub>௜௧</sub><small>+ ߚ</small><sub>ଵଵ</sub><small>ܫܰܥ</small><sub>௜௧</sub><small>+ ݑ</small><sub>௜</sub><small> </small>

<small>trong đó: MIGRATIONit: Tỷ lệ di cư thuần theo quốc gia, 1990-2020 (trên 1.000 dân); TEMit: nhiệt độ trung bình theo quốc gia (0C); RAIit: logarit của lượng mưa, nhiệt độ trung bình theo quốc gia (mm); CO2it: logarit của lượng phát thải CO2 (MtCO2); GROit: Tăng trưởng kinh tế (phần trăm); TRADEit: Độ mở thương mại được đo bằng tổng xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc </small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

<small>gia dưới dạng phần trăm trong GDP của quốc gia đó (tính bằng phần trăm); INCit: logarit thu nhập bình quân đầu người (USD) </small>

<b>3.4 Kết quả và thảo luận </b>

<i><b>3.4.3 Kết quả ươc tính S.GMM: </b></i>

Bảng 3.6 Kết quả thực nghiệm – Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến di cư bằng ước tính S.GMM

<small>MIGRATION MIGRATION MIGRATION </small>

Điều thú vị là lượng mưa ảnh hưởng đáng kể và tiêu cực đến tỷ lệ di cư thuần. Nó cho thấy lượng mưa gần đây cao hơn có mối tương quan nghịch với tỷ lệ tỷ lệ di cư thuần ở châu Á. Khi lượng mưa tăng 1% thì tỷ lệ di cư quốc tế tăng 15,46‰. Các kết quả tương tự cũng được ghi nhận trong nhiều phát hiện

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

(Backhaus và cộng sự, 2015; Beine và Parsons, 2017; Dallmann và Millock, 2017; Falco và cộng sự, 2018; Mastrorillo và cộng sự, 2016; Mueller và cộng sự, 2020; Nawrotzki và Bakhtsiyarava, 2017). Điều thú vị là Mueller và cộng sự. (2014) cũng cho thấy mức độ nghiêm trọng của độ lệch lượng mưa không ảnh hưởng đến việc di cư. Mặt khác, kết quả này khác với một số phát hiện trước đó (Cattaneo và Peri, 2016). Khí thải dioxide được tiết lộ là có mối quan hệ thuận lợi với tỷ lệ di cư ròng. Kết quả cho thấy rằng cứ tăng 1% lượng khí thải dioxide, tỷ lệ di cư ròng sẽ tăng thêm 10,02‰. Tương tự, có mối quan hệ đáng kể và tích cực giữa độ mở thương mại, thu nhập bình quân đầu người, tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ di cư thuần. Khi độ mở thương mại tăng 1%, tỷ lệ di cư quốc tế rịng tăng 0,014‰. Ngồi ra, mức tăng trưởng 1% trong Tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người sẽ làm tăng tỷ lệ di cư ròng thêm 3,7‰. Nó cũng cho thấy rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng 1% sẽ làm tăng tỷ lệ di cư rịng lên khoảng 0,203‰. Ngồi ra, tỷ lệ thất nghiệp tăng 1% dẫn đến tỷ lệ di cư thuần tăng 0,2 phần nghìn.

Bằng cách áp dụng ước tính dữ liệu bảng động, GMM hai bước, kết quả của ước tính này được trình bày trong Bảng 3.6. Đối với các biến kiểm soát, tác giả nhận thấy rằng tỷ lệ di cư thuần trong mẫu có xu hướng ổn định cao theo thời gian, như nghiên cứu này có thể mong đợi. Khi tỷ suất di cư trễ tăng 1‰ thì tỷ suất di cư thuần tăng 0,23‰. Tác giả cũng nhận thấy rằng lượng mưa của một quốc gia đóng vai trị quan trọng trong quy mơ di cư của quốc gia đó. Tuy nhiên, lượng khí thải dioxide được coi là có tác động tiêu cực theo thời gian đến tỷ lệ di cư thuần ở châu Á. Trong Bảng 3.6, nghiên cứu này sử dụng tăng trưởng kinh tế của quốc gia tương ứng như một cơng cụ bên ngồi bổ sung. Nghiên cứu này báo cáo Ước tính bảng động, ước tính GMM hệ thống hai bước, tham số tự tương quan có ý nghĩa

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

thống kê và có độ lớn tương tự. Trong ước tính GMM động, nó tỏ ra tích cực và có ý nghĩa. Nghiên cứu này một lần nữa tìm thấy sự thay đổi dấu từ âm sang dương trên biến RAI có độ trễ. Khi lượng mưa trễ tăng 1% thì tỷ suất di cư thuần tăng 12,43‰. Các thử nghiệm thơng số kỹ thuật của mơ hình cũng chỉ ra một mơ hình được xác định rõ ràng trên các thông số kỹ thuật khác nhau. Mặt khác, nghiên cứu này lại tìm thấy sự thay đổi dấu từ dương sang âm trên biến CO2 có độ trễ. Khi lượng khí thải dioxide trễ tăng 1%, tỷ lệ di cư ròng giảm 9,84‰.

Dựa trên kết quả của hai nhóm quốc gia, luận án này đưa ra ước tính bảng động, ước tính GMM hệ thống hai bước với các thông số kỹ thuật tương tự nhau. Biến RAI có ý nghĩa thống kê và có tác động tiêu cực đến tỷ suất di cư thuần ở hai nhóm quốc gia. Tuy nhiên, hiệu ứng này mạnh hơn ở nhóm thu nhập cao. Với tỷ suất di cư thuần giảm trung bình là 19,31‰ ở nhóm thu nhập cao hơn, trong khi tỷ suất di cư thuần giảm 6,66‰ ở nhóm thu nhập thấp hơn. Ngồi ra, tình trạng di cư chậm lại cho thấy tác động tích cực đối với cả hai nhóm quốc gia, nhưng mức độ đối với các quốc gia thu nhập thấp còn mạnh hơn. Điều thú vị là biến RAI có độ trễ có tác động tích cực đến di cư ở hai nhóm quốc gia, nhưng tác động lên nhóm thu nhập cao lại mạnh hơn. Mặt khác, lượng CO2 tụt lại chỉ có tác động tiêu cực đáng kể đến tỷ lệ di cư thuần ở nhóm các quốc gia thấp hơn. Khi CO2 trễ tăng 1% dẫn đến tỷ lệ di cư thuần giảm 13,13‰.

<b>3.5 Thảo luận </b>

Mục đích của nghiên cứu này là nâng cao sự hiểu biết về nhận thức liên quan đến biến đổi khí hậu, suy thối môi trường và mối quan hệ của chúng với di cư ở châu Á. Điều thú vị là, những phát hiện của chúng tôi ở Châu Á phần lớn phù hợp với một nghiên cứu gần đây cho thấy nhiệt độ có tác động tiêu cực và đáng kể đến khả năng di chuyển của con người ở cả dữ liệu

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

của các quốc gia có thu nhập cao hơn và thấp hơn, nhiệt độ tăng lên như một đại diện cho phép biến đổi khí hậu làm giảm di cư, đặc biệt, nhiệt độ có tác động tích cực đến di cư ở nhóm thu nhập thấp hơn. Ngồi ra, lượng khí thải dioxide có tác động tích cực đến tỷ lệ di cư rịng nhưng mối quan hệ này có tác động tiêu cực khi tác giả xem xét lượng khí thải dioxide có độ trễ. Những kết quả này bổ sung cho những phát hiện mới cho những phát hiện trước đó. Phát hiện của tác giả cũng góp phần củng cố các nghiên cứu trước đây khi phân tích tình trạng di cư trong dài hạn. Việc di cư bị trễ đã làm tăng tỷ lệ di cư thuần trong tương lai. Điều này phù hợp với lập luận của các nhà nghiên cứu trước đây. Những phát hiện này hỗ trợ lý thuyết. Ngoài ra, tác giả củng cố những phát hiện và lý thuyết trước đây khi phân tích tác động của các yếu tố kinh tế như tăng trưởng kinh tế, độ mở thương mại và Tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người có tác động đáng kể và tích cực đến tỷ lệ di cư thuần ở

Ở châu Á, việc thiết lập và nuôi dưỡng một thị trường lao động chất lượng cao là rất quan trọng để đạt được mục tiêu này. Ngoài ra, những lo ngại về vai trò và quản lý lao động di cư trong khu vực cũng như tác động của quyền tự do hiệp hội và cơng đồn đối với năng suất và phát triển kinh tế xã hội cũng phải được giải quyết. Điều đáng chú ý là nhiều nhà kinh tế có xu hướng tập trung vào các khu vực phát triển như EU hoặc các nước OECD và bỏ qua các khu vực đang phát triển như Châu Phi cận Sahara và Châu Á. Bằng cách sử dụng các phương pháp

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

thích hợp để phân tích dữ liệu mới nhất, luận án này đã phát hiện ra những tác động của di cư quốc tế đến tình trạng thất nghiệp ở các nước châu Á. Nghiên cứu đưa ra những kết luận khác nhau về tác động của người di cư và có những hàm ý chính sách đa dạng. Sử dụng các phương pháp thích hợp để kiểm tra dữ liệu mới nhất, nghiên cứu này đặc biệt điều tra tác động của di cư quốc tế đến tỷ lệ thất nghiệp ở các nước châu Á.

<b>4.2 Tổng quan lý thuyết và nghiên cứu liên quan 4.2.1 Lý thuyết </b>

<i><b>4.2.1.1 Mơ hình hai khu vực của Lewis (1954) </b></i>

Phát triển kinh tế được coi là sự chuyển đổi từ nông thôn sang thành thị, được thúc đẩy bởi sự tích lũy vốn và di cư lao động. Lewis (1954) xem xét tính hai mặt của thị trường lao động và sự tương phản về cấu trúc giữa khu vực tự cung tự cấp và khu vực tư bản ở các nền kinh tế đang phát triển.

<i><b>4.2.1.2 Mơ hình Harris – Todaro (1969) </b></i>

Todaro (1969) và Harris & Todaro (1970) nêu vấn đề thất nghiệp ở thành thị liên quan đến di cư trên thị trường lao động, vấn đề này vẫn tồn tại mặc dù tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm ở khu vực thành thị ở mức cao và ngày càng gia tăng trong những năm 1960 và 1970.

<i><b>4.2.1.3 Mơ hình kinh tế mới của di cư lao động (1980s) </b></i>

Stark và Bloom (1985) đã đưa ra khái niệm về mơ hình Kinh tế mới về Di cư Lao động (NELM), đưa ra một quan điểm mới bằng cách thay đổi cách đưa ra các quyết định di cư và bằng cách kết nối di cư nông thôn-thành thị với sự phát triển.

<i><b>4.2.1.4 Lý thuyết hệ thống thế giới (1974) </b></i>

</div>

×