Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (249.71 KB, 15 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">
II. Kiến tạo và các hệ thống đứt gãy 36
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3"><b>I. Sự cần thiết của đề tài:</b>
Việc sử dụng nước cho sinh hoạt, sản xuất và ăn uống tăng lên đáng kể ở các thành phố lớn trong những năm gần đây. Tại các thành phố lớn, đặc biệt thành phố Hồ Chí Minh nơi có tốc độ phát triển kinh tế nhanh cùng với sự tập trung dân cư cao thì việc đáp ứng nhu cầu này đóng vai trị đặc biệt quan trọng.
Tuy nhiên cho đến nay, tại một số vùng trong thành phố cụ thể quận Bình Tân (tách ra từ huyện Bình Chánh) nước máy chỉ đáp ứng cho một bộ phận nhỏ dân cư sống trong khu vực này, do đó việc khai thác và sử dụng nước dưới đất là điều rất cần thiết và tất yếu của người dân. Hiện nay các giếng khoan khai thác tập trung chủ yếu ở hai tầng: tầng Pleistocen (QI-III) và tầng Pliocen trên(N<small>b</small>
Việc khai thác nước dưới đất với lưu lượng quá mức, không theo quy hoạch đã làm cho khả năng bị ô nhiễm của các tầng nước dưới đất trong khu vực có thể xảy ra. Nhất là tầng Pleistocen.
Với đề tài này sẽ góp phần làm sáng tỏ hiện trạng nước dưới đất trong khu vực, cũng như làm sáng tỏ chất lượng nước dưới đất theo thời gian và không gian tại khu vực này
<b>II. Mục tiêu của đề tài.</b>
Nghiên cứu các thành phần hoá học và sự thay đổi của chúng trong nước dưới đất, để từ đó có biện pháp bảo vệ và khai thác một cách hợp lý nguồn tài nguyên này.
<b>III. Nhiệm vụ của đề tài.</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">Làm sáng tỏ điều kiện địa chất thuỷ văn khu vực. Nghiên cứu và hiện trạng chất lượng nước dưới đất đang khai thác. Đồng thời nêu lên nguyên nhân gây ra sự biến đổi chất lượng nước và đề xuất hướng sử dụng.
<b>IV. Ý nghĩa khoa học – thực tiễn.1. Ý nghĩa khoa học.</b>
Qua kết quả nghiên cứu phân tích thành phần hố học nước dưới đất đã góp phần làm sáng tỏ về hiện trạng chất lượng nước dưới đất tại khu vực quận Bình Tân<small>.</small>
<b>2. Ý nghĩa thực tiễn.</b>
Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở cho công tác khai thác và quản lý nguồn nước dưới đất tại khu vực.
<b>V. Khối lượng công việc – các phương pháp nghiên cứu.1. Khối lượng công việc.</b>
<i><b>* Thu thập tài liệu</b></i>
- Các tài liệu về đặc điểm địa chất, địa chất thuỷ văn của thành phố Hồ Chí Minh.
- Các tài liệu về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội ở quận Bình Tân. - Các báo cáo khoa học về nước dưới đất ở thành phố Hồ Chí Minh.
<i><b>* Khối lượng đề tài thực hiện.</b></i>
- Tiến hành khảo sát: đi đến từng hộ dân. - Lấy mẫu: 9 mẫu trong ngày 22-04-2004
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">- Ngoài ra đề tài cịn sử dụng kết quả phân tích mẫu nước từ các đơn vị khác. - Các mẫu được phân tích với các chỉ tiêu: pH, DO, Eh, EC, nhiệt độ, màu, mùi vị, độ axit, độ kiềm, sắt tổng cộng, sắt hai, độ cứng tổng cộng, độ cứng canxi, độ cứng magiê, chất rắn tổng cộng, , cation (NH<small>4</small><sup>+</sup>, Ca<small>2+</small>, Mg<small>2+</small>) anion (SO<small>4</small><sup>2-</sup>, PO<small>4</small><sup>3-</sup>, NO<small>3</small><sup>-</sup>, HCO<small>3</small><sup>-</sup>, Cl<small>-</small>).
<b>2. Phương pháp nghiên cứu.</b>
<i><b>* Thu thập và tổng hợp các tài liệu theo phương pháp tập hợp và chọn lọc.</b></i>
* Phân tích thành phần hoá học của mẫu nước. - pH; DO đo bằng máy WTW 396
- Chất rắn: xác định bằng phương pháp sấy khô ở 105<small>0</small>C.
- Độ kiềm, độ axit, độ cứng tổng cộng, độ cứng canxi, Cl<small>-</small>, xác định bằng phương pháp chuẩn độ, sắt tổng cộng, sắt hai, sunfat, photphat, NO<small>3</small><sup>-</sup>, NH<small>4</small><sup>+</sup>đo bằng máy spectrophotometor hiệu secoman với các bước sóng khác nhau.
- Các chỉ tiêu cịn lại xác định trên cơ sở tính tốn.
- Tổng hợp phân tích kết quả bằng các phần mềm tin học chuyên mơn (mapinfor 6.0 )
Quận Bình Tân là đô thị mới được thành lập bao gồm 10 phường, theo nghị định số 130/NĐ ngày 5/11/2003 của chính phủ từ thị trấn An Lac, xã Bình Hưng Hồ, xã Bình Trị Đơng và xã Tân Tạo của huyện Bình Chánh trước đây. Trong những năm gần đây, tốc độ đơ thị hố diễn ra khá nhanh, có phường hầu như khơng
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">cịn đất nơng nghiệp (phường An Lạc A năm 2003 còn 3.5 ha, phường Bình Hưng Hồ A cịn 39.5 ha).
<b>I. VỊ TRÍ ĐỊA LÍ:</b>
Quận Bình Tân là đơ thị mới phát triển, gồm 3 xã và 1 thị trấn được tách ra từ huyện Bình Chánh. Quận nằm trong toạ độ địa lí từ 10<small>0</small>27’38” đến 10<small>0</small>45’30” vĩ độ Bắc và từ 106<small>0</small>27’51” đến 106<small>0</small>42’00” kinh độ Đơng, tiếp giáp với:
Phía Bắc: quận 12, huyện Hóc Mơn.
Phía Nam: quận 8, xã Tân Kiên, xã Tân Nhựt. Phía Đơng:quận Tân Bình, quận 6, quận 8.
Phía Tây: xã Vĩnh Lộc A, xã Vĩnh Lộc B, xã Lê Minh Xuân.
<b>II. KHÍ HẬU, ĐẶC ĐIỂM THUỶ VĂN:</b>
Bình Tân nằm trong khu vưc nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với hai mùa mưa nắng, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
<b>1. Nhiệt độ khơng khí</b>
− Nhiệt độ cao nhất: 30<small>0</small>C (tháng 4). − Nhiệt độ thấp nhất: 26,8<small>0</small>C (tháng 11). − Nhiệt độ trung bình năm: 27.9<small>0</small>c.
<i>(Theo báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội quận Bình Tân đếnnăm 2010).</i>
<b>2. Độ ẩm khơng khí:</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">Lượng mưa trung bình năm là 1983 mm, tập trung chủ yếu vào các tháng 6, 7, 8, 9, 10 chiếm trên 90% lượng mưa cả năm. Trong tháng 7 có số ngày mưa nhiều nhất là 23 ngày và tháng 2 có số ngày mưa ít nhất là 1 ngày.
<i>(Theo báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội quận Bình Tân đếnnăm 2010).</i>
<b>4. Lượng bốc hơi:</b>
Lượng bốc hơi trong năm khá lớn, tổng lượng là 1399 mm/năm, chiếm 51.3% lượng mưa trung bình năm. Trong đó các tháng nắng lượng bốc hơi là 5-6 mm/ngày, các tháng mưa là 2-3 mm/ngày. Do lượng bốc hơi khá cao vào mùa khô đã làm giảm lượng nước mặt nên phèn và độ mặn tăng ở các vùng trũng.
<i>(Theo báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội quận Bình Tân đếnnăm 2010).</i>
<b>5. Các yếu tố khác:</b>
Nắng: số giờ nắng cả năm là 1829.3 giờ, tháng 5 có số giờ nắng nhiều nhất 204 giơ (6-7 giờ/ngày), tháng 11 có số giớ nắng ít nhất là 136.3 giờ(4-5 giờ/ngày).
Gió:gió thịnh hành trong mùa khơ là hướng gió đơng nam và gió thịnh hành trong mùa mưa là hướng gió Tây Nam. Tốc độ gió trung bình khoảng 2-3 m/s.
Nhìn chung, khí hậu quận Bình Tân có tính ổn định cao, khơng xảy ra thời tiết bất thường như bão lụt, nhiệt độ quá nóng hoặc quá lạnh.
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9"><i>(Theo báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội quận Bình Tân đếnnăm 2010).</i>
<b>6. Nguồn nước và thuỷ văn:</b>
Nguồn nước mặt :quận Bình Tân có hệ thống sơng, rạch từ chi lưu của các sơng Sài Gịn, Nhà Bè-Xồi Rập, Vàm Cỏ Đơng tạo nên, có chế độ bán nhật triều không đều dễ gây ngập vào mùa mưa và mặn xâm nhập sâu nội đồng vào mùa khô. Chất lượng nước ở hệ thống sông rạch của quận rất kém do nằm ở hạ lưu của hệ thống sông nên mức độ ô nhiễm nặng, chủ yếu là các chất thảy từ thành phố theo hệ thống kênh Tàu Hủ, Tân Hố-Lị Gốm, Kênh Đơi, rạch Nước Lên đổ về. Bên cạnh đó cịn có nguồn nước thải từ các khu công nghiệp và khu dân cư của quận thải ra làm cho chất lượng nước càng kém hơn. Do chất lượng nguồn nước kém nên ảnh hưởng đến phát triển kinh tế-xã hội của quận đặc biệt là ô nhiễm môi trường tác động đến đời sống của dân cư rất nhiều.
Nguồn nước ngầm :nguồn nước phần lớn đều bị nhiễm phèn trong các tháng mùa khô nên ảnh hưởng đến việc khai thác sử dụng.
<b>III. ĐỊA HÌNH, ĐỊA MẠO:1. Địa hình:</b>
Địa hình quận Bình Tân thấp dần theo hướng Đơng Bắc-Tây Nam, cao trình biến dạng từ 0.5-4m so với mực nước biển, được chia làm 2 vùng:
-Vùng 1: vùng cao dạng địa hình bào mịn bồi tụ, cao độ từ 3-4m, tập trung ở các phường Bình Trị Đơng, Bình Hưng Hồ.
-Vùng 2: vùng thấp, dạng địa hình tích tụ bao gồm phường Tân Tạo và An Lạc.
<b>2. Địa mạo:</b>
Vùng nghiên cứu nằm ở phía Tây của thành phố Hồ Chí Minh – thuộc đới địa hình chuyển tiếp giữa vùng đồi núi nâng cao ở phía Bắc -Đông
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">Bắc và vùng đồng bằng tích tụ rộng lớn Tây Nam bộ – địa hình có dạng bậc thềm và đồng bằng đầm lầy, sơng-biển.
Địa hình đồng bằng thềm bậc II cao 3m – 3,5m phân bố ở phía Tây nội thành là chủ yếu. Thềm được cấu tạo từ trầm tích sét, bột có nguồn gốc hỗn hợp sông – biển tuổi Holocen sớm.
Địa hình tích tụ đồng bằng thềm bậc I phân bố rộng rãi ở Bình Chánh, đơng Hóc Mơn, nam Củ Chi,…Độ cao trung bình là 1m. Cấu tạo nên thềm này là các trầm tích hổn hợp sơng – biển tuổi Holocen giữa muộn (Q<small>IV</small><sup>2-3</sup>).
Ngồi ra cịn có các trũng lịng sơng cổ trong khu vực.
<b>3. Thổ nhưỡng:</b>
Quận Bình Tân có 3 loại đất chính:
-Đất xám: nằm ở phía Bắc thuộc các phường Bình Hưng Hồ, Bình Trị Đơng khoảng 2516 ha, thành phần cơ học là đất pha, kết cấu rời rạc.
-Đất phù sa có diện tích khoảng 1491 ha thuộc các phường Tân Tạo và một phần của phường Bình Trị Đơng.
-Đất phèn có diện tích khoảng 1094 ha phân bố ở An Lạc và một phần phường Tân Tạo.
<b>IV. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ NHÂN VĂN:1. Đặc điểm đất đai:</b>
Tổng diện tích tự nhiên quận Bình Tân là 5188.7 ha. Tình hình sử dụng đất các ngành năm 2003 được phân theo mục dích sử dụng như sau:
-Đất nông nghiệp :1578.8 ha chiếm 30.3% đất tự nhiên. -Đất chuyên dùng: 1752.7 ha, chiếm 33.8% đất tự nhiên. -Đất ở: 1782.7 ha, chiếm 34.4% đất tự nhiên.
-Đất chưa sử dụng và sông suối: 81.4 ha, chiếm 1.6%, đất tự nhiên (trong đó sơng suối chiếm 99.1%).
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">Trong những năm qua xu thế đơ thị hố, phát triển đô thị trên phương diện sử dụng quỷ đất các ngành diễn ra đặc biệt nhanh, có sự chuyển dịch mạnh cơ cấu đất ở tăng nhanh, đất nông nghiệp giảm mạnh, giảm bình quân năm những năm 2000-2003 là 434 ha. Cụ thể:
-Đất nông nghiệp năm 2000 là 2882.5 ha, chiếm 55.6% đất tự nhiên, năm 2003 giảm mạnh cò 1571.7 ha, chiếm 30.3% đất tự nhiên. Năm 2003 so với năm 200-2003 là 434 ha, được sử dụng 56% cho đất ở, 34% cho phát triển giao thơng và 10% cho các mục đích khác.
Đất chun dùng năm 2000 tăng lên là 1162.1 ha chiếm gần 22.4% đất tự nhiên. Năm 2003 tăng lên 1752.7 ha, chiếm khoảng 33.8% đất tự nhiên. Năm 2003 so với năm 2000 tăng 590.6 ha, tăng bình quân năm những năm 2000-2003 là 196.8 ha được sử dụng 70% cho phát triển giao thơng. Chính việc này phát triển mạnh giao thông là nhân tố tiên quyết cho phát triển mặt kinh tế xã hội và hình thành quân mới Bình Tân .
Đất ở năm 2000 là 1056.9 ha, chiếm 20.4% đất tự nhiên, năm 2003 tăng lên 1782.7 ha, chiếm 34.4% đất tự nhiên. Năm 2003 so với năm 2000 tăng 725.8 ha, tăng bình quân năm những năm 2000-20003 là 242 ha. Đất ở tăng lên đại đa số là đất ở đô thị được xây dựng không đồng đều và một số dự án dân cư tập trung. Điều này quan trọng là nhiều khu dân cư mới ở các phường Bình Hưng Hồ, Bình Hưng Hồ B, Bình Trị Đơng, Bình Trị Đơng A, Tân Tạo, Tân Tạo A không được xây dựng đồng bộ với hệ thống thốt nước, hệ thống giao thơng… gây ngập nước nhiều nơi đang là trở ngại cho việc phát triển đô thị.
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">Mấy năm gần đây quận Bình Tân có tốc độ đơ thị hố rất nhanh do sự ra đời của các khu công nghiệp tập trung, các khu dân cư mới và các khu tái định cư cho dân từ nội thành ra đã làm cho đất nơng nghiêp giảm mạnh, nếu tính giai đoạn từ năm 2001
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">đến năm 2003 đất nơng nghiệp tồn quận giảm khoảng 820 ha, tương ứng tốc độ giảm là 18.9 %/năm, đất nông nghiệp từ chổ chiếm tỷ trọng 46.1% tổng diện tích tự nhiên tồn quận năm 2001, đến năm 2003 đất nơng nghiệp cịn 1572 ha, chiếm khoảng 3.3%. Việc giảm đất nơng nghiệp để ưu tiên cho phát triển các khu công nghiệp, các khu dân cư và các cơng trình cơng cộng là điều tất yếu và hợp lí.
Nhìn chung trong mấy năm gần đây (giai đoạn từ 2001-2003) tất cả các loại đất nông nghiệp đều giảm tương đối nhanh, trong đó đất thuộc nhóm trồng hàng năm giảm với tốc độ nhanh nhất 22.0 %/năm, đất vườn tạp gỉam 11.5%, đất có mặt nước ni trồng thuỷ sản giảm 16.1% riêng cây lâu năm tăng 30%.
Tóm lại, sử dụng quỹ đất, biến động quỹ đất, xu hướng dịch chuyển quỹ đất của quận thời gian qua khá mạnh thể hiện sự hình thành, phát triển một đơ thị. Tuy nhiên cơng tác quản lí nhà nước về xây dựng, quy hoạch khơng gian đơ thị cịn bất cập trước yêu cầu phát triển.
<b>2. Dân số:</b>
Dân số quận Bình Tân năm 2003 là 265.411 người, trong đó nam chiếm 47,45%, nữ chiếm 52,55%. Do tác động của q trình đơ thị hố, dân số quận Bình Tân tăng rất nhanh trong thời gian qua, tốc độ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 1999 - 2003 là 16,17%.
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên có xu hướng giảm dần qua các năm từ 1,51% năm 1999 xuống còn 1,3% năm 2003, tuy nhiên so với tỷ lệ tăng tự nhiên của thành phố(1,27% năm 2002) thì tỷ lệ này vẫn cịn cao, do đó cơng tác kế hoạch hố gia đình phải được quan tâm.
Tỷ lệ tăng cơ học thời gian qua luôn ở mức cao, năm 2001 là 19,84%, năm 2002 tăng 17,65% và đến năm 2003 tăng là 17,31%. phần lớn dân nhập cư là do giản dân từ nội thành, số lao động từ các quận, huyện và các tỉnh khác đến tìm kiếm việc làm. Dân nhập cư chủ yếu tập trung ở các phường có mức đơ độ thị hố cao và các phường có xí nghiệp sản xuất. Vì vậy bên cạnh việc tích cực là tăng thêm nguồn lao động, lực lượng dân nhập cư đang là một áp lực lớn cho quận trong việc quản lí
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">con người, giải quyết việc làm và tăng thêm sự quá tải cho các cơng trình hạ tầng như giáo dục, y tế đồng thời cũng gây nên nhiều hậu quả phức tạp về kinh tế và an ninh trật tự an toàn xã hội.
<i>BẢNG 2: MỘT SỐ CHỈ TIÊU VỀ DÂN SỐ QUẬN BÌNH TÂN 1999-2003</i>
<i>( nguồn: Niên giám thống kê huyện Bình Chánh cũ. Phịng thống kê quận Bình Tân )</i>
Mật độ dân cư quận Bình Tân năm 2003 là 5.115 người/km<small>2</small>, nơi có mật độ
phường có tốc độ đơ thị hố mạnh như An Lạc A, Bình Hưng Hồ, Bình Trị Đơng. Mặc dù có tỷ lệ tăng dân số cao nhưng mật độ dân cư bình quân của quận Bình Tân đến năm 2003 vẫn cịn ở mức thấp so với mật độ bình quân của các quận trong thành phố (10.076 người/km<small>2</small>). Điều này cho thấy khả năng thu hút dân cư của quận Bình Tân rất lớn cũng như có điều kiện thuận lợi trong việc bố trí khu dân cư
</div>