Tải bản đầy đủ (.doc) (33 trang)

Các hội đoàn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (235.26 KB, 33 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>T. Với mục đích đưa quyết nghị của Công nghị Tổng Giáo</b>

phận 2022 áp dụng vào đời sống đức tin, Đức Tổng Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên mời gọi sống chủ đề mục vụ năm 2024 là: “Canh tân đời sống đức tin các ban – hội đoàn”.

<b>2. H. Đời sống đức tin của các ban-hội đồn có đượcđưa ra thành những nghị quyết và chỉ dẫn trong bảnvăn hậu Công nghị “Canh tân đời sống đức tin” khơng?T. Có. Trong tài liệu “Canh tân đời sống đức tin”, theo tinh</b>

thần Công nghị Tổng Giáo phận 2022, đời sống đức tin của các ban- hội đoàn được đề cập toàn bộ trong chương 5, từ số 637 đến số 669.

<b>3. H. Trong chương 5 “Canh tân hội đoàn” của bản văn“Canh tân đời sống đức tin” đã nói gì về đời sống hộiđồn?</b>

<b>T. Về đời sống hội đoàn, trong chương 5 của sách “Canh</b>

tân đời sống đức tin” đã đề cập đến đời sống hội đồn ở bốn khía cạnh sau: bản chất hội đoàn; canh tân sinh hoạt hội đoàn; thống nhất cơ cấu tổ chức hội đoàn; hướng dẫn thiết lập quy chế hội đoàn cấp giáo xứ.

<b>ĐOẠN I. BẢN CHẤT CỦA CÁC BAN – HỘI ĐOÀN4. H. Các ban – hội đồn là gì?</b>

<b>T. Các ban – hội đồn hay hiệp hội là các đoàn thể giáo</b>

dân cùng sống theo một linh đạo, hoặc cổ vũ việc phụng tự công hay học thuyết Ki-tô giáo, hoặc thực hiện các việc tông đồ khác, và đem tinh thần Ki-tô giáo vào các lĩnh vực trần thế. Thơng thường, mỗi ban- hội đồn nhận một vị

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

thánh Bổn mạng, để noi gương nhân đức hay sống theo lời

<i>dạy của ngài. (x. Canh tân đời sống đức tin, số 637. Viết</i>

tắt là CTĐSĐT 637).

<b>5. H. Bản chất của các ban – hội đồn là gì?</b>

T. Bản chất ban hội đồn là một cộng đồn Ki-tơ hữu được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, Đấng thiết lập sự hiệp thông trong Hội Thánh, để các thành viên trong hội đoàn cùng nhau xây dựng giáo xứ và Hội Thánh là Nhiệm thể Chúa Ki-tơ.

<b>6. H. Các ban – hội đồn thể hiện điều gì?</b>

<b>T. Các hội đồn thể hiện mầu nhiệm hiệp thông của Giáo</b>

hội, sự phong phú thiêng liêng của đời sống các tín hữu. Như Sắc lệnh về Hoạt động Tông đồ Giáo dân số 18 viết: “Việc tông đồ của các hội đồn là một dấu chỉ hiệp thơng và hiệp nhất của Giáo Hội trong Đức Ki-tô” (x. CTĐSĐT 638).

<b>7. H. Huấn Quyền nói gì về quyền thành lập hội đồncủa Ki-tơ hữu?</b>

<b>T. Giáo luật điều 215 nói rõ: Các Kitơ hữu có trọn quyền</b>

lập hội, tham gia và điều hành những hội đồn của mình nhằm mục đích từ thiện hoặc đạo đức, hoặc cổ võ đời sống đức tin. Tuy nhiên, các hoạt động này phải được đặt dưới sự giám sát của Đấng Bản quyền địa phương (x. CTĐSĐT 642-643).

<b>8. H. Các ban – hội đồn có những mục đích chính nào?T. Các ban – hội đồn có hai mục đích chính này:</b>

– Một là thánh hố bản thân;

– Hai là làm việc tơng đồ (x. CTĐSĐT 640).

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<b>9. H. Các ban – hội đồn giúp hội viên thánh hố bảnthân thế nào?</b>

<b>T. Nhờ ân sủng của bí tích Rửa Tội, người Kitô hữu được</b>

tháp nhập vào Nhiệm Thể Chúa Ki-tô, và đồng thời cũng

<i>được mời gọi nên thánh: “Các con hãy nên trọn lành nhưCha các con trên trời là Đấng trọn lành” (Mt 5, 48). Hội</i>

viên cần kết hợp chặt chẽ với Thiên Chúa là Đấng Thánh (x. Is 6, 6), qua phụng vụ, các bí tích, nhất là qua việc cử hành Thánh Thể. Trong hội đoàn các thành viên sống hiệp thông với Thiên Chúa và với nhau; là nơi nâng đỡ nhau trên con đường tiến tới sự trọn lành (x. CTĐSĐT 639).

<b>10. H. Các ban – hội đồn làm việc tơng đồ là gì?</b>

<b>T. Là các thành viên trong hội đồn tham gia có trách</b>

nhiệm vào sứ vụ của Giáo Hội; sứ vụ loan báo Tin Mừng Đức Ki-tô như nguồn hy vọng cho mọi người và như nguồn mạch canh tân cho xã hội (x. CTĐSĐT 639).

<b>11. H. Các hội đoàn phân biệt với các ban thế nào?T. Các hội đoàn phân biệt với các Ban theo nghĩa là Ủy</b>

Ban hay Hội đồng tại các giáo xứ như: Hội đồng mục vụ, Ban lễ sinh, Ban ca đoàn, Ban âm thanh ánh sáng, Ban kèn trống. Các ban này qui tụ một số thành viên nhằm lo việc chuyên môn, đảm trách một công việc phụng vụ hay phục vụ nào đó (x. CTĐSĐT số 641). Sinh hoạt của nhóm tín hữu hướng tới mục đích giúp hội viên nên thánh theo một linh đạo hay theo một tinh thần ki-tơ giáo nào đó thì được gọi là hội đồn.

12. H. Các ban – hội đồn có những nhiệm vụ cơ bản nào?

<b>T. Mỗi hội đoàn đều có bốn nhiệm vụ cơ bản này:</b>

– Một là sống theo linh đạo hay tinh thần của thánh Bổn mạng, và thực hiện nội qui mà hội đoàn đã đề ra;

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

– Hai là hiệp nhất nâng đỡ nhau sống đức tin, đức cậy và đức ái;

– Ba là can đảm dấn thân góp phần vào việc xây dựng giáo xứ và Hội Thánh, về tinh thần cũng như vật chất;

– Bốn là hăng say học hỏi Lời Chúa và giáo lý, để có thể làm chứng tá cho Chúa nơi mơi trường sống của mình.

<b>13. H. Vai trị của các ban – hội đồn giúp các thànhviên nên thánh qua việc sống bí tích Rửa Tội là gì?T. Các hội đồn cần giúp các thành viên sống bốn điều</b>

– Một là sống ơn gọi nên thánh của bí tích Rửa Tội;

– Hai là sống theo phẩm giá “con Thiên Chúa”, trong Chúa Ki-tô, và là đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần; – Ba là sống hiệp thông với Hội Thánh trong tư cách là chi thể trong một thân thể Đức Ki-tô;

– Bốn là tham gia vào chức năng Tư tế, Ngôn sứ, và Vương giả của Chúa Ki-tô (x. CTĐSĐT 114-128).

<b>14. H. Các ban – hội đồn có những hình thái nào?T. Hội đồn cơ bản có hai dạng này:</b>

– Một là Hội đoàn tư: Do các tín hữu thỏa thuận với nhau thành lập hội. Nhưng nếu hội đoàn tư này được nhà chức trách trong Giáo Hội can thiệp và phê chuẩn thì trở thành Hội đồn cơng.

– Hai là Hội đồn cơng: Do nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo Hội thành lập (x. CTĐSĐT 644).

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

<b>15. H. Tông huấn Ki-tô hữu giáo dân số 30 đưa ranhững đặc điểm nào để nhận dạng một hội đồn làCơng giáo?</b>

<b>T. Đó là năm đặc điểm này:</b>

– Một là theo đuổi mục đích nên thánh. – Hai là tuyên xưng đức tin Công giáo.

– Ba là hiệp thông chặt chẽ và mãnh liệt với Đức Giáo hoàng và Đức Giám mục

– Bốn là hoà hợp và cộng tác vào việc truyền giáo. – Năm là dấn thân vào xã hội (x. CTĐSĐT 645)

<b>16. H. Năm đặc điểm nhận dạng các ban – hội đồn cịncó ý nghĩa gì nữa khơng?</b>

<b>T. Năm đặc điểm này cịn giúp ích cho các tín hữu thiết lập</b>

hội đoàn đúng với chỉ dẫn của Giáo Hội, đó cũng là những mục đích mà các hội đoàn phải theo đuổi; cũng như dễ dàng nhận dạng những hội đồn nào là đích thực Cơng giáo. Qua đó, nhà chức trách có thể cổ võ và phát triển những hội đồn đích thực, hoặc giải tán những hội đoàn nào đi ngược với các đặc điểm trên.

<b>17. H. Đặc điểm thứ nhất: “Theo đuổi mục đích nênthánh” là thế nào?</b>

<b>T. Nên thánh là ơn gọi của mọi người Ki-tô hữu, được biểu</b>

lộ qua những hoa trái ân sủng mà Thánh Thần đã kết sinh nơi các tín hữu, như là sự tăng trưởng đến sự viên mãn của đời sống Ki-tô hữu và đến sự trọn lành của đức ái. Theo nghĩa này, mọi hội đoàn đều được mời gọi ngày càng trở nên phương tiện thánh hóa trong Giáo Hội, một phương

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

tiện cổ võ và khuyến khích sự phối hợp chặt chẽ giữa đời sống thực tế của hội viên và đức tin của họ (x. TH THGD 30).

<b>18. H. Đặc điểm thứ hai: “Tuyên xưng đức tin Cônggiáo” là thế nào?</b>

<b>T. Tuyên xưng đức tin Công giáo là chấp nhận và công bố</b>

chân lý về Đức Ki-tô, về Giáo Hội và về con người, theo đúng giáo huấn của Giáo Hội. Mọi hội đồn đều phải là mơi trường loan báo và trình bày đức tin, cũng là nơi để giáo dục đức tin trong nội dung tồn vẹn của nó (x. TH THGD 30).

<b>19. H. Đặc điểm thứ ba: “Hiệp thơng chặt chẽ và mãnhliệt với Đức Giáo hồng và Đức Giám mục” là thế nào?T. Là bằng sự xác tín của mình, làm chứng về sự hiệp</b>

thơng vững chắc và mãnh liệt, trong tình con thảo với Đức Giáo hoàng là trung tâm hiệp nhất vĩnh cửu và hữu hình của Giáo Hội phổ quát, và với Đức Giám mục là nguyên lý hữu hình và nền tảng của sự hiệp nhất trong Giáo Hội địa phương, và trong sự tôn trọng lẫn nhau giữa các tổ chức tông đồ trong Giáo Hội. Sự hiệp thông với Đức Giáo hoàng và Đức Giám mục phải được bày tỏ qua thái độ sẵn sàng thẳng thắn đón nhận những giáo huấn về giáo lý và những chỉ dẫn mục vụ của các ngài. (x. TH THGD 30).

<b>20. H. Đặc điểm thứ tư: “Hoà hợp và cộng tác vào việctruyền giáo” là thế nào?</b>

<b>T. Là loan truyền Phúc Âm và thánh hóa nhân loại, đào tạo</b>

cho các thành viên một lương tâm Kitơ giáo, để họ có thể dần dần đem tinh thần Phúc Âm thấm nhập vào các cộng đoàn cũng như các môi trường khác nhau. Theo hướng này, mọi hội đồn phải có một hứng khởi truyền giáo, biến mỗi hội đồn của mình trở thành những dụng cụ ngày càng

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

tích cực hơn của một cuộc Tân Phúc Âm Hóa. (x. TH THGD 30).

<b>21. H. Đặc điểm thứ năm: “dấn thân vào xã hội” là thếnào?</b>

<b>T. Dấn thân hiện diện trong xã hội nhân loại là phục vụ cho</b>

phẩm giá toàn vẹn của con người, phù hợp với học thuyết xã hội của Giáo Hội. Trong ý nghĩa này, các hội đoàn phải trở thành những trào lưu đẩy mạnh sự tham gia và liên đới, để kiến tạo những điều kiện sống cơng bằng và huynh đệ hơn giữa lịng xã hội (x. TH THGD 30).

<b>22. H. Các ban – hội đồn thuần t mang tính đạo đứcbình dân cần lưu ý điều gì?</b>

<b>T. Các hội đồn thuần túy mang tính đạo đức bình dân dễ</b>

chạy theo cảm tính, dễ mở cửa cho những sai lạc, mê tín, thiếu niềm tin gắn bó và có thể đưa tới sự hình thành các giáo phái. Vì thế, các sinh hoạt của các ban- hội đoàn phải được đặt dưới sự giám sát của đấng Bản quyền địa phương, theo như Giáo luật quy định; phải được canh tân để phát huy các năng lực tích cực nhằm xây dựng Giáo Hội cũng như đời sống đức tin của các hội viên. (x. CTĐSĐT 643).

<b>23. H. Hội dịng ba là gì?</b>

<b>T. Những hội đoàn bao gồm các thành viên sống giữa đời</b>

nhưng thơng dự vào tinh thần của một hội dịng, sống đời tông đồ và tiến đến sự trọn lành Kitô giáo dưới sự điều hành tối cao của hội dòng đó, thì được gọi là dịng ba, hay

<i>bằng một danh xưng thích hợp khác. (x. GL 303).</i>

<b>ĐOẠN II. CƠ CẤU TỔ CHỨC HỘI ĐOÀN</b>

<b>24. H. Ai là người giám sát các hiệp hội Ki-tô hữu?T. Tất cả mọi hiệp hội Kitô hữu đều được đặt dưới sự giám</b>

sát của nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo hội ( Đức Giám mục), nhà chức trách này quan tâm đến sự toàn vẹn

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

của đức tin và sự bảo tồn của phong hóa trong hiệp hội, và liệu sao kỷ luật của Giáo hội không bị lạm dụng (x. GL 305).

25. H. Các ban- hội đoàn do giáo dân khởi xướng hoạt động dưới sự hướng dẫn của ai?

<b>T. Các hội đoàn do giáo dân khởi xướng, nếu hoạt động</b>

rộng rãi trong giáo phận thì phải trình Đức Giám mục Giáo phận; nếu chỉ hoạt động trong giáo xứ thì phải trình cho cha xứ biết và theo sự hướng dẫn, giám sát của các ngài (x. CTĐSĐT 657).

<b>26. H. Các ban- hội đồn có tính quốc tế và các hộiđồn theo linh đạo Hội dịng sẽ hoạt động theo quy chếnào?</b>

<b>T. Họ sẽ hoạt động theo quy chế riêng nhưng cần được sự</b>

hướng dẫn bởi các giáo sĩ, tu sĩ của các Dòng và chịu sự giám sát của Bề trên Giáo phận cũng như các cha xứ nơi có hội đồn đó hiện diện (x. CTĐSĐT 658)

<b>27. H. Quy chế các ban – hội đoàn phải được điều chỉnhhoặc soạn thảo như thế nào?</b>

<b>T. Các quy chế của các ban – hội đoàn phải được điều</b>

chỉnh hoặc soạn thảo theo các mẫu quy chế chung cho các ban- hội đoàn cấp giáo xứ và cấp Giáo phận, được gợi ý trong bản văn “Canh tân đời sống đức tin” (x. CTĐSĐT 660).

<b>28. H. Các ban – hội đồn cơng cấp Giáo phận sẽ sinhhoạt theo quy chế nào và cần được hướng dẫn như thếnào?</b>

<b>T. Các hội đồn cơng cấp Giáo phận hoạt động theo quy</b>

chế đã được Bề trên Giáo phận phê duyệt và cần được

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

hướng dẫn bởi một cha linh hướng do Bề trên Giáo phận chỉ định (x. CTĐSĐT 659, 661).

<b>29. H. Các hội đoàn tư cấp giáo xứ sẽ hoạt động như thếnào?</b>

<b>T. Các hội đoàn tư cấp giáo xứ hoạt động theo quy chế</b>

riêng của hội đoàn mình, dưới sự linh hướng và giám sát của cha xứ (x. CTĐSĐT 662).

<b>30. H. Các hội đồn chưa có quy chế cần phải làm gì?T. Các hội đồn này cần soạn thảo quy chế làm nền tảng</b>

cho hoạt động của hội (x. CTĐSĐT 663).

<b>31. H. Một hội đoàn cấp quốc tế hay trực thuộc mộtDòng tu muốn được phép hoạt động trong Giáo phậncần có những điều kiện gì?</b>

<b>T. Cần hội tụ hai điều kiện này:</b>

– Một là cần có phép minh nhiên bằng văn bản của Đức giám mục giáo phận.

– Hai là cần có phép minh nhiên của cha xứ (x. CTĐSĐT 664).

<b>32. H. Linh mục chính xứ có vai trị nào trong việc tổchức và soạn thảo quy chế của các ban – hội đoàn?T. Linh mục chính xứ có vai trị hướng dẫn, để tất cả các</b>

ban – hội đồn trong giáo xứ đều có quy chế hoạt động và thực thi theo qui chế đã được chuẩn nhận (x. CTĐSĐT 663).

<b>33. H. Có được phép lập một hội đồn ngồi địa bàngiáo xứ khơng thuộc quyền quản trị của mình khơng?T. Khơng một linh mục, tu sĩ hay giáo dân nào được phép</b>

thiết lập hội đoàn hay lãnh đạo sinh hoạt của một hội đồn trên địa bàn một giáo xứ khơng thuộc quyền mình coi sóc;

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

làm như vậy là đang vi phạm quyền quản trị của linh mục chính xứ (x. CTĐSĐT 665).

<b>34. H. Ban – hội đồn có được tự ý phổ biến các sáchbáo tài liệu mà chưa được kiểm duyệt khơng?</b>

<b>T. Các ban – hội đồn không được phổ biến các sách, báo,</b>

tài liệu không được kiểm duyệt, vì có những tài liệu chứa những nội dung sai lạc với đức tin Công giáo (x. CTĐSĐT 667).

<b>35. H. Các hội viên của các ban – hội đồn phải có bổnphận và trách nhiệm nào với đồn thể của mình?</b>

<b>T. Các hội viên có trách nhiệm nâng đỡ nhau cùng thăng</b>

tiến về đời sống đức tin, cũng như trong đời sống xã hội; tích cực đóng góp ý kiến xây dựng cho nhau và phải có trách nhiệm vun đắp tình đồn kết trong hội. Họ cũng phải tham gia đầy đủ và tích cực mọi sinh hoạt của hội, nếu có lý do vắng mặt phải báo cáo trước cho Ban Điều hành (x. Đ.11- mẫu QCHĐ).

<b>36. H. Các hội viên trong ban – hội đoàn được hưởngnhững quyền lợi gì?</b>

<b>T. Mọi hội viên đều có quyền được hưởng mọi ân huệ</b>

thiêng liêng do ban – hội đoàn đem lại. Đặc biệt, ban điều hành sẽ tổ chức đến chia vui sẻ buồn với hội viên và gia đình hội viên khi họ gặp những biến cố trong cuộc sống.

<b>37. H. Khi nào một ban – hội đoàn bị chế tài phải dừnghoạt động hay giải thể?</b>

<b>T. Bất kỳ ban – hội đoàn nào đi ngược lại lợi ích thiêng</b>

liêng của hội đồn hoặc lợi ích chung của cộng đồn thì Bề trên Giáo phận (đối với hội đồn cơng) hoặc cha xứ (đối với hội đồn tư) có tồn quyền giải tán hoặc tái cơ cấu để bảo vệ lợi ích thiêng liêng và duy trì sự hợp nhất (x. CTĐSĐT 666).

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

<b>ĐOẠN III. HOẠT ĐỘNG BAN – HỘI ĐOÀN38. H. Tại sao phải canh tân các ban- hội đồn?</b>

<b>T. Vì theo thời gian, sinh hoạt của các ban – hội đồn có</b>

thể bị biến chất, dần dần chỉ chú trọng đến bề nổi và mang nặng tính thế tục, đánh mất bản chất mục đích nguyên thuỷ là cùng giúp nhau nên thánh (CTĐSĐT 647).

<b>39. H. Đâu là bước đầu tiên của việc canh tân các ban –hội đoàn?</b>

<b>T. Bước đầu tiên của việc canh tân là giúp các hội viên ý</b>

thức mục đích của việc tham gia các hội đoàn, mạnh dạn bỏ bớt những sinh hoạt thuần kiểu lễ hội, đồng thời tăng cường các sinh hoạt đạo đức: tham gia các giờ kinh, các Thánh Lễ được dành riêng cho hội. Trước Thánh Lễ bổn mạng, tổ chức tuần Tam Nhật để hội viên suy gẫm gương sáng của thánh Quan Thầy, dọn mình xưng tội rước lễ… ( CTĐSĐT 648).

<b>40. H. Để canh tân đời sống các tín hữu nói chung vàcác hội đồn nói riêng, cơng đồng Vaticanơ II đã nêulên tầm quan trọng của Bí tích nào?</b>

<b>T. Cơng đồng Vaticanơ II đã nêu lên tầm quan trọng hàng</b>

đầu của Thánh lễ trong việc canh tân đời sống các tín hữu và các hội đồn. Vì Bí tích Thánh Thể thơng ban và ni dưỡng trong người tín hữu đức ái đối với Thiên Chúa và loài người. Nhân đức này là linh hồn cho mọi hoạt động tông đồ (x. LG 33).

<b>41. H. Lời Chúa có vai trị nào đối với việc canh tânhoạt động của các ban – hội đoàn?</b>

<b>T. Đời sống đạo đức của các hội viên sẽ được nâng lên một</b>

mức cao hơn nếu đưa vào trong hoạt động của mình một thời gian dành cho việc học, đọc và suy gẫm Lời Chúa. Vì

<i>“đời sống thiêng liêng sẽ được đổi mới nhờ thêm lòng sùng</i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

<i>kính với Lời Chúa, là lời “hằng tồn tại muôn đời” (Is 40,8;</i>

1Pr 1,23-25; x. DV 26).

<b>42. H. Hội viên các ban – hội đồn có thể học hỏi và suygẫm Lời Chúa bằng những cách thức nào?</b>

<b>T. Có những cách thức này:</b>

– Một là sử dụng chính bản văn Thánh Kinh, cùng với các sách hỗ trợ việc tìm hiểu và suy gẫm Lời Chúa.

– Hai là sử dụng các phương tiện truyền thơng để tìm kiếm các bài suy niệm Lời Chúa hằng ngày trên trang mạng của các giáo phận.

– Ba là sử dụng các audio hoặc video chương trình học hỏi Thánh Kinh (CTĐSĐT 650).

<b>43. H. Việc học giáo lý có tầm quan trọng thế nào đốivới việc canh tân ban – hội đoàn?</b>

<b>T. Việc đào sâu giáo lý của Hội thánh Công giáo giúp đức</b>

tin của các hội viên không dừng lại ở lứa tuổi thiếu niên, hoặc khi chịu phép Thêm sức, nhưng sẽ trưởng thành cùng

<i>với tuổi đời. Hơn nữa, mục đích tối hậu của giáo lý là đặtmột người nào đó khơng chỉ tiếp xúc, mà cịn hiệp thơngmật thiết với Đức Giêsu Kitơ: chỉ mình Ngài mới có thểdẫn con người đến tình yêu của Chúa Cha trong ChúaThánh Thần và làm cho chúng ta được thông dự vào sựsống của Ba Ngôi (x. Hướng dẫn việc dạy giáo lý 2020, số75).</i>

<b>44. H. Những yếu tố nào có thể khiến ban – hội đoàn bịbiến chất?</b>

<b>T. Khi hoạt động của các hội đồn khơng cịn trung thành</b>

với mục đích ngun thuỷ là thánh hoá bản thân và dấn thân hoạt động tơng đồ. Khi ấy, hoạt động của hội đồn

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

khơng cịn được bén rễ trong đời sống thiêng liêng, thay vào đó chỉ chú trọng đến hình thức bên ngồi hoặc mang nặng tính thế tục: vào hội để có đồng phục đẹp, có vị trí trong các đồn rước, hay để có chỗ đứng đặc biệt trong giáo xứ. Hội đoàn cũng bị biến chất khi cơng việc tơng đồ mất đi tính Giáo hội, thay vào đó dần biến thành những sinh hoạt của một tổ chức xã hội (CTĐSĐT 647-648).

<b>45. H. Theo văn kiện cơng nghị TGP Hà Nội, có nhữnghình thức canh tân các ban – hội đoàn nào?</b>

– Ba là đẩy mạnh tinh thần truyền giáo và thực thi sứ mạng loan báo Tin Mừng.

– Bốn là thực thi lòng thương xót qua các nghĩa cử bác ái.

<b>46. H. Những việc làm cụ thể nào cho sứ vụ loan báoTin Mừng nơi các ban – hội đoàn?</b>

<b>T. Trước hết là loan báo Tin mừng bằng lời cầu nguyện.</b>

Cầu nguyện cho các kẻ có tội được ăn năn trở lại, cho người ngoại giáo nhận được ánh sáng Chúa Kitơ. Hình thức thứ hai là trở thành chứng nhân cho Chúa trong đời

<i>sống hằng ngày. Như lệnh truyền của Chúa Giêsu: “anhem sẽ là chứng nhân của Thầy khắp cùng thế giới” (x. Cv</i>

1,8; CTĐSĐT 654).

<b>47. H. Tại sao các ban – hội đoàn phải đẩy mạnh tinhthần truyền giáo?</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

<b>T. Vì “Tự bản chất, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo, vì</b>

chính Giáo Hội bắt nguồn từ sứ vụ của Chúa Con và sứ vụ của Chúa Thánh Thần, theo ý định của Thiên Chúa Cha” (x. Ad Gentes, số 2). Đồng thời, khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, người tín hữu cũng đón nhận sứ mạng làm cho mn dân nhận biết Chúa (x. Mc 16, 15). Vì thế, các hội đoàn phải ý thức việc truyền giáo là bổn phận gắn liền với ơn gọi trở nên người Kitô hữu trong lịng Giáo Hội. Từ đó, việc truyền giáo phải trở thành một trong những mục đích hoạt động của các hội đoàn (x. CTĐSĐT 515).

<b>48. H. Động lực nào giúp thúc đẩy việc truyền giáo nơicác ban – hội đoàn?</b>

<b>T. Động lực thúc đẩy việc truyền giáo xuất phát từ chính</b>

<i>tình u của Thiên Chúa đối với tất cả mọi người. “ThiênChúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chânlý” (1 Tm 2,4; CTĐSĐT, số 508). Các thành viên trong hộiđồn cần đón nhận và để chính tình u ấy thúc bách tơi(x. 2Cr 5, 14) ra đi và làm cho mọi người được tham dự</i>

vào sự hiệp thông giữa Chúa Cha và Chúa Con trong Thần Khí tình u của các Ngài (x. CTĐSĐT 508)

<b>49. H. Các ban – hội đoàn tham gia vào việc tái truyềngiáo thế nào?</b>

<b>T. Đó là việc khơi lên ngọn lửa của đức tin và đức mến nơi</b>

những người đã lãnh Bí tích Rửa tội, mà nay sống xa rời Hội Thánh. Cụ thể là thăm viếng và khuyên nhủ những người nguội lạnh, rối hôn phối, bỏ đạo… (CTĐSĐT 655).

<b>50. H. Theo văn kiện công nghị TGP Hà Nội, có nhữnghình thức bác ái cụ thể nào cho việc canh tân các ban –hội đoàn?</b>

<b>T. Một là bác ái với người tội lỗi bằng việc cầu nguyện cho</b>

họ sớm được ăn năn trở lại, cũng như năng gần gũi khuyên

</div>

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×