ĐỀ TÀI: “PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ”
Thành viên nhóm:
1.Lê Văn Đại CQ510879
2.Vũ Thị Đào CQ510868
3.Nguyễn Thị Nga CQ512180
4.Hà Huy Thanh CQ512684
BÀI LÀM
I,NHỮNG NỘI DUNG TỔNG QUAN VỀ TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ:
1.khái niệm về trái phiếu chính phủ:
“Trái phiếu Chính phủ” là loại trái phiếu do Bộ Tài chính phát hành nhằm huy
động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho chương trình, dự án đầu
tư cụ thể thuộc phạm vi đầu tư của nhà nước.
2.mục đích phát hành trái phiếu chính phủ:
Phát hành trái phiếu nhằm các mục đích sau:
+ Đầu tư phát triển kinh tế – xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung
ương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
+Bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước từ vay trái phiếu ngắn hạn.
+Cơ cấu lại khoản nợ, danh mục nợ Chính phủ;
+ Cho doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng, chính quyền địa phương vay lại
theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Các mục đích khác nhằm bảo đảm an ninh tài chính quốc gia……
3.các nguyên tắc phát hành trái phiếu chính phủ:
Quá trình phát hành trái phiếu chính phủ cần tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
1. Việc phát hành trái phiếu phải đảm bảo công khai, minh bạch, công bằng.
2. Việc phát hành trái phiếu phải tuân thủ các quy định của Nghị định này và các
quy định khác của pháp luật liên quan.
3. Chủ thể phát hành trái phiếu phải đảm bảo quản lý, sử dụng vốn trái phiếu
đúng mục đích, hiệu quả và bố trí nguồn vốn trả nợ đầy đủ, đúng hạn.
4.Các điều kiện và điều khoản của trái phiếu
4.1. Kỳ hạn trái phiếu
Ngoại trừ tín phiếu kho bạc do Bộ Tài chính phát hành, các loại trái phiếu Chính
phủ khác, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương
có kỳ hạn từ một (01) năm trở lên. Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể về kỳ hạn trái
1
phiếu, đảm bảo tính đa dạng và tiêu chuẩn hóa các kỳ hạn trái phiếu nhằm mục
đích phát triển thị trường trái phiếu.
4.2. Khối lượng phát hành trái phiếu
Khối lượng trái phiếu phát hành từng đợt do chủ thể phát hành quyết định, căn cứ
vào nhu cầu sử dụng vốn được cấp có thẩm quyền quyết định và điều kiện, khả
năng huy động vốn trên thị trường.
4.3. Mệnh giá trái phiếu
Mệnh giá trái phiếu do chủ thể phát hành quyết định. Trường hợp trái phiếu niêm
yết trên Sở giao dịch chứng khoán, mệnh giá trái phiếu được quy định phù hợp với
quy định về niêm yết và giao dịch chứng khoán.
4.4. Đồng tiền phát hành, thanh toán trái phiếu
a) Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính
quyền địa phương phát hành trong nước bằng đồng Việt Nam. Trường hợp trái
phiếu Chính phủ phát hành trong nước bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi thực hiện
theo đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
b) Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh phát hành ra thị
trường quốc tế bằng ngoại tệ theo đề án được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo
quy định tại Nghị định này.
c) Đồng tiền sử dụng để thanh toán gốc, lãi trái phiếu cùng loại với đồng tiền khi
phát hành.
d) Việc sử dụng ngoại tệ làm đồng tiền phát hành, thanh toán trái phiếu phải đảm
bảo phù hợp với quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.
4.5. Hình thức trái phiếu
a) Trái phiếu được phát hành dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ
liệu điện tử.
b) Chủ thể phát hành quyết định cụ thể về hình thức trái phiếu đối với mỗi đợt phát
hành.
4.6. Lãi suất trái phiếu
a) Lãi suất trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu
chính quyền địa phương phát hành trong nước do chủ thể phát hành quyết định
trong khung lãi suất do Bộ Tài chính quy định.
b) Trái phiếu được phát hành theo lãi suất cố định, lãi suất thả nổi và lãi suất chiết
khấu theo phương án phát hành được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
4.7. Mua lại và hoán đổi trái phiếu
a) Mua lại trái phiếu trước hạn
2
- Chủ thể phát hành có thể mua lại trái phiếu trước hạn để giảm nghĩa vụ nợ hoặc
để cơ cấu lại nợ theo đề án được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của
Nghị định này và quy định của pháp luật về quản lý nợ công.
- Việc mua lại trái phiếu trước hạn phải đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch
và hiệu quả.
b) Hoán đổi trái phiếu
- Trái phiếu Chính phủ đã phát hành có thể được hoán đổi để cơ cấu lại nợ theo
chương trình, kế hoạch cơ cấu lại nợ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo
quy định của Nghị định này và quy định của pháp luật về quản lý nợ công.
- Việc hoán đổi trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh phải được sự chấp thuận của
Bộ Tài chính.
- Việc hoán đổi trái phiếu phải đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch và hiệu
quả.
5.phân loại trái phiếu chính phủ:
1. Tín phiếu kho bạc:là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn 13 tuần, 26 tuần hoặc
52 tuần và đồng tiền phát hành là đồng Việt Nam. Các kỳ hạn khác của tín phiếu
kho bạc do Bộ Tài chính quyết định tùy theo nhu cầu sử dụng vốn và tình hình thị
trường nhưng không vượt quá 52 tuần.
2. Trái phiếu kho bạc: là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ một (01) năm trở
lên và đồng tiền phát hành là đồng tiền Việt Nam hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi.
3. Công trái xây dựng Tổ quốc: là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ một (01)
năm trở lên, đồng tiền phát hành là đồng Việt Nam và được phát hành nhằm huy
động nguồn vốn để đầu tư xây dựng những công trình quan trọng quốc gia và các
công trình thiết yếu khác phục vụ sản xuất, đời sống, tạo cơ sở vật chất, kỹ thuật
cho đất nước.
II.PHƯƠNG THỨC PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ:
Phương thức phát hành trái phiếu
1. Tín phiếu kho bạc: được phát hành theo phương thức đấu thầu qua sở giao dịch
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoặc phát hành trực tiếp cho Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam. Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn về trình tự
thủ tục phát hành tín phiếu kho bạc. Trường hợp phát hành trực tiếp tín phiếu kho
bạc cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính thống nhất với Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định đối với
từng đợt phát hành.
3
2. Trái phiếu Chính phủ được phát hành theo các phương thức sau:
a) Đấu thầu phát hành trái phiếu.
b) Bảo lãnh phát hành trái phiếu.
c) Đại lý phát hành trái phiếu.
d) Qua kho bạc nhà nước.
2.1.Qua kho bạc nhà nước:
Đây là phương thức phát hành mà kho bạc nhà nước sẽ huy động lực lượng nhân
sự tại chỗ của đơn vị tự tổ chức tiêu thụ trái phiếu thông qua hệ thống của mình ở
trong nước và thông qua hệ thống văn phòng đại diện ở nước ngoài.
Đây là phương thức vay nợ chủ chốt trong điều kiện nền kinh tế của đất nước
chưa hình thành thị trường chứng khoán hoặc thị trường chứng khoán và thị trường
tiền tệ chưa phát triển để giải quyết áp lực phải huy động lượng vốn vay cần thiết
cho ngân sách nhà nước(NSNN).
2.2.Bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ:
Bảo lãnh phát hành trái phiếu:tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện
các thủ tục trước khi phát hành trái phiếu chính phủ(TPCP) ra thị trường chứng
khoán, phân phối trái phiếu cho các nhà đầu tư, nhận mua trái phiếu để bán lại
hoặc mua số trái phiếu còn lại chưa phân phối hết trong đợt phát hành.
2.3. Đấu thầu phát hành trái phiếu:
Đây là phương thức tiêu thụ mới,tốc độ tập trung vốn nhanh,trái phiếu chính phủ
góp phần đa dạng hóa hàng hóa trên thị trường,trở thành một trong những loại
chứng khoán chủ lực thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển.
.
2.4.Đại lý phát hành:
Đại lý phát hành là việc tổ chức phát hành ủy thác cho một tổ chức khác thực
hiện bán trái phiếu cho các nhà đầu tư. Tổ chức nhận làm đại lý phát hành được
hưởng phí đại lý phát hành căn cứ theo số lượng trái phiếu tiêu thụ được,lượng trái
phiếu tiêu thụ không hết của đợt phát hành,đại lý được quyền hoàn trả lại cho tổ
chức phát hành.
III.THỰC TRẠNG PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ TẠI VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN VỪA QUA:
Những thông tin về đợt phát hành trái phiếu quốc tế lần đầu của chính phủ
Việt Nam năm 2005:
4
Ngày 27/10/2005, Việt Nam phát hành trái phiếu quốc tế lần đầu tiên ra thị
trường quốc tế tại New York, trị giá chào bán là 750 triệu USD với lãi suất
7,125%/năm và có thời hạn là 10 năm.
Kết quả thành công của lần phát hành đầu tiên của trái phiếu quốc tế đạt
được:
Ngày 29/10/2005 là ngày định giá trái phiếu Chính phủ VN trên thị trường tài
chính thế giới thì số lượng các nhà đầu tư đặt mua lên tới 4,5 tỷ USD,gấp khoảng 6
lần giá trị chào bán của trái phiếu quốc tế ban đầu.
Đặc lãi suất trái phiếu Chính phủ VN phát hành rất hiệu quả, thấp hơn lãi suất
trái phiếu của các nước trong khu vực có cùng hệ số tín nhiệm. Lãi suất trái phiếu
loại 10 năm của VN thực trả là 7,125%/năm. Trong khi, mức lãi suất trái phiếu
Chính phủ Philippines loại 10 năm giao dịch ở mức 8,1%/năm, còn trái phiếu
Chính phủ Indonesia loại 10 năm giao dịch ở mức 7,8%/năm.
Trái phiếu quốc tế phát hành lần đầu tiên của Việt Nam đã được Tạp chí Tài
chính quốc tế và các nhà đầu tư khu vực châu Á đánh giá là trái phiếu phát hành
thành công nhất của năm 2005 và được Tạp chí Tài chính quốc tế trao giải thưởng
“trái phiếu quốc tế phát hành thành công nhất trong năm 2005”.
Đợt phát hành trái phiếu quốc tế này đã tạo bước ngoặc đặc biệt và tạo nền
tảng quan trọng cho các đợt phát hành sau vì sự thành công của đợt phát hành này
đã có ý nghĩa tác động đến các nhà đầu tư quốc tế để họ xây dựng các hạn mức tín
dụng đầu tư vào Việt Nam trong tương lai đồng thời đã nâng cao hệ số tín nhiệm
cho trái phiếu Chính phủ Việt Nam trên thị trường trái phiếu quốc tế, mở ra kênh
huy động vốn dài hạn cho các doanh nghiệp cũng như Chính phủ Việt Nam trong
thời gian sau này. Ở đợt phát hành lần này, Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Việt
Nam (Vinashin) là doanh nghiệp đầu tiên đã được lựa chọn giải ngân.
Phân tích những nguyên nhân thành công của trái phiếu quốc tế của chính phủ
Việt Nam lần đầu năm 2005:
1.Tính mở cửa của nền kinh tế:
Có thể khẳng định rằng Việt Nam là thị trường mới nổi có mức độ phát triển
thuộc loại nhanh nhất trong thời gian gần đây ở khu vực và trên thế giới.Điều này
có được là do thành công của thị trường Việt Nam là thành công cải cách và mở
5
cửa được thực hiện một cách tích cực trong suốt thời gian qua(kể từ sau ĐH VI
năm 1986).các chính sách cải cách đã có tác động mạnh mẽ,thực sự tạo được động
lực giải phóng sức sản xuất của các chủ thể trong toàn bộ nền kinh tế
2.Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định:
Mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính trong khu vực,Việt Nam vẫn
có được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định.Cụ thể:đầu những năn 90 của thế
kỷ 20,Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng GDP trên 8-9%/năm.từ sau khủng hoảng tài
chính khu vực châu Á năm 1997,bước sang thế kỷ 21,Việt Nam luôn duy trì tốc độ
tăng trưởng GDP trên 7-8%/năm.Đây là một lý do quan trọng làm tăng trưởng tỷ
trọng chứng khoán Việt Nam trong danh mục đầu tư thị trường Châu Á và tăng sức
hấp dẫn của thị trường việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
6
3.Tổng đầu tư toàn xã hội luôn ở mức cao
Quá trình cải cách kinh tế,đặc biệt là sự thừa nhận và tôn trọng khu vực kinh tế tư
nhân,cải cách hành chính,tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài đã giúp cho Việt
Nam đạt kỷ lục mới trong việc thu hút đầu tư,kể cả đầu tư nước ngoài.
Đặc biệt từ cuối những năm 90 của thế kỷ 20 Việt Nam luôn duy trì tỷ trọng đầu tư
40%GDP.
Chính việc duy trì tỷ trọng đầu tư cao đã làm nâng cao năng lực sản xuất của toàn
bộ xã hội cũng như khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.
7
4.Việt Nam là quốc gia đã và đang thực hiện khá thành công cải cách hệ thống
tài chính.
Số lượng và chất lượng các trung gian tài chính tăng nhanh,từ đó tăng chất lượng
các dịch vụ tài chính và chuyển tải được một lượng vốn đáng kể cho phát triển
kinh tế.Tốc độ tăng trưởng tín dụng cao,chất lượng tín dụng trong nền kinh tế được
cải thiện đáng kể.sự phát triển của hệ thống tài chính đã tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động,góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ
cấu nền kinh tế theo hướng CNH-HĐH.
5.Việt Nam đã và đang cải cách thành công khu vực doanh nghiệp:
Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã tạo diện mạo mới nâng cao chất
lượng hoạt động của DNNN thống qua thay đổi phương thức quản lý theo hướng
minh bạch hóa hơn,đồng thời có thể giúp chính phủ thu về lượng lớn thống qua
bán cổ phiếu của các công ty cổ phân hóa thuộc doanh nghiệp nhà nước,đồng thời
với đó là phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân,công ty TNHH,công ty cổ
phần,quyền bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp được nâng lên,mặt khác tác
động của việc cải cách hành chính thực sự tạo hiệu quả cho các doanh nghiệp.
8
6.Thị trường tài chính tiền tệ được điều hành tương đối tốt:
Tỷ lệ lạm phát ở mức trên 7%/năm,đây là mức khá cao tuy nhiên con số này khá
ổn định,lãi suất trong nền kinh tế khá ổn định và có xu hướng giảm,tỷ giá được
điều hành khá tốt,điều này giúp cho duy trì ổn định giá trị VND so với USD,cân
đối ngân sách nhà nước được xử lý tốt thông qua phát hành trái phiếu chính phủ.
9
7.Cơ sở hạ tầng được đầu tư tốt và cải thiện đáng kể:
Cơ sở hạ tầng bao gồm cơ sở hạ tầng kinh tế,hệ thống thông tin,cơ sở hạ tầng giao
thông,cơ sở hạ tầng kỹ thuật,cơ sở hạ tầng xã hội của Việt Nam ngày càng được
hoàn thiện và nâng cao điều này góp phần đắc lực vào công cuộc phát triển kinh tế.
8.Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp xây
dựng và dịch vụ đồng thời giảm tỷ trọng các nghành nông,lâm,ngư nghiệp.
Bảng số liệu trang 212
10
Trong nội bộ các nghành kinh tế cũng có sự chuyển dịch:trong ngành NN thì tỷ
trọng chế biến xuất khẩu tăng,giảm tỷ trọng chăn nuôi.
9.Thị trường tiêu dùng tăng mạnh:
Tốc độ tăng trưởng tiêu dùng hàng năm cao trên 20%/năm.Triển vọng phát triển thị
trường tiêu dùng ở một nước có hơn 86 triệu dân được xem là điểm hấp dẫn các
nhà đầu tư nước ngoài trong việc phát triển hệ thống phân phối,bán lẻ tại Việt Nam
11
10.Thị trường BĐS giá quá cao,và luôn ở trong tình trạng đóng băng:
Đây là một trong những nguyên nhân khiến cho tăng cầu đầu tư chứng khoán Việt
Nam
11.Hệ thống pháp luật được cải thiện đáng kể:
Môi trường pháp lý có ảnh hưởng lớn tới mức độ rủi ro của của các doanh
nghiệp cũng như sức hấp dẫn của các nhà đầu tư cả ở trong và ngoài nước.Tại Việt
Nam trong những năm gần đây hệ thống pháp lý luôn được xây dựng theo hướng
đồng bộ,khả thi,ổn định,hiệu quả cũng như sự phù hợp của hệ thống pháp luật với
các thông lệ trên thế giới.
Một loạt các văn bản pháp lý quan trọng đã được ban hành,như:Luật doanh
nghiệp(),Luật các tổ chức tín dụng(),Luật chứng khoán(),Luật đầu tư chung(),Các
luật thuế,luật Bảo hiểm….đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và các
nhà đầu tư.
12
Kết luận:
Những nguyên nhân phân tích trên đã dẫn tới tốc độ tăng trưởng kinh tế cao,Rủi ro
chính trị,rủi ro lãi suất,rủi ro sức mua,rủi ro tỷ giá trên thị trường của trái phiếu
quốc tế của chính phủ Việt Nam là tương đối thấp,điều này làm tăng sự hấp dẫn
của trái phiếu quốc tế của chính phủ Việt Nam.
IV.NHỮNG TỒN TẠI, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HÀNH TRÁI
PHIẾU CHÍNH PHỦ TRONG THỜI GIAN TỚI.
1. Tồn tại.
- Xếp hạng hệ số tín nhiệm
Theo các chuyên gia, lãi suất trên thị trường quốc tế thời điểm đó vẫn đang ở mức
thấp, việc chọn lãi suất cố định vẫn thích hợp cho các lần phát hành tới. Lãi suất cố
định của trái phiếu quốc tế một số quốc gia thường được tính bằng lãi suất trái
phiếu kho bạc Mỹ cùng thời hạn cộng với một biên độ. Biên độ nhiều hay ít một
phần phụ thuộc vào hệ số tín nhiệm. Thời điểm này mức độ tín nhiệm của Việt
Nam đã được cải thiện rất nhiều, minh chứng là kết quả mức lãi suất 7.125% cho
lần phát hành đầu tiên trái phiếu Chính phủ. Tuy nhiên mức hệ số tín nhiệm thời
điểm này vẫn ở mức độ trung bình.
- Tính hấp dẫn của trái phiếu
Về mặt lý thuyết, rủi ro càng nhiều hay hệ số tín nhiệm càng thấp thì nhà đầu tư
yêu cầu lãi suất càng cao khi đầu khi vào trái phiếu. Theo một số chuyên gia, các
nhà đầu tư đã ấn định mức lãi suất 7.1255 là tương đối cao so với xếp hạng rủi ro
của Việt Nam.
Với mức dự trữ ngoại hối tại thời điểm đó của Việt Nam khoảng 7.503 tỷ USD,
tương đương 2,6 tháng nhập khẩu, rõ ràng không có gì lạ khi lần vay nợ thương
mại đầu tiên trái phiếu của Chính phủ Việt Nam được đăng kí mua lên tới 4,5 tỷ
USD, cao gấp 6 lần so với lượng trái phiếu Việt Nam đã phát hành. Tuy nhiên,
những lần vay sau tính hấp dẫn trái phiếu quốc tế của Chính phủ Việt Nam có thể
khác, rủi ro tăng lên và mức lãi suất đi vay có thể sẽ cao hơn.
- Giá trái phiếu
Trái phiếu không phải là nợ mà là công cụ nợ, có thể mua bán, sang nhượng, tính
thanh khoản khi niêm yết cao hơn hẳn việc vay nợ. Song dẫu sao vẫn phải trả, cả
13
gốc lẫn lãi. Giá trái phiếu thông thường tùy thuộc vào thị trường cung cầu. Trường
hợp số lượng mua nhiều hơn bán, giá bán phải bằng hoặc cao hơn mệnh giá phát
hành. Với số lượng đặt mua của nhà đầu tư lên tới 4.5 tỷ, gấp 6 lần số phát hành
nhưng giá bán của trái phiếu Chính phủ phát hành năm 2005 lại thấp hơn mệnh giá.
Như vậy số tiền mà chúng ta thu được ít hơn mệnh giá đã phát hành nhưng tiền lãi
vẫn phải trả đủ trên mệnh giá phát hành.
- Đơn vị tiền tệ của trái phiểu quốc tế.
Việt Nam mới chỉ phát hành lần đầu tiên trái phiếu Chính phủ ra thị trường vốn
quốc tế bằng đô la Mỹ; tuy nhiên với sự biến động của đồng đô la Mỹ như thời
điểm đó (2005), việc chọn đô la Mỹ là đồng tiền duy nhất cho các phát hành trái
phiếu tiếp theo là điều hoàn toàn không khả thi.
Thêm vào đó, phát hành trái phiếu quốc tế tức là vay nợ bằng USD, trong điều kiện
tỉ giá ổn định, vấn đề này có lẽ không quá quan trọng. Nhưng nên nhớ rằng, trong
cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, hàng loạt DN phá sản khi Chính phủ các nước
khu vực buộc thả nổi đồng bản tệ. Tỉ giá quá cao và các khoản nợ do phát hành trái
phiếu USD tăng nhanh khi quy đổi thành nội tệ.
- Qúa trình quản lý nguồn vốn.
Theo hợp đồng cho vạy lại giữa Vinashin và Bộ tài chính, quá trình giám sát
Vinashin trong việc sử dụng nguồn vốn vay thông qua hình thức phát hành trái
phiếu quốc tế trông đợi hoàn toàn vào ngân hàng BIDV. Trách nhiệm vô cùng nặng
nề cho BIDV vì nếu Vinashin không trả được nợ, tổn thất ngân sách xảy ra và khi
đó số nợ sẽ có nguy cơ
đe dọa đến tính bền vững của sự phát triển sau này.
2. Nguyên nhân của tồn tại.
- Thông tin chính xác, minh bạch là yêu cầu quan trọng nhất với mọi chủ thể khi
phát hành chứng khoán. Để phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế, Việt Nam đã
từng bước tuân thủ nguyên tắc quốc tế về công khai và minh bạch, tuy nhiên kết
quả đánh giá của các tổ chức quốc tế đưa ra về tính công khai thông tin, Việt Nam
vẫn còn ở mức thấp.
+ Trong bảng xếp hạng của tổ chức minh bạch quốc tế (IT) năm 2005, Việt Nam
được xếp hạng 107 với chỉ số cảm nhận tham nhũng CPI là 2.6 (CPI với thang
điểm tự 1-10, điểm càng thấp thì nạn tham nhũng càng nghiêm trọng).
+ Còn theo đánh giá của World Bank, thang điểm đánh giá mức công khai thông
tin qua điều tra môi trường kinh doanh tại 157 quốc gia là từ 1-7 (thang điểm cao
14
thì càng minh bạch) thì Việt Nam được xếp hạng 1, thấp hơn tất cả các quốc gia
trong khu vực trừ Campuchia (hạng 0).
- Dự trữ ngoại hối của Việt Nam không có gì tiến bộ, vẫn là 2,6 tháng nhập khẩu
trong hơn 5 năm qua, mặc dù con số tuyệt đối dự trữ ngoại hối quốc gia (ước đoán)
có tăng nhưng số dự trữ so với nhập siêu của Việt Nam cũng tăng lên tương ứng.
Sau cuộc khủng hoảng Châu Á, mức dự trữ ngoại hối an toàn được nhìn nhận một
cách thận trọng hơn sao cho đủ sức đối phó với những nguy cơ khủng hoảng, vì
vậy dự trữ sẽ được tính trên mức nợ ngắn hạn của quốc gia thay vì chỉ tính trên các
khoản nhập khẩu. Nếu xét tính an toàn dự trữ ngoại hối của chúng ta theo cách tính
này thì mức dự trữ ngoại hối thời điểm đó còn rất thấp chỉ bằng 1/3 so với tiêu
chuẩn chung của quốc tế. Nếu xảy ra một cú sốc bên ngoài như khủng hoảng tài
chính, khả năng thất thoát vốn trên cán cân vốn là không thể tránh khỏi, dự trữ
ngoại hối quốc gia cạn kiệt và do đó trả nợ nước ngoài sẽ trở thành một gánh nặng.
- Trên thị trường luôn có những nhà đầu tư mạo hiểm- là những người thích khẩu
vị rủi ro. Họ sẵn lòng bỏ qua trái phiếu kho bạc Mỹ, vì lãi suất thấp chỉ khoảng
4,5%/năm (có mức tín nhiệm là AAA, độ rủi ro được xem như bằng 0). Trái phiếu
Chính phủ Việt Nam vừa phát hành, với mức tín nhiệm BB, lãi suất đến
7,125%/năm đã đáp ứng được khẩu vị của một số nhà đầu tư mạo hiểm. Chính
điều này đã nâng khối lượng mua trái phiếu lên gấp nhiều lần so với khối lượng
bán ra, tuy nhiên số tiền mà Việt Nam nhận được chỉ là 98,233% so với mệnh giá.
- Sự suy giảm đồng đô la Mỹ so với ngoại tệ khác buộc các nước trong khu vực
Châu Á (khu vưc nắm giữ đô la Mỹ trong dự trữ ngoại hối nhiều nhất thế giới) sẵn
sàng bán đo la Mỹ mua các ngoại tệ mạnh khác, tình hình này làm cho đồng đo la
Mữ ngày càng suy yếu hơn, không còn là đồng tiền vững mạnh trên thế giới. Việc
mua bán xuất nhaapk khẩu bằng đồng đo la Mỹ trên thị trường quốc tế sẽ giảm, bị
thay thế bởi các ngoại tệ mạnh khác.
Chính sách tỷ giá thả nổi có kiểm soát là thích hợp cho hoàn cảnh Việt Nam lúc đó.
Tuy nhiên theo IMF trong thời gian tơí (2006 trở đi) Việt Nam cần phải linh hoạt
hơn, cho phép có sữ biến động nhiều hơn nữa trong chính sách tỷ giá. Điều này
cũng phù hợp với những chuyển động của lộ trình trong các cam kết hội nhập vào
WTO và các nước trong khu vực. Và như vậy, những người vay vốn sẽ phải gánh
chịu phần nào về rủi ro tỷ giá.
3. Giải pháp cho những lần phát hành sau.
15
Nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển hiện nay rất lớn, huy động vốn đầu tư nước
ngoài là chính sách hoàn toàn đúng trong giai đoạn phát triển của Việt Nam hiện
nay, miễn sao phải đảm bảo nguồn vốn ấy được đầu tư có lợi nhuận và góp phần
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Theo các chuyên gia kinh tế, hình thức vay vốn nước
ngoài thông qua trái phiếu quốc tế hoàn toàn thích hợp cho Việt Nam trong giai
đoạn này.
Để tiếp bước những thành công đã đạt được trong lần phát hành đầu tiên trái phiếu
chính phủ, các bộ ban ngành đặc biệt là Bộ tài chính cùng các doanh nghiệp cần
phải từng bước hoàn thiện những vấn đề còn tồn tại hiện nay, sao cho phát hành
trái phiếu quốc tế ngày càng trở thành kênh huy động vốn đạt hiệu quả. Với mục
tiêu đó, dưới đây là một số giải pháp nhằm phát triển phát hành trái phiếu quốc tế
của Việt Nam.
3.1 Nâng cao hoạt động công khai hóa thông tin
Công khai hóa thông tin là một điều khoản bắt buộc đối với mọi chủ thể phát
hành chứng khoán, ngay cả Chính phủ cũng không có ngoại lệ. Độ tin cậy của
thông tin chính là cơ sở để các nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư và là yếu tố
quyết định thành công hay thất bại của danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro đầu tư.
Vì vậy công khai hóa thông tin luôn được các nhà đầu tư quan tâm hàng đầu và
đây cũng là cách chủ thể phát hành thể hiện nghĩa vụ bảo vệ nhà đầu tư.
3.2 Xây dựng dự trữ ngoại tệ quốc gia vững mạnh .
Mức dự trữ ngoại hối là một yếu tố quan trong làm cơ sở đánh giá rủi ro về khả
năng thanh toán, không những phải tính đến việc hoàn trả các khoản nợ đáo hạn
không thể thương lượng được mà còn phải đủ để trang trải cho cán cân thanh toán
do thâm hụt tài khoản vãng lai.
Giai đoạn 2002 – 2006 là thời kì mà dự trữ ngoại hối và cán cân thanh toán Việt
Nam ở trạng thái: tỷ lệ dự trữ ngoại hối so với nợ ngắn hạn rất cao (do CP kiểm
soát rất chặt chẽ khoản vay nợ nước ngoài ở cả khu vực công và tư); cán cân tài
khoản vãng lai của Việt Nam vẫn còn thâm hụt khoảng từ 1%-3%, nghĩa là phải
đòi hỏi một yêu cầu dự trữ pháp định rất cao. Số tuyệt đối dự trữ ngoại hối của Việt
Nam trong thời gian qua dù có tăng lên nhưng trong dài hạn vẫn khó vượt qua 2.6
tháng nhập khẩu do nhập siêu của Việt Nam cũng tăng lên tương ứng. Điều này có
16
nghĩa dự trữ ngoại hối của Việt Nam vẫn còn thấp so với tiêu chuẩn là 4 tháng
nhập khẩu theo quan điểm truyền thống về dự trữ ngoại hối.
Mặc dù vậy, theo kinh nghiệm ở các nước đang phát triển, nếu áp dụng đồng bộ
về kiểm soát vốn nước ngoài ngắn hạn và điều hành tỷ giá linh hoạt thì những
thách thức này không đáng ngại. Vì vậy, giải pháp thích hợp giúp Việt Nam cải
thiện tình hình dự trữ quốc gia lúc này là:
_Kiểm soát vốn quốc gia:
Thường thì chúng ta quan niệm cần phải kiểm soát thật chặt các dòng vốn vào và ra
khỏi quốc gia. Tuy nhiên hướng tư duy trong giai đoạn mới lúc này mà các quốc
gia đang theo đuổi không còn nằm ở tư duy theo kiểu kiểm soát vốn thuần túy
nữa, mà tự do hóa vốn có kiểm soát, nghĩa là chuyển từ kiểm soát vốn theo kiểu
“tiền kiểm” sang “hậu kiểm”.
Thay đổi trong tư duy kiểm soát vốn là bước ngoặt đột phá quan trọng mà các nhà
hoạch định chính sách phải tính đến, nếu như muốn thu hút nhiều nguồn vốn đầu
tư gián tiếp hơn nữa, và đương nhiên điều này sẽ giúp phần đáng kể vào việc gia
tăng dự trữ ngoại hối quốc gia.
Sự thận trọng cần phải cân nhắc ở đây chính là sự đánh đổi giữa một bên là gia
tăng tiềm lực tài chính quốc gia và phần còn lại là khả năng đảo ngược bất ngờ của
dòng vốn và dẫn đến những bất ổn cho thị trường tài chính.
_Điều hành chính sách tỷ giá của Nhà nước.
Việt Nam vẫn tiếp tục lựa chọn chính sách tỷ giá thả nổi có sự quản lý của Nhà
nước trong điều hành tỷ giá. Đây là cách chọn hoàn toàn phù hợp với mục tiêu
chính sách tỷ giá nước ta trong thời gian tới là ổn định tỷ giá trong mối tương quan
cung cầu trên thị trường xuất khẩu, kích thích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, cải
thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại tệ. Tuy nhiên, để có một
chính sách tỷ giá phù hợp với quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi
phải có những giải pháp hỗ trợ như hoàn thiện cơ chế điều chỉnh tỷ giá, thực hiện
chính sách đa ngoại, vận dụng dự báo tỷ giá đề phòng ngừa và hạn chế rủi ro.
3.3 Nâng cao hiệu quả vay vốn và sử dụng vốn thông qua phát hành trái
phiếu quốc tế.
17
_Khối lượng phát hành:
Phát hành trái phiếu quốc tế có nhiều ưu điểm so với hình thức vay vốn khác. Bởi
đây là hình thức vay có lãi suất thấp hơn lãi suất vay tín dụng xuất khẩu, có thể chủ
động về thời gian. Thêm vào đó, chúng ta đã tạo được chuẩn về lãi suất trái phiếu
của Việt Nam trên thị trường quốc tế sau thành công của trái phiếu Chính phủ năm
2005. Tuy nhiên đây là hình thức vay thường mại, đòi hỏi phải trả lãi và nợ đúng
hạn vì vậy không phải lúc nào cần vốn, đều nghĩ ngay đến phát hành trái phiếu
quốc tế, cần phải thận trọng khi xác định khối lượng cần phát hành sao cho phù
hợp với chính sách vay nợ thận trọng của Việt Nam trong giai đoạn này.
_Thời hạn trái phiếu:
Thời hạn trái phiếu cũng là một yếu tố quan trọng. Bởi nếu chúng ta chọn phát
hành trái phiếu thời gian dài và với mức lãi suất cao do hệ số tín nhiệm thấp thì chi
phí tài trợ sẽ rất cao.
_Đồng tiền phát hành:
Trái phiếu quốc tế hiện nay đa phần được phát hành bằng đồng USD. Tuy nhiên,
những biến động thường xuyên trong kinh tế và xã hội Mỹ phần nào đã làm thay
đổi vị thế của nó trong thời gian này.
Đồng tiền pháy hành trái phiếu không chỉ được lựa chọn bằng một loại duy nhất
mà có thể là một danh mục các đồng tiền. Hơn nữa, thời hạn trái phiếu là quá dài
để có thể chọn ra một đồng tiền nào đó là an toàn, dó đó việc chọn một danh mục
các đồng tiền có thể lmà giảm rủi ro về sự tăng giảm giá trị của một đồng tiền. Vì
vậy, phát hành trái phiếu quốc tế trong thời gian tới bên cạnh đồng USD, đồng
EURO cũng có thể là đồng tiền có thể đưa vào danh mục các đồng tiền phát hành.
_Lãi suất:
Vấn đề không phải là chịu lãi suất cao hay thấp ở một thời điểm nào đó mà phải
biết cách vận dụng thích hợp lãi suất dự báo để vạch kế hoạch vay và trả nợ phù
hợp, sử dụng loại trái phiếu thích hợp.
_Ngoài ra, phải có kế hoạc khai thác và sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả và
hợp lý. Việc sử dụng vốn huy động đúng mục đích, có hiệu quả sẽ làm tăng độ tín
nhiệm cũng như làm tăng độ an toàn, khả năng hoàn trả nợ của Chính phủ đối với
18
nhà đầu tư nước ngoài. Kết quả này kéo theo việc phát hành trái phiếu quốc tế cho
những lần kế tiếp sẽ dễ dàng hơn, khả năng được chấp nhận sẽ cao hơn cũng như
chi phí cho huy động sẽ giảm bớt khi niềm tin được nâng lên.
3.4 Phân tích diễn biến thị trường:
Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến giá cả trái phiếu phát hành là lãi
suất thực tế trên thị trường tài chính quốc tế tại thời điểm phát hành. Thông thường
giá trái phiếu được tính dựa trên trái phiếu kho bạc Mỹ mà một trong những yếu tố
cấu thành lãi suất trái phiếu kho bạc Mỹ là mức lãi suất cơ bản có Cục Dự trữ Liên
bang Mỹ công bố.
Sau khi Việt Nam phát hành trái phiếu quốc tế, đã hai lần FED tăng lãi suất, từ
3.75%/năm lên 4.25%/năm. Lãi suất của FED là bộ phận cấu thành nên lãi suất trái
phiếu, tất nhiên cũng có ảnh hưởng lên giá trái phiếu Việt Nam, song không lớn.
Hơn nữa, lượng cung - cầu trên thị trường của Việt Nam lúc này vẫn còn lớn, do
các nhà đầu tư đang kì vọng nhiều vào sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sau khi
gia nhập WTO. Cộng thêm các giao dịch trên thị trường thứ cấp đối với trái phiếu
quốc tế của Việt Nam là rấy tốt. Như vậy, thời hạn của trái phiếu của Chính phủ
phát hành trong thời gian tới có thể được dài hơn.
Bên cạnh đó, Chính phủ còn phải tìm hiểu thêm về quy mô, giá cả của các loại trái
phiếu mới phát hành của các quốc gia khác nhau trên thế giới cũng như dự tính quy
mô của các đợt phát hành tiếp theo để có thể đánh giá chính xác mức cung trái
phiếu trên thị trường.
3.5 Nâng cao hệ số tín nhiệm:
Chí phí vay cho các lần phát hành trái phiếu CP cao hay thấp một phần lệ thuộc vào
hệ số tín nhiệm của quốc gia. Hệ số tín nhiệm được cải thiện thể hiện sự phát triển
kinh tế tốt, các chính sách được điều tiết phù hợp vì vậy để nâng cao mức tín
nhiệm của CP thì cần đến nhiều yếu tố:
_Giữ vững an ninh chính trị
_Chất lượng tăng trưởng kinh tế
Tăng tưởng của Việt Nam giai đoạn này có được là nhờ vồn đầu tư, tăng cường
khai thác tài nguyên, số lượng lao động dồi dào. Đã đến lúc Việt Nam cần phải
19
chuyển sang phát triển theo chiều sâu: tăng trưởng do năng suất lao động, nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn và nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp.
_Tiếp tục đổi mới về cơ chế quản lý điều hành theo định hướng kinh tế thị trường.
Đặc biệt là chính sách lãi suất và tỷ giá hối đoái . Đây là những nhân tố ảnh hưởng
đến cách đánh giá về xếp hạng tín nhiệm, thông qua các chỉ số về lãi suất và tỷ giá
sẽ phản ánh thực trạng về cung cầu vốn, về năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt
Nam trên thị trường thế giới.
_Tăng cường hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa
trong hạn chế thâm hụt ngân sách dưới 5% GDP , kiềm chế và kiểm soát làm phát
trong giới hạn hợp lý dưới hai con số, ổn định cán cân thanh toán quốc tế.
_Đẩy mạnh tiến trình cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý của bộ máy
Nhà nước.
_Công khai dữ trữ ngoại hối
Công bố dự trữ ngoại hối là một nhân tố quan trọng trong việc đánh giá khả năng
trả nợ quốc tế và làm tăng độ tin cậy của cộng đồng quốc tế đối với các chính sách
vĩ mô của quốc gia. Chính thức công bố dự trữ ngoại hối sẽ còn làm tăng điểm xếp
hạng rủi ro quốc gia, cho phép mỗi nước có thể tìm được những nguồn vay nợ
nước ngoài với chi phí rẻ hơn.
Một số các quốc gia Đông Á vẫn duy trì chế độ tỷ giá có quản lý cùng một số hạn
chế nhất định trong việc tự do hóa dòng vốn, song nói chung các nước này đều
công khai dữ trữ ngoại hối của mình, khác với Việt Nam lúc này vẫn xem số liệu
dự trữ ngoài hối là một bí mất quốc gia.
20
21