Tải bản đầy đủ (.docx) (41 trang)

Đảng cộng sản việt nam ra đời – quá trình sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử và dân tộc việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (373.22 KB, 41 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA


BÀI TẬP LỚN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI:

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI – QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC
NGHIÊM KHẮC CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM

LỚP L07 --- NHÓM 03 --- HK231
NGÀY NỘP 15/10/2023

Giảng viên hướng dẫn: TS. Hoàng Thùy Linh

Sinh viên thực hiện Mã số sinh viên Điểm số
Dương Khả Cơ 2112952
Nguyễn Xuân Cường 2012770
Hồ Ngọc Duy 2010996
Huỳnh Nhật Duy 2110081
Phạm Đăng Duy 2012833
Trương Minh Duy 1752140

Thành phố Hồ Chí Minh-2023


TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ



BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM VÀ BẢNG ĐIỂM BTL

Môn: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (MSMH: SP1035)
Nhóm/Lớp: L07 Tên nhóm: 03 HK 231 Năm học 2023

Đề tài:
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI – QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC NGHIÊM KHẮC CỦA LỊCH SỬ VÀ

DÂN TỘC VIỆT NAM

STT Mã số SV Họ Tên Nhiệm vụ được phân công Kết quả Điểm Ký tên
95% BTL

1 2112952 Dương Khả Cơ Phần 3.1

2 2012770 Nguyễn Xuân Cường Phần 3.2 100%

3 2010996 Hồ Ngọc Duy Phần 1 100%

4 2012833 Phạm Đăng Duy Phần 2.1 100%

5 1752140 Trương Minh Duy Phần 2.2 95%

6 2110081 Huỳnh Nhật Duy Phần mở đầu + kết luận + Tài liệu tham khảo + Tổng hợp. 100%

NHẬT XÉT, ĐÁNH

GIẢ CỦA GIẢNG VIÊN


Họ và tên nhóm trưởng: Huỳnh Nhật Duy, Số ĐT: 0916000578 Email:

GIẢNG VIÊN NHÓM TRƯỞNG

(Ký và ghi rõ họ, tên) (Ký và ghi rõ họ, tên)

Hoàng Thùy Linh Huỳnh Nhật Duy

MỤC LỤC

I. PHẦN MỞ ĐẦU.........................................................................................................3
II. PHẦN NỘI DUNG.......................................................................................................6
Chương 1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM VÀO CUỐI THẾ KỶ XIX, ĐẦU THẾ
KỶ XX

1.1. Bối cảnh thế giới.....................................................................................................6
1.2. Bối cảnh trong nước...............................................................................................8
Chương 2. QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC ĐỐI VỚI SỰ
RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
2.1. Cuộc khủng hoảng con đường cứu nước............................................................10

2.1.1. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến........................................10
2.1.2. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản................................................12
2.2. Hành trình đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc và sự phát triển của
phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản......................................................15
2.2.1. Hành trình đi tìm nước của Nguyễn Ái Quốc................................................15
2.2.2. Sự phát triển của phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản..............18
Chương 3. SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
3.1. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Cương lĩnh chính trị đầu tiên...................23
3.1.1. Khái quát về hoạt động của ba tổ chức cộng sản tiền thân của Đảng Cộng

sản Việt Nam.............................................................................................................23
3.1.2. Sự ra đời của ba tổ chức Cộng sản ở Việt Nam đặt ra yêu cầu bức thiết cho
cách mạng Việt Nam.................................................................................................25
3.1.3. Hành trình ra đi tìm đường cứu nước và thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam của chủ tịch Hồ Chí Minh...............................................................................25

1

3.1.4. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng........................................................26
3.2. Giá trị của việc thành lập Đảng...........................................................................28

3.2.1. Giá trị lịch sử của việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.........................28
3.2.2. Giá trị thực tiễn của việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam......................30
III. PHẦN KẾT LUẬN...................................................................................................34
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................36

2

I. PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một sự kiện mang tầm quan trọng lịch sử đối
với dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chấm dứt việc khủng
hoảng đường lối cứu nước, trở thành đảng lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt
Nam. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng quyết định đến thành công trong việc thực hiện
cách mạng, sự phát triển của dân tộc, tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam
đầu thế kỷ XX, tạo nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, phá tan sự thống
trị của thực dân gần một trăm năm và lật đổ chế độ phong kiến đè nặng lên nhân dân ta,
mở ra bước ngoặt vĩ đại, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới; kỷ nguyên độc

lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành
người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội.Quá trình sàng lọc nghiêm khắc của Đảng đã
chứng minh sự kiên định và cam kết của những người tiên phong trong việc đấu tranh cho
độc lập và tự do của quê hương.

Đề tài này tập trung vào việc nghiên cứu về các giai đoạn phát triển của Đảng
Cộng sản Việt Nam, từ những ngày đầu khởi nghĩa cho đến khi Đảng trở thành một tổ
chức lãnh đạo quốc gia. Q trình này địi hỏi sự đoàn kết và sự hy sinh của những người
lãnh đạo và cán bộ Đảng, nhằm xác định và phân định chính sách, tạo ra một cơ sở lý
thuyết và cách mạng vững chắc. Đảng Cộng sản Việt Nam đã đạt được những thành tựu
quan trọng trong việc thống nhất dân tộc và xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Qua các chiến dịch đấu tranh, Đảng đã thể hiện sự kiên quyết và lòng yêu nước
khơng ngừng nghỉ, góp phần vào việc giành lại độc lập cho quê hương và xây dựng một
xã hội xanh, tương xứng với lòng yêu thương của nhân dân.

3

Tầm ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ giới hạn trong lĩnh vực
chính trị, mà cịn lan rộng sang các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa. Chính sách đổi
mới và phát triển của Đảng đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển và thịnh
vượng của quốc gia. Đảng đã định hình một hướng đi cho xã hội, đồng thời thúc đẩy sự
nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững.

Nghiên cứu về Đảng Cộng sản Việt Nam và quá trình sàng lọc nghiêm khắc của nó
khơng chỉ đóng góp vào sự hiểu biết về lịch sử và văn hóa của Việt Nam, mà cịn giúp
chúng ta nhìn nhận rõ hơn về tầm ảnh hưởng và di sản của Đảng trong quá khứ và hiện
tại. Điều này cũng khơi dậy lòng tự hào và tôn vinh những người đã hy sinh và cống hiến
cho sự phát triển của đất nước. Đồng thời cũng mang lại sự hiểu biết sâu sắc và những bài
học q giá về lịng u nước, sự kiên trì và quyết tâm trong đấu tranh cho mục tiêu tốt
đẹp của dân tộc. Đây cũng chính là lý do mà nhóm chọn đề tài: “Đảng Cộng Sản Việt

Nam ra đời – quá trình sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử và dân tộc Việt Nam” để
nghiên cứu.

2. Đối tượng nghiên cứu:

Đảng Cộng sản Việt Nam từ những năm 30 của thế kỷ XX trở về trước.

3. Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu quá trình thành lập và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam ở
cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX

4. Mục tiêu nghiên cứu:

Thứ nhất, làm rõ hoàn cảnh lịch sử của nước ta và thế giới trong giai đoạn cuối thế
kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX

Thứ hai, tìm hiểu về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, những cương lĩnh,
đường lối chính trị đầu tiên và nhận ra giá trị của việc thành lập Đảng

4

Thứ ba, hiểu rõ về quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc và giải
phóng dân tộc theo cách mạng vô sản

5. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ

nghĩa duy vật lịch sử. Đồng thời, đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu,
trong đó chủ yếu nhất là các phương pháp: phương pháp thu thập số liệu; phương pháp

phân tích và tổng hợp; phương pháp lịch sử - logic;…

6. Kết cấu đề tài:
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Bối cảnh lịch sử Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Chương 2: Quá trình sàng lọc của lịch sử và dân tộc đối với sự ra đời của Đảng

Cộng sản Việt Nam
Chương 3: Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam

5

II. PHẦN NỘI DUNG

Chương 1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM VÀO CUỐI THẾ KỶ XIX, ĐẦU THẾ
KỶ XX

1.1. Bối cảnh thế giới
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản thế giới đã phát triển từ giai

đoạn cạnh tranh tự do sang giai đoạn độc quyền. Một số nước đế quốc như Anh, Pháp,
Mỹ, Tây Ban Nha, Ý, Đức, Nga, Nhật Bản, Bỉ, Bồ Đào Nha, Hà Lan chi phối tình hình
thế giới.

Tình hình đó đã làm sâu sắc thêm mâu thuẫn nội bộ của phần lớn châu Á, châu Phi
và châu Mỹ Latinh đã trở thành thuộc địa và lệ thuộc vào các nước đế quốc. Sự bóc lột
tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc đã làm nảy sinh những mâu thuẫn xã hội to lớn: mâu thuẫn
giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa; mâu thuẫn giữa các
nước đế quốc chủ nghĩa; mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa lệ thuộc chủ nghĩa đế
quốc. Vào đầu thế kỷ XX, những mâu thuẫn này ngày càng trở nên gay gắt. Độc lập của

các dân tộc thuộc địa khơng chỉ là địi hỏi của riêng họ mà cịn là nguyện vọng chung của
giai cấp vơ sản quốc tế, tình hình đó đã thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc thế giới
phát triển.

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác –
Lênin ở Liên Xô. Sự kiện này đã đánh đổ giai cấp tư sản và địa chủ phong kiến, thiết lập
xã hội mới - chủ nghĩa xã hội, đồng thời cho thấy tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác –
Lênin trong việc khẳng định vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Có thể nói, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, cũng như là thắng lợi của
chủ nghĩa Mác – Lênin đã có ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình chính trị - xã hội khơng chỉ
ở Liên Xơ mà cịn tác động tới các nước trên thế giới, mở ra một kỷ nguyên mới trong
lịch sử loài người, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi
toàn cầu. Điều này thể hiện rõ rệt qua các sự kiện tiêu biểu như Cách mạng tại Hungary
dưới sự lãnh đạo của Béla Kun và Đảng Cộng sản Hungary đã được thúc đẩy bởi Cuộc

6

Cách mạng Tháng Mười Nga, dẫn đến việc thành lập Cộng hịa Xã hội Chủ nghĩa
Hungary, hoặc có thể kể đến sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Mao Trạch
Đông đã đưa đất nước Trung Quốc vào thế kỷ 20 với một chính phủ xã hội chủ nghĩa
mạnh mẽ, … và nhiều sự kiện khác.

Thắng lợi này cũng đã mở ra con đường giải phóng cho tất cả các dân tộc, đặc biệt
là các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Điều này có ý nghĩa vơ cùng lớn đối với không chỉ
cuộc đấu tranh của giai cấp vơ sản ở các nước tư bản, mà cịn tác động mạnh mẽ đến
phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Ở châu Á, có thể kể đến sự đấu tranh mạnh
mẽ của Ấn Độ với nhiều cuộc bãi công lớn của hàng chục vạn công nhân, kéo dài nhiều
tháng, và đã lan rộng khắp cả nước trong khoảng thời gian từ năm 1918 đến năm 1922.
Ngoài ra, sự thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, sự kiện cách mạng nhân dân Mông

Cổ thắng lợi trong năm 1921 và nhiều phong trào đấu tranh khác xảy ra trên toàn thế giới
đã cho thấy sức ảnh hưởng mạnh mẽ của chủ nghĩa Mác Lênin lên toàn cầu.

Ngày 2/3/1919, Quốc tế Cộng sản, hay còn gọi là Quốc tế III ra đời ở Mát-xcơ-va
và trở thành Bộ tham mưu lãnh đạo phong trào cách mạng thế giới. Đây chính là tổ chức
quốc tế duy nhất đã quan tâm, chỉ đạo và giúp đỡ các phong trào cách mạng giải phóng
dân tộc ở thuộc địa nên có ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào cách mạng ở những nước
này. Câu khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!”1 đã cho thấy rõ mục tiêu, tư
tưởng mà chủ nghĩa Mác – Lênin muốn truyền đạt. Dưới thời Lênin VI, Quốc tế Cộng sản
đã truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga ra
không chỉ ở các nước thuộc địa mà cịn cho tồn thế giới, tạo điều kiện cho sự ra đời của
Đảng Cộng sản và hoạt động ngày càng mạnh mẽ ở nhiều nước.

Một cách tổng quan, cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, sự ra đời của Nhà
nước Xô Viết, Quốc tế Cộng sản và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô cùng
với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cộng sản, cơng nhân và phong trào giải phóng
dân tộc trên thế giới đã cho thấy một điều: để giải phóng dân tộc, áp bức, bóc lột và bất
cơng thì tất yếu phải đi theo con đường cách mạng vô sản, và để cách mạng vô sản đi

1 C. Mác và Ph. Ăng-Ghen (2017), Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 133

7

đúng hướng thì phải có một Đảng Cộng sản ra đời. Điều này cũng đã làm thức tỉnh phong
trào giải phóng dân tộc ở các nước Đơng Dương nói chung và Việt Nam nói riêng.

1.2. Bối cảnh trong nước
Ngày 1/9/1858, thực dân Pháp tấn công Đà Nẵng trên bán đảo Sơn Trà và chính

thức xâm lược Việt Nam bởi sau nhiều cuộc khảo sát, Pháp đã đánh giá Việt Nam là một

quốc gia có vị trí chiến lược ở Đơng Nam Á.

Từ khi Pháp xâm lược nước ta năm 1958 đến cuối thế kỷ XIX, các phong trào yêu
nước chống Pháp xâm lược liên tục nổ ra, trong đó có cuộc khởi nghĩa dưới ngọn cờ “Cần
Vương”, tức là phò vua cứu nước. Các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu là: Khởi nghĩa Trương
Định, Nguyễn Trung Trực ở miền Nam; khởi nghĩa Trần Tấn, Đặng Như Mai, Phan Đình
Phùng ở miền Trung; khởi nghĩa Nguyễn Thiện Thuật, Phạm Bành, Đinh Cơng Tráng,
Nguyễn Quang Bích, Hồng Hoa Thám ở phía Bắc. Dù rất anh dũng nhưng cuối cùng họ
đều thất bại. Điều đó chứng tỏ nhân dân ta rất yêu nước, nhưng giai cấp phong kiến và hệ
tư tưởng thời đó đã suy tàn, bất lực trước nhiệm vụ bảo vệ độc lập dân tộc.

Triều đình nhà Nguyễn liên tiếp ký các hiệp ước đầu hàng và dần trở thành tay sai
của thực dân Pháp. Các hiệp ước được ký kết là: Hiệp ước Nhâm Tuất (1862), Hiệp ước
Giáp Tuất (1874), Hiệp ước Harmand (1883) và Hiệp ước Patenôtre (1884).

Sau khi thực dân Pháp hồn thành cơ bản cơng cuộc bình định bằng quân sự đối
với Việt Nam, chúng bắt đầu ra sức bóc lột thuộc địa Việt Nam và từng bước biến nước ta
từ một nước phong kiến thành một nước thuộc địa phong kiến, dẫn đến những biến đổi về
giai cấp, tầng lớp và cơ cấu giai cấp trong xã hội. Bên cạnh các giai cấp cũ như địa chủ
phong kiến và nông dân, các tầng lớp xã hội mới được hình thành là giai cấp cơng nhân,
giai cấp tư sản và tiểu tư sản. Trong đó giai cấp công nhân Việt Nam bị chế độ thực dân,
tư bản và phong kiến áp bức, bóc lột. Đồng thời, xã hội nảy sinh mâu thuẫn giữa nông dân
và địa chủ, giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản, giữa dân tộc Việt Nam với thực
dân Pháp.

8

Cùng với những chuyển biến trên, vào đầu thế kỷ XX, dưới tác động của phong
trào cải cách, cách mạng dân chủ tư sản Trung Quốc và Duy Tân Nhật Bản, một phong
trào yêu nước dân chủ hóa tư sản cũng đã nổi lên ở Việt Nam. Các phong trào yêu nước

được dẫn dắt bởi tinh thần cải cách: Phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng
(1905-1909); Phong trào Duy tân do Phan Châu Trinh (1906-1908) khởi xướng; Phong
trào Đông Kinh Nghĩa Thục do Lương Văn Can, Nguyễn Quyền và một số nhân sĩ khác
phát động (1907); Phong trào chống đi phu, chống sưu thuế ở Trung Kỳ năm (1908).

Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản nói trên đều bị thất
bại. Nguyên nhân cơ bản là giai cấp tư sản Việt Nam còn rất yếu. Nguyên nhân trực tiếp
là do tổ chức và người lãnh đạo các phong trào này chưa có đường lối, phương pháp cách
mạng đúng đắn. Thực tế cho thấy lòng yêu nước vẫn sục sơi trong lịng nhân dân, song sự
khủng hoảng về đường lối cứu nước đã diễn ra sâu sắc.

Trong bối cảnh đó, sự ra đời của một giai cấp mới, giai cấp công nhân và phong
trào đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam đã báo hiệu một thời kỳ mới cho cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc của chúng ta. Người lao động Việt Nam phải chịu ba tầng áp
bức, bóc lột: thực dân, tư bản và phong kiến. Họ sớm vùng dậy đấu tranh chống lại giới
chủ. Từ hình thức đấu tranh thô sơ như đốt lán trại, bỏ trốn tập thể, họ đã nhanh chóng
tiến tới đình cơng, bãi công.

Phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam đầu thế kỷ XX đã tạo
điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam.
Chính Hồ Chí Minh đã dày công truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin cho phong trào công
nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về lý luận chính trị, tư tưởng và tổ chức,
sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh dấu bước hình thành cơ bản của tư tưởng Hồ
Chí Minh về cách mạng Việt Nam. Sau đó, chính Đảng đã lãnh đạo thành công Cách
mạng Tháng Tám và kháng chiến chống Pháp thắng lợi; lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã
hội đồng thời chống Mỹ, cứu nước, là nhân tố quan trọng bổ sung, phát triển tư tưởng Hồ
Chí Minh trong mọi khía cạnh.

9


Chương 2. QUÁ TRÌNH SÀNG LỌC CỦA LỊCH SỬ VÀ DÂN TỘC ĐỐI VỚI SỰ
RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

2.1. Cuộc khủng hoảng con đường cứu nước
2.1.1. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến
“Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỷ XX giai cấp vô sản Việt Nam chưa thành hình, nó

mới đang mọc, trái lại thì do sự khai thác quy mơ của pháp mà giai cấp vơ sản Việt Nam
đã thành hình rồi nhưng cịn là “giai cấp tự nó” chưa có ý thức về nhiệm vụ lịch sử của
mình. Trong điều kiện đó, cách mạng Việt Nam tất nhiên là lấy đa số nhân dân tức nông
dân, làm động lực chủ yếu nhưng làm hoa tiêu cho cách mạng thì chưa phải là tư sản chưa
phải là vô sản, tất nhiên không nói đến địa chủ phong kiến nữa, hoa tiêu cho cách mạng
lại là tầng lớp sĩ phu yêu nước mà số đứng đầu là những người khoa bảng xuất thân điều
này in một con dấu đặc sắc cho thời cuộc”2

Ngay từ khi Pháp xâm lược, các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp của
nhân dân Việt Nam đã diễn ra liên tục, rộng khắp. Đến năm 1884, mặc dù triều đình
phong kiến nhà Nguyễn đã đầu hàng, nhưng một bộ phận phong kiến yêu nước đã cùng
với nhân dân vẫn tiếp tục đấu tranh vũ trang chống Pháp, như phong trào Cần Vương do
vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết khởi xướng (1885 - 1896). Hưởng ứng lời kêu gọi
Cần Vương cứu nước, các cuộc khởi nghĩa Ba Đình (Thanh Hố), Bãi Sậy (Hưng Yên),
Hương Khê (Hà Tĩnh)... diễn ra sôi nổi, thể hiện tinh thần quật cường chống ngoại xâm
của các tầng lớp nhân dân. Nhưng ngọn cờ phong kiến lúc đó khơng cịn là ngọn cờ tiêu
biểu để tập hợp một cách rộng rãi toàn thể các tầng lớp nhân dân, khơng có khả năng liên
kết các trung tâm kháng Pháp trên toàn quốc nữa. Cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng
thất bại (1896) cũng là dấu mốc chấm dứt vai trò lãnh đạo của giai cấp phong kiến đối với
phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở Việt Nam.

Vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ở vùng miền núi và trung du phía
Bắc, phong trào nông dân Yên Thế (Bắc Giang) nổ ra dưới sự lãnh đạo của Hoàng Hoa

Thám. Nghĩa quân đã xây dựng lực lượng chiến đấu, lập căn cứ và đấu tranh kiên cường

2 Trần Văn Dầu, Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám, tập 2, tr.23

10

chống thực dân Pháp suốt gần 30 năm. Phong trào của Hoàng Hoa Thám vẫn mang nặng
“cốt cách phong kiến”, khơng có khả năng mở rộng hợp tác và thống nhất tạo thành một
cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, do vậy cũng bị thực dân Pháp đàn áp.

Ý nghĩa: Phong trào Cần Vương thực sự là một phong trào quan trọng trong lịch sử
của Việt Nam, có tầm ảnh hưởng lớn đối với tinh thần và ý chí của nhân dân trong cuộc
chiến đấu chống lại ách đô hộ và bảo vệ chủ quyền dân tộc. Phong trào Cần Vương đã
thức tỉnh và kích thích tinh thần yêu nước trong tâm hồn nhân dân, khơi gợi tình cảm
quyết tâm bảo vệ đất nước và chống lại sự áp bức từ thực dân Pháp. Các ý thức về quyền
tự quyết, độc lập và chủ quyền dân tộc được củng cố và lan tỏa trong tâm trí nhân dân.
Thể hiện ý thức đồn kết của các tầng lớp xã hội khác nhau, từ các văn thân, sĩ phu, đến
nơng dân và binh lính. Sự hiệp nhất và sẵn sàng đoàn kết chống lại thực dân Pháp đã thể
hiện sức mạnh của nguyên tắc “quốc gia trước hết”. Dù chịu nhiều khó khăn và thất bại,
phong trào Cần Vương đã khơi dậy tinh thần đấu tranh của nhân dân Việt Nam, gieo mầm
sự tự tin và quyết tâm chiến đấu cho độc lập và tự do trong tương lai.

Nguyên nhân thất bại: Sự thất bại của phong trào Cần Vương nguyên nhân chính
xuất phát từ sự kháng cự chỉ có tính chất địa phương. Các phong trào chưa quy tụ, tập hợp
thành một khối thống nhất đủ mạnh để chống Pháp. Khi các lãnh tụ bị bắt hay chết thì
quân của họ giải tán hoặc đầu hàng. Đứng trước kẻ thù mới và chủ yếu là thiếu đường lối
đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng cần thiết nên các phong trào đó đã lần lượt thất bại.
Cách mạng Việt Nam chìm trong khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước. Do đó,
cách mạng muốn thành cơng phải có đảng cách mạng chân chính lãnh đạo. Đảng phải có
hệ tiên tiến, cách mạng và khoa học dẫn đường. Đảng khơng có lí luận cũng giống như

người khơng có trí khơn, tàu khơng có bản chỉ nam. Thất bại của phong trào Cần Vương
chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc
lập cho lịch sử đặt ra và từ đây phong trào cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn
mới.

11

2.1.2. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản
Từ những năm đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước Việt Nam chịu ảnh hưởng, tác

động của trào lưu dân chủ tư sản, tiêu biểu là xu hướng bạo động của Phan Bội Châu, xu
hướng cải cách của Phan Châu Trinh và sau đó là phong trào tiểu tư sản trí thức của tổ
chức Việt Nam Quốc dân Đảng (12/1927 - 2/1930) tiếp tục diễn ra rộng khắp các tỉnh Bắc
Kỳ, nhưng tất cả đều không thành công.

Xu hướng bạo động do Phan Bội Châu tổ chức, lãnh đạo: Chủ trương tập hợp lực
lượng với phương pháp bạo động chống Pháp, xây dựng chế độ chính trị như ở Nhật Bản.
Phong trào theo xu hướng này tổ chức đưa thanh niên yêu nước Việt Nam sang Nhật Bản
học tập (gọi là phong trào Đơng Du). Ơng lập ra Hội Duy tân (1904), tổ chức phong trào
Đông Du (1906-1908). Đến năm 1908, Chính phủ Nhật Bản câu kết với thực dân Pháp
trục xuất lưu học sinh Việt Nam và những người đứng đầu phong trào. Chủ trương dựa
vào đế quốc Nhật để chống đế quốc Pháp không thành, ông về Xiêm nằm chờ thời. Giữa
lúc đó Cách mạng Tân Hợi bùng nổ và thắng lợi (1911). Với sự ảnh hưởng của Cách
mạng Tân Hợi ở Trung Quốc, năm 1912, Phan Bội Châu lập tổ chức Việt Nam Quang
phục Hội với tôn chỉ là vũ trang đánh đuổi thực dân Pháp, khôi phục Việt Nam, thành lập
nước cộng hòa dân quốc Việt Nam. Tuy nhiên, chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội
thiếu rõ ràng. Cuối năm 1913, Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt giam tại Trung Quốc
cho tới đầu năm 1917 và sau này bị quản chế tại Huế cho đến khi ông mất (1940). Ảnh
hưởng xu hướng bạo động của tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội đối với phong trào yêu
nước Việt Nam đến đây chấm dứt.


Xu hướng cải cách của Phan Châu Trinh: Phan Châu Trinh và những người cùng
chí hướng muốn giành độc lập cho dân tộc nhưng không đi theo con đường bạo động như
Phan Bội Châu, mà chủ trương cải cách đất nước. Phan Châu Trinh cho rằng “bất bạo
động, bạo động tắc tử”; phải “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, phải bãi bỏ chế độ
quân chủ, thực hiện dân quyền, khai thơng dân trí, mở mang thực nghiệp. Để thực hiện
được chủ trương ấy, Phan Châu Trinh đã đề nghị nhà nước “bảo hộ” Pháp tiến hành cải
cách. Đó chính là sự hạn chế trong xu hướng cải cách để cứu nước, vì Phan Châu Trinh

12

đã “đặt vào lòng độ lượng của Pháp cái hy vọng cải tử hồn sinh cho nước Nam,... Cụ
khơng rõ bản chất của đế quốc thực dân3”. Do vậy, khi phong trào Duy Tân lan rộng khắp
cả Trung Kỳ và Nam Kỳ, đỉnh cao là vụ chống thuế ở Trung Kỳ (1908), thực dân Pháp đã
đàn áp dã man, giết hại nhiều sĩ phu và nhân dân tham gia biểu tình. Nhiều sĩ phu bị bắt,
bị đày đi Cơn Đảo, trong đó có Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Nguyên
Cẩn... Phong trào chống thuế ở Trung Kỳ bị thực dân Pháp dập tắt, cùng với sự kiện tháng
12/1907 thực dân Pháp ra lệnh đóng cửa Trường Đơng Kinh Nghĩa Thục phản ánh sự kết
thúc xu hướng cải cách trong phong trào cứu nước của Việt Nam.

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất mặc dù còn nhiều hạn chế về số lượng, về thế lực
kinh tế và chính trị, nhưng với tinh thần dân tộc, dân chủ, giai cấp tư sản Việt Nam đã bắt
đầu vươn lên vũ đài đấu tranh với thực dân Pháp bằng một số cuộc đấu tranh cụ thể với
những hình thức khác nhau.

Năm 1919-1923, Phong trào quốc gia cải lương của bộ phận tư sản và địa chủ lớp
trên đã diễn ra bằng việc vận động chấn hưng nội hoá bài trừ ngoại hoá; chống độc quyền
thương cảng Sài Gòn; chống độc quyền khai thác lúa gạo ở Nam Kỳ; đòi thực dân Pháp
phải mở rộng các viện dân biểu cho tư sản Việt Nam tham gia.


Năm 1923 xuất hiện Đảng Lập hiến của Bùi Quang Chiêu ở Sài Gòn, tập hợp tư
sản và địa chủ lớp trên. Họ cũng đưa ra một số khẩu hiệu đòi tự do dân chủ để lôi kéo
quần chúng. Nhưng khi bị thực dân Pháp đàn áp hoặc nhân nhượng cho một số quyền lợi
thì họ lại đi vào con đường thỏa hiệp.

Năm 1925-1926 đã diễn ra Phong trào yêu nước dân chủ công khai của tiểu tư sản
thành thị và tư sản lớp dưới. Họ lập ra nhiều tổ chức chính trị như: Việt Nam Nghĩa đoàn,
Phục Việt (1925), Hưng Nam, Thanh niên cao vọng (1926); thành lập nhiều nhà xuất bản
như Nam Đồng thư xã (Hà Nội), Cường học thư xã (Sài Gòn), Quan hải tùng thư (Huế);
ra nhiều báo chí tiến bộ như Chng rạn (La Cloche fêlée), Người nhà quê (Le Nhaque),
An Nam trẻ (La jeune Annam)... Có nhiều phong trào đấu tranh chính trị gây tiếng vang

3 Trần Văn Giàu (1975), Sự phát triển tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám-Hệ ý thức tư
sản và sự thất bại của nó trước nhiệm vụ lịch sử 2, Nxb. Khoa học xã hôi, trang 442.̣

13

khá lớn như đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu (1925), lễ truy điệu và lễ tang Phan Châu
Trinh, đấu tranh đòi thả nhà yêu nước Nguyễn An Ninh (1926). Cùng với phong trào đấu
tranh chính trị, tiểu tư sản Việt Nam còn tiến hành một cuộc vận động văn hóa tiến bộ,
tuyên truyền rộng rãi những tư tưởng tự do dân chủ. Tuy nhiên, càng về sau, cùng sự thay
đổi của điều kiện lịch sử, phong trào trên đây ngày càng bị phân hoá mạnh.

Phong trào của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng: Khi thực dân Pháp đẩy mạnh
khai thác thuộc địa lần thứ hai, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân
Pháp càng trở nên gay gắt, các giai cấp, tầng lớp mới trong ong xã hội Việt Nam đều bước
lên vũ đài chính trị. Trong đó, hoạt động có ảnh hưởng rộng và thu hút nhiều học sinh,
sinh viên yêu nước ở Bắc Kỳ là tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Thái Học
lãnh đạo. Trên cơ sở các tổ chức yêu nước của tiểu tư sản trí thức, Việt Nam Quốc dân
Đảng được chính thức thành lập tháng 12/1927 tại Bắc Kỳ.


Mục đích của Việt Nam Quốc dân Đảng là đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược,
giành độc lập dân tộc, xây dựng chế độ cộng hòa tư sản, với phương pháp đấu tranh vũ
trang nhưng theo lối manh động, ám sát cá nhân, lực lượng chủ yếu là binh lính, sinh
viên... Cuộc khởi nghĩa nổ ra ở một số tỉnh, chủ yếu ấu và mạnh nhất là ở Yên Bái
(2/1930), tuy oanh liệt nhưng nhanh chóng bị thất bại. Sự thất bại của khởi nghĩa Yên Bái
thể hiện là “.... một cuộc bạo động bất đắc dĩ, một cuộc bạo động non, để rồi chết ln
khơng bao giờ ngóc đầu lên nổi. Khẩu hiệu “khơng thành cơng thì thành nhân” biểu lộ
tính chất hấp tấp tiểu tư sản, tính chất hăng hái nhất thời và đồng thời cũng biểu lộ tính
chất khơng vững chắc, non yếu của phong trào tư sản4”.

Vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tiếp tục truyền thống yêu nước,
bất khuất kiên cường chống ngoại xâm, các phong trào yêu nước theo ngọn cờ phong
kiến, ngọn cờ dân chủ tư sản của nhân dân Việt Nam đã diễn ra quyết liệt, liên tục và rộng
khắp. Dù với nhiều cách thức tiến hành khác nhau, song đều hướng tới mục tiêu giành

4 Dương Trung Quốc (2000), Việt Nam những sự kiện lịch sử (1919- 1945), Nxb. Giáo dục

14

độc lập cho dân tộc. Tuy nhiên, “các phong trào cứu nước từ lập trường Cần Vương đến
lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm lịch sử đều lần lượt thất bại5”

Nguyên nhân thất bại của các phong trào đó là do thiếu đường lối chính trị đúng
đắn để giải quyết triệt để những mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu của xã hội, chưa có một tổ
chức vững mạnh để tập hợp, giác ngộ và lãnh đạo toàn dân tộc, chưa xác định được
phương pháp đấu tranh thích hợp để đánh đổ kẻ thù.

Tuy thất bại song các phong trào yêu nước đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần
yêu nước của nhân dân, bồi đắp thêm cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, đặc biệt góp

phần thúc đẩy những nhà yêu nước, nhất là lớp thanh niên trí thức tiên tiến chọn lựa một
con đường mới, một giải pháp cứu nước, giải phóng dân tộc theo xu thế của thời đại.
Nhiệm vụ lịch sử cấp thiết đặt ra cho thế hệ yêu nước đương thời là cần phải có một tổ
chức cách mạng tiên phong, có đường lối cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc.

2.2. Hành trình đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc và sự phát triển của
phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản

2.2.1. Hành trình đi tìm nước của Nguyễn Ái Quốc
Cách đây 112 năm (ngày 5-6-1911), người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành

đã lên chiếc tàu mang tên Amiral Latouche Tréville, từ Bến cảng Nhà Rồng, thành phố
Sài Gòn đi Marseille (Pháp) cùng với ý chí mãnh liệt và hồi bão sẽ tìm được con đường
cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ của thực dân, đế quốc.

Người lấy tên mới là Văn Ba với công việc làm phụ bếp trên tàu, Nguyễn Tất
Thành ra đi trong tư cách là một người lao động, khởi nghiệp với đôi bàn tay trắng. Trong
suốt hành trình 30 năm bơn ba tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc ấy, Nguyễn Tất
Thành - Nguyễn Ái Quốc đã đi qua 3 đại dương, 4 châu lục, qua gần 30 quốc gia, hàng
trăm thành phố, vượt qua muôn vàn gian khổ, chông gai và làm rất nhiều nghề để kiếm
sống, với quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là
tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”6.

5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập (2007), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.5, tr. 14.
6 Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử (2006), NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.1, tr. 112

15

Với những chuyến đi, những cuộc khảo nghiệm trong 10 năm ròng, từ năm 1911
đến năm 1920, Nguyễn Tất Thành đã tận dụng mọi cơ hội để được đến nhiều nơi trên thế

giới. Bàn chân của người thanh niên yêu nước này đã in dấu trên nhiều nước thuộc các đại
lục Âu, Á, Phi, Mỹ.

Đặc biệt ở 3 nước là Mỹ, Anh và Pháp, Nguyễn Tất Thành đã dừng chân khảo sát
khá lâu. Anh hịa mình vào cuộc sống của những người lao động, làm bất cứ việc gì để
sống và hoạt động, như: Phụ bếp, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh, làm vườn, vẽ thuê...

Trên cơ sở đó Nguyễn Tất Thành rút ra một kết luận có tính chất nền tảng đầu tiên:
Ở đâu đế quốc, thực dân cũng tàn bạo, độc ác; ở đâu những người lao động cũng bị bóc
lột, áp bức và “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: Giống người
bóc lột và giống người bị bóc lột”7. Cũng từ đó đã giúp người thanh niên Nguyễn Tất
Thành có một nhận thức quan trọng: Nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại
để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị; cùng nhau thực hiện nguyện vọng
chung là độc lập, tự do. Từ những nhận biết căn bản đó càng thơi thúc người thanh niên
u nước quyết tâm tìm con đường giải phóng mà anh đã từng nung nấu, ấp ủ từ ngày rời
Tổ quốc.

Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành cơng đã có ảnh hưởng rất lớn đến
tình cảm và nhận thức của Nguyễn Tất Thành. Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham
gia Đảng xã hội Pháp. Ngày 18-6-1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, chàng thanh niên thay
mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Vécxây yêu
cầu về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. Tuy bản yêu sách
không được chấp nhận nhưng đã được lan truyền rộng rãi, gây tiếng vang lớn trong dư
luận nước Pháp, thức tỉnh tinh thần đấu tranh của các nước thuộc địa; đồng thời cũng đem
lại cho Nguyễn Ái Quốc một nhận thức là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể
dựa vào sức của chính mình.

Tháng 7-1920, sau khi đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc
và thuộc địa” của Lênin đăng trên Báo L’Humanite (Báo Nhân đạo) của Đảng Xã hội


7 Hồ Chí Minh: Tồn tập, Sđd, tập 1, tr.287

16

Pháp), Nguyễn Ái Quốc đã đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin. Luận cương đã giải đáp cho
Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời
câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải
phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vơ sản ở chính quốc.

Cuối tháng 12-1920, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III,
đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, đồng thời cũng
đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở đầu quá trình kết
hợp đấu tranh giai cấp với đấu tranh dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội, tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Người thanh niên yêu
nước Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã quyết định đi theo con đường của Lênin vĩ
đại. Người kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc khơng có con đường nào
khác con đường cách mạng vô sản”.

Đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người
bắt đầu xây dựng những nhân tố bảo đảm cho cách mạng Việt Nam như: Truyền bá Chủ
nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, khơi dậy tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân,
của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, phát triển lực lượng cách
mạng, xây dựng các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với tác phẩm “Bản
án chế độ thực dân Pháp” và “Đường Kách mệnh”, đặc biệt là việc xuất bản tờ Báo Thanh
Niên ra ngày 21-6-1925, Người đã chuẩn bị về đường lối chính trị để tiến tới thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam.

Khi điều kiện thành lập Đảng đã chín muồi, ngày 3-2-1930, dưới sự chủ trì của
đồng chí Nguyễn Ái Quốc, tại Hương Cảng (Trung Quốc), Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức
cộng sản đã nhất trí thành lập một đảng thống nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây

chính là kết quả khẳng định tầm nhìn, bản lĩnh, trí tuệ và sự cống hiến của Nguyễn Ái

17


×