Tải bản đầy đủ (.docx) (19 trang)

Ứng dụng nông nghiệp thông minh thích ứng biến đổi khí hậu (csa) ở việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (671.37 KB, 19 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
-----------oOo------------

TIỂU LUẬN
MƠN HỌC: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

ĐỀ TÀI

ỨNG DỤNG NƠNG NGHIỆP THƠNG MINH
THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU (CSA) Ở

VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn : PGS. TS. Võ Lê Phú
TS. Võ Thanh Hằng

Sinh viên thực hiện MSSV
Lê Thị Vân Anh 1912575

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2023

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG 2

DANH MỤC HÌNH 3

DANH MỤC VIẾT TẮT 4



LỜI MỞ ĐẦU 5

NỘI DUNG 6

1. Ảnh hưởng biến đổi khí hậu đến ngành nơng nghiệp 6

2. Khái niệm Nơng nghiệp thơng minh thích ứng với BĐKH (CSA) 7

3. Ứng dụng CSA với ngành nông nghiệp 8

4. Những khó khăn, thách thức khi áp dụng CSA vào nông nghiệp 14

5. Đề suất phương hướng khắc phục các hạn chế 15

KẾT LUẬN 16

TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

1

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Lựa chọn công nghệ CSA phù hợp cho việc xây dựng nông nghiệp 9

2

DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Dự báo thay đổi về nhiệt độ và lượng mưa của Việt Nam vào năm 7

2050

Hình 2 CSA hướng tới đồng thời các mục tiêu ANLT, thích ứng BĐKH và 8

giảm thiểu BĐKH
Hình 3 Đánh giá chi tiết về mức độ thích ứng đối với các hoạt động CSA 12

đối với canh tác lúa
Hình 4 Đánh giá chi tiết về mức độ thích ứng đối với các hoạt động CSA 13

đối với chăn ni
Hình 5 Đánh giá chi tiết về mức độ thích ứng đối với các hoạt động CSA 13

đối với trồng điều
Hình 6 Đánh giá chi tiết về mức độ thích ứng đối với các hoạt động CSA 14

đối với trồng cao su

3

ANLT DANH MỤC VIẾT TẮT
BĐKH
CSA An ninh lương thực
Biến đổi khí hậu
CSV Climate Smart Agriculture- Nông nghiệp thơng minh thích ứng với biến
ĐBSC
đổi khí hậu
L Thơn thích ứng thơng minh với biến đổi khí hậu
KNK
Đồng bằng sông Cửu Long

Khí nhà kính


4

LỜI MỞ ĐẦU
Trong hơn 30 năm qua, nông nghiệp tăng trưởng mạnh mẽ đã làm thay đổi
tình trạng kinh tế xã hội của Việt Nam: cải thiện tình hình an ninh lương thực, giảm
đói nghèo, đẩy mạnh xuất khẩu nơng nghiệp và tạo sinh kế cho gần một nửa lực
lượng lao động cả nước. Năng suất một số cây trồng như lúa, ngô, cà phê, cao su,
điều, chè và hạt tiêu của Việt Nam cao hơn nhiều so với các nước láng giềng trong
khu vực Đông Nam Á.(CIAT; World Bank, 2017)
Tuy nhiên, nông nghiệp vừa là nguyên nhân cũng vừa là hướng giải quyết
cho biến đổi khí hậu (BĐKH). Nguyên nhân đến từ các hoạt động lạm dụng phân
bón hóa học (phát thải N2O), thuốc trừ sâu, máy móc nơng nghiệp sử sụng nhiên liệu
hóa thạch,... đã khiến cho ngành nơng nghiệp trở thành lĩnh vực phát thải khí nhà
kính (KNK) lớn thứ hai sau ngành năng lượng.
Sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ lụt, các đợt lạnh
tăng cường ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ, xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu
Long và hạn hán ở Tây Nguyên cho thấy hậu quả của BĐKH ngày càng rõ rệt hơn ở
Việt Nam. Chúng ta cần có những quan điểm về định hướng phát triển mới, chuyển
đổi mô hình phát triển bền vững của ngành nơng nghiệp Việt Nam là thích hợp. Do
vậy, việc ứng dụng nơng nghiệp thơng minh thích ứng với biến đổi khí hậu (Climate
Smart Agriculture - CSA) với phương thức tiếp cận tổng hợp, có thể giúp đạt đồng
thời đảm bảo an ninh lương thực và ứng phó biến đổi khí hậu, đồng thời phát triển
bền vững hướng tới ba mục tiêu chính là: Đảm bảo tăng năng suất và thu nhập từ
nông nghiệp bền vững, xây dựng khả năng phục hồi với biến đổi khí hậu và giảm
hoặc loại bỏ phát thải nhà kính được xem là cấp thiết nhất hiện nay.

5

NỘI DUNG

1. Ảnh hưởng BĐKH đến ngành nông nghiệp
Tác động của BĐKH ngày càng biểu hiện rõ ràng hơn ở Việt Nam. Kể từ
năm 1971, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam tăng khoảng 0,26°C mỗi thập kỷ, gấp đôi
so với mức trung bình tồn cầu (MONRE, 2016). Theo báo cáo cập nhật hai năm
một lần của Việt Nam do UNFCCC ban hành vào năm 2014, mực nước biển dọc
theo bờ biển Việt Nam đã tăng hơn 20 cm trong 50 năm qua. Lượng mưa hàng năm
giảm ở miền Bắc và tăng lên ở miền Nam, khiến cho tình trạng hạn hán diễn biến
khác nhau ở các vùng khí hậu (vùng sinh thái nông nghiệp) khác nhau (MONRE,
2014). Xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long và hạn hán nghiêm trọng ở Tây
Nguyên gần đây là ví dụ rõ ràng về tác động bất lợi của BĐKH đối với sản xuất
nông nghiệp.
BĐKH là một thách thức lớn đối với sản xuất nơng nghiệp. Nhiệt độ tăng
cao, tình trạng sâu bệnh và hạn hán nghiêm trọng hơn được dự đoán sẽ làm sản
lượng lúa gạo trong giai đoạn 2016-2045 giảm 4,3% so với mức sản lượng khi
khơng có biến đổi khí hậu. Sự gia tăng mực nước biển và xâm nhập mặn dự kiến sẽ
làm thay đổi vùng sản xuất lúa gạo. Theo kết quả nghiên cứu của Viện Môi trường
nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT), BÐKH làm
giảm năng suất một số loại cây trồng chủ lực. Cụ thể, năng suất lúa vụ xuân sẽ giảm
0,41 tấn/héc-ta vào năm 2030 và 0,72 tấn vào năm 2050. Năng suất cây ngơ có nguy
cơ giảm 0,44 tấn/héc-ta vào năm 2030 và 0,78 tấn vào năm 2050… dự báo đến năm
2100, khu vực đồng bằng sông Cửu Long có nguy cơ bị ngập 89.473 héc-ta, tương
ứng khu vực này sẽ mất khoảng 7,6 triệu tấn lúa/năm nếu nước biển dâng 100 cm.
Khi đó, Việt Nam có nguy cơ thiếu lương thực trầm trọng, gia tăng tỷ lệ đói
nghèo…(Huyen Dieu, 2022)

6

Hình 1: Dự báo thay đổi về nhiệt độ và lượng mưa của Việt Nam vào năm 2050
(Ramírez J; Jarvis A, 2008).


BĐKH dự kiến làm giảm khoảng 12% diện tích sản xuất nơng nghiệp ở đồng
bằng sông Hồng và 24% ở đồng bằng sông Cửu Long (World Bank, 2010). Nếu
mực nước biển dâng 1 mét sẽ có khoảng 38,9% diện tích vùng ĐBSCL bị ngập; các
tỉnh có nguy cơ ngập cao nhất là Hậu Giang (80,62% diện tích bị ngập), Kiên Giang
(76,86%) và Cà Mau (57,69%). Việc này sẽ làm khoảng 17,6% diện tích bị ngập vào
năm 2050 và 52% diện tích ngập vào năm 2100. Các tỉnh ven biển chịu ảnh hưởng
của sự xâm nhập mặn trong khoảng thời gian từ nửa cuối tháng 12 (bắt đầu mùa
khô) đến cuối tháng 4 (khi bắt đầu mùa mưa). Gần đây, xâm nhập mặn có xu hướng
xảy ra sớm hơn, tăng cao hơn về nồng độ mặn, thời gian kéo dài hơn và xâm lấn
nhiều hơn vào nội đồng (CIAT; World Bank, 2017).

Trước tình hình nơng nghiệp bị tác động từ BĐKH ngày càng có xu hướng
gia tăng thì nhu cầu cần có biện pháp thích ứng và giảm nhẹ các ảnh hưởng xấu này.
Do vậy, việc tìm ra các giải pháp tối ưu, có sự liên kết cao hơn, mang lại hiệu quả
kinh tế sinh thái hơn để phát triển bền vững là cần thiết, trong đó ứng dụng công
nghệ mới CSA không thể không được nhắc đến.

2. Khái niệm Nơng nghiệp thơng minh thích ứng BĐKH (CSA)

7

Khái niệm về nơng nghiệp thơng minh thích ứng với biến đổi khí hậu (CSA)
hướng đến cải thiện sự hịa hợp giữa phát triển nơng nghiệp và ứng phó với BĐKH.
Mục tiêu của CSA là đảm bảo an ninh lương thực (ANLT), xây dựng năng lương
thích ứng BĐKH và giảm thiểu phát thải KNK hoặc tăng cường trữ lượng carbon.

Hình 2: CSA hướng tới đồng thời các mục tiêu ANLT, thích ứng BĐKH và
giảm thiểu BĐKH (IIRR, ICRAF, CCAFS, 2016)

Khái niệm CSA đối với Việt Nam cịn mới mẻ và vẫn đang dần hồn thiện

tuy nhiên nhiều thực hành được coi là CSA đã tồn tại từ lâu và được nông dân nhiều
nước sử dụng để ứng phó với các rủi ro trong sản xuất (FAO, 2013). Nhân rộng
CSA đòi hỏi phải tập hợp các thực hành đang triển khai và có triển vọng trong tương
lai cũng như có các cơ chế tài chính và mơi trường thể chế phù hợp nhằm khuyến
khích phát triển CSA.

3. Ứng dụng CSA với ngành nông nghiệp

Trên thế giới có tới hàng trăm cơng nghệ và phương pháp tiếp cận được xếp

loại là CSA. Các công nghệ/thực hành sản xuất sau đây là những chiến lược hoặc

giải pháp cho nông dân Việt Nam nhằm giải quyết một số thách thức cơ bản do ảnh

hưởng của biến đổi khí hậu như: tình trạng hạn hán và thiếu nước gia tăng, nước

biển dâng và xâm nhập mặn diễn ra thường xuyên hơn, khí hậu nóng lên, cường độ

mưa và lũ lụt nghiêm trọng hơn, tỷ lệ sâu bệnh và dịch bệnh tăng cao hơn.

Bảng 1: Lựa chọn công nghệ CSA phù hợp cho việc xây dựng nông nghiệp (Khatri-

Chhetri, 2016)

Cơng nghệ Giải thích

Cơng nghệ quản lý Cơng nghệ quản lý nước mưa (Rainwater Harvesting - RH):

8


nước thông minh Thu gom nước mưa để khơng cho thất thốt và sử dụng
(Water-smart)
trong nông nghiệp ở những nơi hạn hán hoặc ít mưa.
Công nghệ tưới nước nhỏ giọt (Drip irrigation - DI): Tưới

nước trực tiếp, có kiểm soát, trực tiếp vào gốc cây để giảm

thiểu tổn thất nước.
Cơng nghệ quản lý thốt nước (Drainage management -

DM) loại bỏ việc dư thừa nước (lụt) thông qua cấu trúc kiểm

soát nước.
Công nghệ phủ đất (Cover crop method - CCM) giảm việc

bốc hơi nước từ đất.

Công nghệ quản lý Canh tác tối thiểu/ canh tác zero (Zero tillage/Minimum
năng lượng thông tillage - ZT/MT): Giảm thiểu năng lượng sử dụng trong q
minh: các cơng nghệ trình chuẩn bị đất, cải thiện việc thấm nước và chất hữu cơ
nâng cao hiệu quả sử vào trong đất.
dụng năng lượng

Dinh dưỡng thông Công nghệ quản lý dinh dưỡng tích hợp thơng minh phù hợp
minh: các công nghệ với các đối tượng cụ thể (Nutrientsmart site specific
cải thiện việc sử integrated nutrient management - SINM): Tối ưu hóa việc
dụng hiệu quả chất cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng theo thời gian và
dinh dưỡng không gian phù hợp với các yêu cầu của thời vụ với đúng
sản phẩm, tỉ lệ, thời gian và địa điểm.


Công nghệ phân xanh (Green Manuring GM): Trồng cây họ
đậu trong hệ thống cây trồng.

Carbon thông minh Công nghệ trồng rừng (Agro Foresty AF) thúc đẩy việc hấp
Thời tiết thông minh
thụ các bon bằng việc quản lý sử dụng đất và trồng rừng bền

vững.
Công nghệ quản lý thức ăn trong chăn nuôi gia súc

(Concentrate Feeding for Livestock CF) thiểu phát thải

GHG.
Cơng nghệ quản lý hóa chất trong nơng nghiệp (Fodder

Management FM) để giảm sử dụng hóa chất.
Nhà thông minh cho gia súc phù hợp thời tiết (Climate smart

housing for livestock CSH): Bảo vệ gia súc khỏi những thời

9

Tri thức thông minh: điểm thời tiết cực đoan (stress nóng/lạnh).
Sử dụng kết hợp Hệ thống tư vấn nông nghiệp, thời vụ dựa trên thời tiết
khoa học và tri thức
địa phương (Weather based crop agro advisory CA): cung cấp tư vấn về

nông nghiệp giá trị gia tăng trên cơ sở thông tin về thời tiết.
Bảo hiểm mùa màng (Crop insurance CI): Bảo hiểm thời vụ


theo thời tiết cụ thể để bồi thường tổn thất thu nhập do bất

thường của thời tiết.
- Lập kế hoạch dự phòng (Contingent crop planning CC) –

Lập kế hoạch quản lý rủi ro do thời tiết để đối phó các rủi ro

như hạn hán, lụt, sốc nóng, lạnh trong thời vụ.
Nâng cao đa dạng cây trồng vật nuôi (Improved crop

varieties ICV): đa dạng cây trồng vật ni có sức chịu đựng

với những biến đổi thời tiết như hạn hán, lũ lụt, ngập mặn,

sốc nóng, lạnh.
Ngân hàng giống và thức ăn (SFB): Bảo quản hạt giống và

thức ăn cho gia súc để hạn chế rủi ro thời tiết.
Các công nghệ/ phương pháp nói trên cần kết hợp một cách

phù hợp sẽ góp phần trực tiếp hoặc gián tiếp cho việc nâng

cao năng suất, hiệu quả, khả năng phục hồi của nền nông

nghiệp cũng như giảm thiểu phát thải GHG.

Để CSA chỉ có ý nghĩa ứng dụng khi nó phù hợp với nhu cầu và điều kiện cụ
thể tại địa phương (điều kiện về khí hậu, đất đai, nguồn nước, cơ sở hạ tầng, thị
trường cũng như văn hóa, tập qn, trình độ và khả năng đầu tư của nông dân, đặc
biệt là nhu cầu của địa phương về phát triển sản xuất, kinh doanh các mặt hàng nơng

sản). Chính vì vậy, cần phải lựa chọn các ứng dụng CSA phù hợp trong từng bối
cảnh cụ thể. Để có thể được thực hiện thơng qua các bước như sau:

Bước 1: Phân tích, xác định các tác động của kỹ thuật.
Bước 2: Xác định xem việc mở rộng ứng dụng kỹ thuật có phù hợp với nhu
cầu thực tiễn của địa phương hay không.
Bước 3: Xác định xem các điều kiện ở địa phương có phù hợp để nông dân
ứng dụng được kỹ thuật một cách hiệu quả hay không.
Bước 4: So sánh với các kỹ thuật CSA khác và xếp thứ tự ưu tiên các kỹ thuật
CSA cần được ưu tiên đầu tư mở rộng ứng dụng.

10

Một ứng dụng CSA tại Việt Nam:
Quản lý phân chuồng thông minh với khí hậu tại Làng Mạ ở Miền Bắc Việt

Nam: Chăn nuôi lợn, gia súc, gia cầm và nuôi cá là một trong những nguồn sinh kế
chủ yếu của người dân làng Mạ. Tuy nhiên, quản lý chất thải chăn nuôi không hợp
lý là một hạn chế trong những năm vừa qua. Thông thường, nông dân sẽ đổ các chất
thải và phân gia súc không được xử lý ở nơi nào đó gần nhà. Điều này vừa khơng
tận dụng được giá trị một số nguồn lực của nông trại vừa gây nên các hậu quả tiêu
cực như ô nhiễm không khí và nguồn nước, lây lan các bệnh liên quan đến động vật
và tăng phát thải KNK. Nhóm CSV ở Làng Mạ đã nhận thấy sự thiếu hụt của hệ
thống quản lý chất thải hiệu quả và khuyến nghị áp dụng hệ thống làm phân ủ hoai
mục và phân trùn quế. Trong 2 tháng đầu năm 2016, cùng với hội phụ nữ làng Mạ,
nhóm CSV đã thiết kế và thực hiện các buổi tập huấn về ủ và làm phân trùn quế cho
các hộ nông dân quan tâm trong làng. Đối với hộ nông dân, việc áp dụng các kỹ
thuật này đã giúp cải thiện sản xuất đáng kể. Ví dụ, phân hữu cơ từ phân gia súc,
phụ phẩm nông nghiệp (ví dụ: rơm, cỏ dại, mùn cưa) và chất thải gia đình hiện nay
được sử dụng để sản xuất phân bón chất lượng cao cho cây trồng. Sử dụng phân bón

hữu cơ khơng những làm tăng năng suất cây trồng mà cịn cắt giảm chi phí sử dụng
phân bón hóa học và làm giảm tổng lượng phát thải KNK. Hơn nữa, quản lý phân
chuồng hợp lý giúp cải thiện môi trường chăn nuôi và làm cho hệ thống chăn ni
vệ sinh hơn, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và năng suất vật nuôi. Lượng
chất thải thấp sẽ giảm các tác động môi trường lên hệ thống sản xuất và tăng hiệu
quả về mặt sinh thái. Ông Hồng Quốc Việt là nơng dân đầu tiên triển khai sản xuất
phân trùn quế ở làng Mạ. Sau khi tập huấn, ơng khơng cịn đốt chất thải như trước
mà dùng vi sinh vật hữu ích để xử lý chất thải, làm tăng các chất vi lượng và đa
lượng trong phân bón. Giun đất được ni trong phân, có thể làm thức ăn giàu dinh
dưỡng cho gà và làm phân bón hiệu quả cho lúa và sắn. Nhờ ủ phân, ông Hồng
Quốc Việt hiện tiết kiệm được chi phí phân bón và thức ăn cho gà. (CCAFS, 2016).

Đánh giá chi tiết về mức độ thích ứng đối với các hoạt động CSA hàng đầu
đang diễn ra theo hệ thống sản xuất được triển khai tại Việt Nam.

 Canh tác lúa (77% diện tích thu hoạch)

11

Hình 3: Đánh giá chi tiết về mức độ thích ứng đối với các hoạt động CSA đối với
canh tác lúa (CIAT; World Bank, 2017).

 Chăn ni lợn

Hình 4: Đánh giá chi tiết về mức độ thích ứng đối với các hoạt động CSA đối với
chăn nuôi lợn (CIAT; World Bank, 2017).

12

 Trồng điều (3% diện tích thu hoạch)


Hình 5: Đánh giá chi tiết về mức độ thích ứng đối với các hoạt động CSA đối với
trồng điều (CIAT; World Bank, 2017).

 Trồng cao su (6% diện tích thu hoạch)

13

Hình 6: Đánh giá chi tiết về mức độ thích ứng đối với các hoạt động CSA đối với
trồng cao su (CIAT; World Bank, 2017).

4. Những khó khăn, thách thức khi áp dụng CSA vào nông nghiệp

Tại Việt Nam, hầu hết các công nghệ CSA đều có tỷ lệ áp dụng ở mức thấp
hoặc trung bình ( ~60%) bao gồm canh tác tôm-lúa ở ĐBSCL (đối với hộ nông dân
quy mô nhỏ) và sử dụng các giống chịu ngập ở Đồng bằng sông Hồng và vùng núi
phía Bắc (quy mơ nhỏ, vừa và lớn), những hộ áp dụng thực hành CSA chủ yếu là
nông dân sản xuất quy mơ vừa và nhỏ. Trong khi đó, hộ nông dân quy mô lớn sử
dụng công nghệ CSA thường phổ biến hơn trong chăn nuôi lợn (ở Miền Trung, miền
núi phía Bắc và đồng bằng sơng Hồng), sản xuất cà phê (Tây Nguyên), cao su (Tây
Bắc, miền Trung và Đông Nam Bộ), lúa (sông Hồng hoặc ĐBSCL) và tiêu (Tây
Nguyên) (CIAT; World Bank, 2017).

Mức độ áp dụng các thực hành ở hộ nông dân tương đối thấp cho thấy một số
thách thức và rào cản đối với việc áp dụng. Các rào cản cản trở nông dân mở rộng
ứng dụng CSA chủ yếu liên quan đến những vấn đề dưới đây:

 Chi phí và rủi ro trong thời gian đầu khi ứng dụng CSA
 Ứng dụng của kỹ thuật công nghệ thông tin đối với nông dân
 Tiếp cận của nông dân về thông tin và thị trường

 Sở hữu, quản lý đất đai và tài sản chung của cộng đồng

5. Đề suất phương hướng khắc phục các hạn chế

Để mở rộng ứng dụng kỹ thuật CSA, nông dân cần hiểu rõ về kỹ thuật; với
trình độ của nơng dân để họ có thể hiểu và ứng dụng; nơng dân có đủ tiền để mua đủ
vật tư, thiết bị, nguyên, nhiên liệu cần thiết; nông dân chủ động trong tiếp cận thị
trường để mua các vật tư, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu cần thiết; nông dân bán
được sản phẩm, có thu nhập và lợi nhuận tăng. Các đề suất giúp đạt được các điều
kiện này, cũng chính là vượt qua được các rào cản.
Một là, lựa chọn và chuyển giao các gói kỹ thuật phù hợp cho nông dân.
Hai là, hỗ trợ nông dân tiếp cận nguồn tài chính, tiếp cận thơng tin và tiếp cận thị
trường.
Ba là, thúc đẩy các hoạt động tập thể ở cấp cộng đồng.
Bốn là, cải thiện việc tiếp cận hệ thống thông tin và liên kết thị trường nông nghiệp.

14

Năm là, tạo mơi trường chính sách và huy động vốn hỗ trợ nông dân ứng dụng CSA.
Sáu là, mở rộng thực hành ứng dụng CSA.

15

KẾT LUẬN
Nhìn chung, với nền nơng nghiệp cịn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên như hiện
nay, Việt Nam cần chủ động đánh giá và dự báo tác động của biến đổi khí hậu, để
kịp thời có những giải pháp ứng phó, phát triển kinh tế nơng nghiệp phù hợp và bền
vững, đồng thời thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong đó việc áp dụng CSA cũng
mang lại khá nhiều sự tích cực cho thích ứng biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, sự xung
đột giữa các mục tiêu, mâu thuẫn giữa lợi ích lâu dài của CSA và lợi ích trước mắt

về tăng trưởng nông nghiệp là những yếu tố hạn chế phát triển CSA trên quy mô
rộng ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần phải nâng cao nhận thức hơn về nông nghiệp
thông minh và ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động sản xuất. Bên cạnh đó,
nên có các hoạt động tập huấn phổ biến rộng rãi để người nông dân làm quen hơn
với việc sử dụng Công nghệ thông tin. Đồng thời, tạo nhiều điều kiện khuyến khích
đầu tư hỗ trợ các viện nghiên cứu trong nước cho các công ty công nghệ, đặc biệt là
các đơn vị, tổ chức ứng dụng CSA trong nơng nghiệp để nhằm đạt được các mục
tiêu thích ứng và giảm nhẹ BĐKH.

16

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Arun Khatri-Chhetri (2016). “Farmers’ prioritization of climate-smart agriculture
(CSA) technoloscen”. Agricultural Systems,Volume 151, February 2017, 184–191.

CCAFS. (2016). Eco-efficient waste management in Ma Climate-Smart Vchangea,
viewed 2/4/2023, from : < />management-ma-climate-smart-village >

CIAT; World Bank. (2017). Climate-Smart Agriculture in Viet Nam. CSA Country
Profiles for Asia Series. International Center for Tropical Agriculture (CIAT); The
World Bank. Washington, D.C. 28 p.

De Silva SS; Soto D. (2009). Climate change and aquaculture: Potential impacts,
adaptation and mitigation. In: Cochrane K; De Young C; Soto D; Bahri T. (eds.)
Climate change implications for fisheries and aquaculture: Overview of current
scientific knowledge, FAO Fisheries and Aquaculture Technical Paper, Rome, pp.
530.

IIRR, ICRAF, CCAFS (2016). Understanding Climate Change and its impact on
Agriculture, from:< />MN16119.pdf>


Food and Agriculture Organization of the United Nations (FAO). (2010). Climate-
smart agriculture: Policies, practices and financing for food security, adaptation and
mitigation,viewed 2/4/2023,
from:< />conference-fao-paper.pdf>

Food and Agriculture Organization of the United Nations (FAO). (2013). Climate-
smart agriculture sourNation, viewed 2/4/2023, from:<
/>
17

Huyen Dieu (2022). Agricultural development adapting to climate change, viewed
2/4/2023, from: < />thich-ung-voi-bien-doi-khi-hau>
Ministry of Natural Resources and Environment (2014). The Initial biennial
updated report of Vietnam to the United Nations Framework Convention on Climate
Change. Vietnam Publishing House of Natural Resources, Environment and
Catography.
Ministry of Natural Resources and Environment (MONRE). (2016). Climate
change and sea-level rise scenarios for Viet Nam. Summary for policymakeNa,
viewed 1/4/2023, from:<
/>Ramírez J; Jarvis A. (2008). High-resolution statistically downscaled future climate
surfaces. International Center for Tropical Agriculture (CIAT); CGIAR Research
Program on Climate Change; Agriculture and Food Security (CCAFSc, Cali;
Colombia.

18


×