ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BÀI TIỂU LUẬN CÁ NHÂN MÔN BIẾN ĐỔI
KHÍ HẬU
NỘI DUNG:
THÍCH NGHI VÀ ỨNG PHÓ THỜI TIẾT CỰC ĐOAN Ở VIỆT NAM TRONG
KHOẢNG NĂM 2016 TỚI NAY
LỚP L01---HK 222
NGÀY NỘP 30/03/2023
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Võ Lê Phú
TS. Võ Thanh Hằng
Sinh viên thực hiện MSSV Gmail Điểm
số
Đoàn Ngọc Danh 1912837
Thành phố Hồ Chí Minh – 2022
1
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH......................................................................................................3
DANH MỤC BẢNG.....................................................................................................4
PHẦN MỞ BÀI............................................................................................................. 5
PHẦN THÂN BÀI........................................................................................................6
I. Khái niệm thời tiết cực đoan....................................................................................6
II. Hậu quả..................................................................................................................8
III. Thực trạng về cơng tác phịng chống...................................................................11
IV. Hành động...........................................................................................................16
PHẦN KẾT BÀI.........................................................................................................20
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................21
2
DANH MỤC HÌNH
Hình 1. Quy định độ mặn (Nguồn Sở KH&CN)
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Những tai họa thường xảy ra tại Việt Nam (Nguồn Tổng hợp)
3
PHẦN MỞ BÀI
Biến đổi khí hậu là một trong những từ khóa rất được mọi cá nhân quan tâm, có
thể trên thời sự, trên băng rôn tuyên truyền, trên mạng xã hội đầy rẫy những vấn đề
này. Dù tranh cãi dữ dội ở bên nào thì đúng hay khơng thì ta khơng thể nào phủ nhận
4
rằng, chúng ta phải chung sống với cái bệnh mà nó bạo phát, phải thích nghi mối nguy
hiểm trong tương lai không xa phải xảy ra. Điều này không chỉ là vấn nạn của cộng
đồng mà còn kéo theo hệ lụy đến tương lai. Nhưng hãy làm tốt những gì mình hiện có,
vì vậy đây là lý do khiến em chọn đề tài này.
PHẦN THÂN BÀI
I. Khái niệm thời tiết cực đoan
Các dạng thời tiết cực đoan thường mang tới sự khắc nghiệt, nhiều độc hại, bất
thường ập đến và không tốt lành, đột ngột gây thiệt hại lớn về người và của. Thời tiết
cực đoan đang là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại, có tác động
5
bất lợi trên nhiều lĩnh vực của đời sống trên cả quy mơ tồn cầu, khu vực và quốc gia.
Khí hậu cực đoan biến động mạnh hơn cả về không gian và thời gian, xảy ra với tần
suất nhiều hơn và diễn biến bất thường hơn.
Những loại thiên tai Hình minh họa
Bão
Mưa lớn
Ngập mặn
Lốc xốy, vịi rồng
6
Hạn hán
Sạt lở đất
Nắng nóng, rét đậm
Dông sét
Mưa axit
Bảng 1. Những tai họa thường xảy ra tại Việt Nam (Nguồn Tổng hợp)
7
II. Hậu quả
Về môi trường sống bị mất, sinh vật tuyệt chủng, gây mất chuỗi thức ăn và mất
đa dạng sinh học. Về con người, nắng nóng dẫn đến cháy rừng, hạn hán, gây mất mùa
và ảnh hưởng sức khỏe tới người dân
Việt Nam được ghi nhận là 1 trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất
từ hiện tượng biến đổi khí hậu. Do đó, các hiện tượng thời tiết cực đoan cũng xuất hiện
tại Việt Nam với tần suất ngày càng tăng cao. Tính riêng trong 20 năm trở lại đây, các
loại thiên tai như bão, lũ, lở đất… đã khiến hơn 13.000 người thiệt mạng, gây thiệt hại
tài sản trên 6,4 tỷ USD. Đồng thời, khoảng 60% diện tích đất và hơn 70% dân số đứng
trước rủi ro hứng chịu thảm họa từ thiên tai [1].
Từ đầu năm 2020 đến nay, tình hình thiên tai diễn biến phức tạp, bất thường trên
phạm vi cả nước. Trên 160 trận dông, lốc, mưa lớn đã xảy ra tại 40 tỉnh, thành phố,
trong đó có 9 đợt trên diện rộng tại 21 tỉnh, thành phố thuộc khu vực Bắc Bộ và Trung
Bộ. Riêng tại miền núi phía Bắc, tính từ đầu năm đến nay, ngồi 92 trận dơng, lốc, mưa
đá, mưa lớn thì cịn xảy ra 3 trận lũ qt, sạt lở đất và 12 trận động đất. Thiên tai đã
gây thiệt hại lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống của người dân.
Theo thống kê, từ đầu năm đến nay, thiên tai đã làm chết và mất tích 48 người, tổng
thiệt hại về tài sản lên tới 3.424 tỷ đồng. Riêng tại khu vực miền núi phía Bắc, tính đến
đầu tháng 7, đã có 19 người chết, 79 người bị thương, hàng chục nghìn nhà bị hư hại,
trên 10 nghìn ha lúa và hoa màu bị thiệt hại [2].
Bên cạnh đó, tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng tại Đồng bằng sông
Cửu Long (ĐBSCL), Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đã vượt mốc lịch sử năm 2016;
tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển ĐBSCL cũng diễn ra nghiêm trọng... Hiện nay đã
bước vào mùa mưa lũ; trong những ngày vừa qua, mưa lớn đã xảy ra ở một số khu vực,
gây lũ quét, sạt lở đất tại các tỉnh phía Bắc, ngập úng tại các đơ thị lớn như Thành phố
Hồ Chí Minh...
8
Về mưa axit xảy ra thường xuyên phía Bắc của Việt Nam và mưa axit diễn biến
mức độ khá nghiêm trọng như mức độ lắng đọng axit (tổng lượng lắng đọng ướt và
khô) cao nhất tại Hà Nội, Việt Trì, Bắc Giang, Ninh Bình, Hải Dương, TP. Hồ Chí
Minh, Bình Dương, Đồng Nai đạt 20-50 kgS/ha/năm, và đạt 5-10 kgN/ha/năm vào năm
2015, trong đó, lượng lắng đọng ướt và khô chiếm tỷ lệ tương đương nhau (khoảng
40%- 60%)[3]. Có những khu vực ít nguồn thải như Cúc Phương, Đà Lạt, Pleiku
nhưng mức độ mưa axit và lắng đọng axit lại rất cao chứng tỏ rằng có sự lan truyền ơ
nhiễm trong khơng khí từ khu vực khác đến.
Về ngập mặn, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng
nặng nề của biến đổi khí hậu do có bờ biển dài. Nếu nước biển dâng 1 mét, 40% diện
tích ĐBSCL, 10% diện tích đồng bằng sông Hồng sẽ bị ngập, ảnh hưởng trực tiếp đến
20-30 triệu người dân. Gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động, hai đồng bằng rộng lớn của
Việt Nam là Đồng bằng sông Hồng và ĐBSCL là những nơi chịu ảnh hưởng lớn nhất
với độ mặn lên đến 4g/L.
Hình 1. Quy định độ mặn (Nguồn Sở KH&CN)
Dựa vào bảng trên ta thấy 2 đồng bằng lớn nhất ta có nguồn đều bị nhiễm mặn
nặng nề, thâm chí trong tương lai khơng xa độ mặn này bị trung hịa thành nước muối.
Về hạn hán được hình thành nhiều lý do khác nhau có thể từ việc thiếu nước
thượng nguồn, nhưng ở chủ đề này nguyên nhân của một phần do hiện tượng El Nino
là thời tiết khơ hạn nắng nóng hơn ngày càng nhiều ở các mùa khơ. Thơng tin từ Văn
phịng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai cho biết, 11/19 tỉnh thành
thuộc khu vực Nam Bộ có tính dễ bị tổn thương cao do hạn hạn như An Giang, Bình
Phước, Bạc Liêu, Bến Tre, Sóc Trăng, Vĩnh Long… trong đó vào năm 2015-2016 đã
9
có 377.362 hộ dân ở khu vực Nam Trung bộ, Tây Nguyên và Nam bộ bị ảnh hưởng bởi
tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn kéo dài có đến 240.200 ha lúa, 9.649 ha hoa màu,
85.650 ha cây ăn trái, 3.056 ha nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại, ước tính tổng thiệt hại
lên đến 5.600 tỷ đồng [4]. Những thiệt hại trên tác động đến con người sinh sống tại
đây và họ đã lựa chọn di cư và chuyển chỗ sinh sống.
Bên cạnh đó, nhiều hình thế thời tiết nguy hiểm khác ảnh hưởng đến nước ta hằng
năm như khơng khí lạnh, áp thấp nhiệt đới, bão, dải hội tụ nhiệt đới kèm theo dông, tố,
lốc, mưa đá, nước dâng do bão đều có biến động, nhất là khi có hiện tượng Elnino,
Lanina... Nguy hiểm hơn, nếu một số hình thế nói trên xảy ra đồng thời trên cùng một
địa bàn, chẳng hạn hình thế dải hội tụ nhiệt đới kết hợp với áp thấp nhiệt đới hoặc bão,
có hay khơng có khơng khí lạnh tăng cường, khi đó, cơng tác phịng chống, ứng phó sẽ
khó khăn hơn, dễ bị động, hậu quả tàn phá sẽ lớn hơn rất nhiều.
III. Thực trạng về cơng tác phịng chống
1. Khả năng ứng phó
Hiện tại, ở Việt Nam có một số mạng lưới trạm quan trắc lắng đọng axit đó là
mạng lưới của Tổng cục Khí tượng Thủy văn, mạng lưới của Tổng cục Môi trường và
mạng lưới EANET. Tuy nhiên, số lượng trạm còn hạn chế và phân bố chưa hợp lý.
Thêm vào đó, các mạng lưới này được đầu tư trang thiết bị, cũng như quy trình hoạt
động, hướng dẫn kỹ thuật, nhân lực rất khác nhau, khơng thống nhất. Vì vậy, việc tổng
hợp cũng như đánh giá nguồn thông tin, số liệu từ các mạng lưới này rất khó khăn.
Mặc dù, Quy hoạch mạng lưới giám sát lắng đọng axit cho Việt Nam đã được phê
duyệt từ năm 2016 (Quyết định số 90/QĐ-Ttg), tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu
của đề tài nhận thấy cần bổ sung, điều chỉnh danh mục trạm giám sát lắng đọng axit
quy hoạch [3].
Về chống ngập mặn, để ứng phó với thời tiết cực đoan, ngày 17/11/2017, Chính
phủ đã ban hành Nghị quyết số 120/NĐ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng
với thời tiết cực đoan; Quyết định số 33/QĐ-TTg ngày 07/01/2020 của Thủ tướng
10
Chính phủ về Phê duyệt Chiến lược thủy lợi Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến
năm 2045. Tiếp đó, ngày 22/01/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số
04/CT-TTg về việc triển khai các giải pháp cấp bách phòng, chống hạn hán, thiếu
nước, xâm nhập mặn.
Để chống hạn hán, chính phủ tập trung nguồn vốn để đầu tư xây dựng, sửa chữa,
nâng cấp cơng trình cấp nước sinh hoạt nơng thơn tập trung lồng ghép vào Chương
trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nơng thơn mới. Chủ động bố trí ngân sách địa
phương và các nguồn vốn xã hội hóa để triển khai thực hiện các giải pháp cấp bách
phòng, chống hạn hán, thiếu nước, hay cả chống xâm nhập mặn. Với việc hàng loạt dự
án đã và đang được đầu tư xây dựng tại ĐBSCL, khi đi vào hoạt động, những cơng
trình thủy lợi, trong đó xác định rõ các dự án tích trữ nước, kiểm sốt mặn, giữ ngọt,
các dự án cấp nước đô thị và nông thôn cần ưu tiên đầu tư, cơ cấu nguồn vốn đầu tư.
Việt Nam ta là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng mạnh do bão lớn hàng
năm. Nhà nước đã luôn ưu tiên xây dựng các kênh thông tin, hệ thống cảnh báo sớm,
đảm bảo thông tin được truyền tải đến những khu vực có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi
mưa lớn và bão. Kết hợp tăng cường giám sát và dự báo thời tiết, để từ đó phát huy tối
đa hiệu quả của các biện pháp phịng chống thiên tai. Bên cạnh đó, việc xây dựng các
cơng trình cơ sở hạ tầng, phát triển và ứng dụng các công nghệ mới trong các ngành
nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ canh sẽ giúp tăng cường khả năng chống chịu và giảm
thiểu thiệt hại của mưa lớn và bão.
Về kinh tế, chính quyền đương phương hướng cho người dân khu vực thích nghi,
sống chung bằng cách “thuận thiên” để thích ứng như thực hiện chuyển đổi cơ cấu mùa
vụ cây trồng, vật ni và tạo ra được những mơ hình thành công (trồng lúa - nuôi tôm,
trồng lúa - nuôi cá, trồng lúa chịu mặn, áp dụng mơ hình “cánh đồng lớn”, kết hợp
nuôi, trồng xen canh, khắc phục nguy cơ “trắng tay”, sử dụng các giống cây trồng, vật
nuôi chất lượng cao, thời gian sinh trưởng ngắn, nhóm giống chịu mặn, phèn …).
2. Thách thức
11
Việc phòng chống thiên tai, biến đổi khí hậu rất được Nhà nước quan tâm, ln
có hoạt động cương quyết và chủ động. Chính vì thế, từ năm 1990 tới nay chúng ta đã
xây dựng nhiều trạm quan trắc, mơ hình dự báo nhờ vào việc cùng như hợp tác các
quốc gia, chuyên gia nước ngồi nhằm để ứng phó kịp thời thiên tai. Có thể nói đây là
hướng đi hồn tồn đúng đắn và phù hợp. Thế nhưng, ta không thể làm chuyện lớn
hồn thành trong vài ngày. Vì đây là giải pháp công nghệ, cho nên việc lựa chọn mức
độ dự báo gần mức chính xác và cùng với đó là chi phí đầu tư là một khoản rất lớn,
nhưng nguồn lực nhà nước còn rất hạn chế, chưa kể còn rất nhiều dự án quan trọng để
đầu tư để phục vụ. Do tư nhân chưa dám mạnh tay chi vào những dự án liên quan tới
môi trường. Trong khi nguồn nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước mới chỉ đáp ứng
được một phần tổng thiệt hại hàng năm, ngoài ra còn phải mở rộng ngân sách dành cho
đầu tư phát triển sau thiên tai, thảm họa, chính sách bảo hiểm rủi ro thiên tai nhằm
kiểm soát rủi ro và bảo đảm tính an tồn về tài chính, ngân sách cho việc kích thích
quay trở lại khơi phục sản xuất sau thiên tai. Bằng chứng qua hình ảnh dưới đây:
Hình 2. Ngân sách nhà nước trung bình cho Biến đổi khí hậu ở Việt Nam giai
đoạn năm 2015-2020, đơn vị: nghìn tỷ đồng
Từ năm 2015 cho tới trước thời điểm dịch bùng phát, ngân sách Nhà nước rót vào
cho việc phịng chống thiên tai, biến đổi khí hậu chiếm chưa tới 8.5%, trong khi phần
còn lại do địa phương, và doanh nghiệp ở vùng đó đóng góp. Nếu ta tính tốn tổng 63
tỉnh thành cả nước thì mỗi tỉnh chỉ nhận được 222 tỷ đồng cho lĩnh vực này cho 5 năm.
12
Và mỗi năm chỉ nhận hơn 44 tỷ đồng. Em đánh giá việc đóng góp nhà nước cịn rất hạn
chế, cịn khó khăn rất là nhiều. Bài tốn giải quyết làm sao để huy động nguồn vốn cho
lĩnh vực này, trong khi lĩnh vực này khơng hồn tồn mang lại lợi ích nhiều cho tư
nhân.
Để chủ động ứng phó trực tiếp với các tình huống có thể xảy ra, mỗi địa phương,
mỗi ngành cần xây dựng các phương án phòng, chống theo nhiều cấp độ, từ tình huống
ít nguy hiểm đến tình huống nguy hiểm nhất, gắn với đặc điểm và điều kiện tự nhiên,
kinh tế, xã hội của địa phương, ngành, lĩnh vực[1]. Chính vì thế, Quốc hội – Nhà nước
đã ban hành Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030,
tầm nhìn đến năm 2050 giúp cho các cơ quan chính quyền địa phương có cái góc nhìn
xuyên thế kỷ, là nền tảng cho các chiến lược khác. Ứng phó với biến đổi khí hậu phải
gắn liền với phát triển bền vững, tuy nhiên, bảo vệ môi trường hiện vẫn chưa là yếu tố
được quan tâm hàng đầu so với mục tiêu tăng trưởng ở đa phần các tỉnh thành. Yêu cầu
lồng ghép các vấn đề môi trường, biến đổi khí hậu vào các quy hoạch, chiến lược phát
triển của từng ngành, từng địa phương, trên thực tế, chưa được thực hiện nghiêm túc.
Bằng chứng là có rất nhiều quan chức còn xem nhẹ về vấn đề biến đổi khí hậu, được
cho quyền lực để tự quyết, tự xây dựng cho phù hợp nhưng lại chưa thực hiện tốt đúng
yêu cầu đặt ra, nội cử ở thành phố Hồ Chí Minh, đã từng có việc gây tranh cãi khi đồng
ý cho Vinhomes thực hiện dự án lấn biển Cần Giờ, bản thân dự án này nếu làm sai thơi
thì hậu quả như là sụp lún, gây ơ nhiễm nguồn nước, mất môi trường sống tự nhiên,…
đây là hơi chng cảnh báo dù Nhà nước có phương án phát triển kinh tế đi đôi với
phát triển bền vững với mơi trường nhưng sẽ có lúc bản thân chúng ta quá tư bản cho
việc phát triển kinh tế cho việc đi đầu.
Mặt khác, ngoài việc phát triển kinh tế thứ điều em cũng rất quan tâm đó chính là
cơ sở hạ tầng. Đây chính là sự quy hoạch quyết định số phận tương lai địa điểm đó,
chính cái cơ sở hạ tầng là một trong những hướng phát triển mà Việt Nam ta quan tâm,
nó góp phần tác động đến mọi lĩnh vực và giúp làm giảm thiệt hại, ít tốn kém tới mọi
ngành nghề từ chuỗi cung ứng, giảm chiều dài đường đi rút ngắn thời gian tới chúng ta,
13
mang tới nguồn năng lượng, cung ứng nước sạch, internet, giải quyết rác thải, tạo động
lực kéo theo sự phát triển nhộn nhịp tại địa điểm khu vực thành phố, thì vấn đề cơ sở
hạ tầng liên quan tới mơi trường cũng rất quan trọng. Vấn đề cơ sở hạ tầng ở đây đã cũ
nhưng chưa hoàn toàn nâng cấp, cơng trình ln bị tình trạng hoạt động q tải, và các
tài nguyên như cát, đá,.. đều có hạn, việc ta xây dựng cũng dựa vào nguồn tài nguyên
sẵn có mà tài nguyên này không thuộc tài nguyên tái tạo nhưng nhu cầu thì ngày càng
tăng cao khiến giá thành chi phí ước tính ln bất biến thay đổi dẫn đến thời gian thi
công không đảm bảo, chưa kể việc xây dựng cịn khơng được đảm bảo đúng tiêu chuẩn
vật tư, và hàng ngàn những tiêu cực khác. Việc thi cơng sử dụng và bảo trì cũng là một
vấn đề cần được quan tâm gồm có 230 vị trí trên các tuyến đê quốc gia, khoảng 200 hồ
đập xuống cấp có nguy cơ xảy ra sự cố khi có mưa lũ lớn. Hệ thống tiêu, thốt nước ở
nhiều đơ thị chưa đáp ứng yêu cầu ứng phó khi xảy ra các trận thiên tai vượt tần suất
thiết kế[5]. Do hiện tượng La Nina dẫn đến hệ thống đê đang xuống cấp, các trận mưa
cực đoan, như: trận mưa lớn năm 2008 gây lụt Hà Nội; mưa lũ lịch sử năm 2015 tại
khu vực Đông Bắc, năm 2017 tại miền Trung… xảy ra, khi các hồ chứa có nhiệm vụ
cắt lũ ở thượng nguồn đã sử dụng hết dung tích phịng lũ cho hạ du thì khả năng xảy ra
lũ lớn, lũ vượt tần suất thiết kế là rất cao, uy hiếp an tồn đê điều. Do đó, cần phải tính
đến kịch bản làm sao để các hồ chứa, dự án thủy điện để đảm bảo an toàn cho khu vực;
phải đảm bảo quy trình vận hành liên hồ chứa đúng khoa học, sát thực tế nhất.
Tình trạng ngập mặn ở ĐBSCL là một trong những vấn đề rất được quan tâm của
Chính phủ và địa phương, nhưng khơng tránh tình trạng quản lý sai cách để chống
ngập mặn. Để phòng chống nước biển ngập mặn vào, chính quyền địa phương cho việc
xây dựng đê cao để kiểm soát lũ, sản xuất lúa thâm canh một phần chính việc này đã
gián tiếp ngăn khơng cho phù sa màu mỡ về bồi tụ trên các cánh đồng. Khiến cho các
tỉnh giáp biển có độ cao thấp (so với nước biển chỉ cao hơn 2m). “Cũng như các đồng
bằng sơng khác, ĐBSCL chỉ có thể tồn tại nếu nhận được đủ lượng trầm tích từ thượng
nguồn và có dịng chảy đủ để đưa lượng phù sa đó tỏa đi khắp bề mặt đồng bằng. Từ
14
đó giúp lớp đất bề mặt được bồi đắp với tốc độ bằng hoặc nhanh hơn mức nước biển
dâng trên toàn cầu”1.
IV. Hành động
Chi phí cho hành động ứng phó và thích nghĩ sẽ là viễn cảnh tương lai chúng ta
phải xây dựng và tìm kiếm lợi ích chung, tăng nguồn thu cho chi phí xử lý khắc phúc
cho việc biến đổi khí hậu cũng như xây dựng các dự án, các trạm quan trắc và mơ hình
hóa bằng cách hình thành thêm những phí mơi trường từ việc phát thải khí nhà kính,
phát thải chất thải theo quy mô lớn hơn hoặc áp đặt xả thải nhiều phải xây dựng cơ sở
hạ tầng xử lý để giúp giảm tải khó khăn cho Nhà nước. Về những cơng trình chức
năng, cơng cộng Quốc Hội nhà nước đã đề cao việc này là thiết thực, nhưng trước hết
huy động và tập trung vào những công trình thí điểm một số nơi tập trung dân mật độ
cao và phụ thuộc lớn. Với vị thế là một trọng những quốc gia ủng hộ tích cực về việc
thích nghi và giảm phát thải cacbon lợi dụng sự ủng hộ ta kêu gọi các tổ chức, các liên
minh phi tổ chức với mục đích cam kết để tối đa hóa tăng chi phí cho việc thích nghi
và giải quyết thiên tai dựa trên cơ sở tôn trọng pháp luật sở tại nước nhà và quy định
bên kia tổ chức.
Hình 3. Đầu tư nước ngồi cho nỗ lực ứng phó biến đổi khí hậu tại Việt Nam giai
đoạn 2012-2019( đơn vị USD) (Nguồn: OECD DAC, MDB và MCFs)
1 Giáo sư Matt Kondolf từ Đại học California
15
Về phía chính phủ đi đầu về việc quản lý, cho nên cần thống nhất các văn bản
chung và chuẩn, để cho các chính quyền địa phương tỉnh thành dựa vào đó đưa ra các
quyết định kịp thời và phù hợp từng địa lý. Tránh tình trạng bị động phụ thuộc, và đẩy
đưa nhiệm vụ cho Nhà nước, tự động xây dựng kịch bản ứng phó thích nghi mỗi năm,
tổ chức và thành lập Hội đồng ứng phó để chuẩn bị cho kịch bản xấu nhất. Quốc gia
thuận lợi có nền chính trị tập trung 1 nhà máy vì thế dễ dàng tận dụng sức lực và dân
vận để ứng phó thời tiết cực đoan và khắc phục sự cố sau thiên tai với nhiệm vụ đẩy
nhanh tiến độ sửa chữa hư hỏng, sự cố cơng trình phịng, chống thiên tai, nhất là các
trọng điểm đê, hồ đập xung yếu có nguy cơ xảy ra sự cố trong mùa mưa lũ, di dời dân
cư khẩn cấp khỏi vùng thiên tai. Kết hợp với ban Tuyên giáo để tuyên truyền nâng cao
nhận thức, tập huấn cho các đối tượng ảnh hưởng những kĩ năng để tăng cơ hội sống
sót và phịng chống thiên tai.
Ngoài ra, trồng cây cũng là phương pháp dễ dàng nhưng đem lại rất nhiều hiệu
quả tích cực nhu giúp phủ xanh diện tích cho nước nhà dù chúng ta đã đạt yêu cầu tổ
chức quốc tế với mục tiêu che phủ là 40% thì Việt Nam ta trong năm 2021 có tỉ lệ che
phủ rừng đạt 42.02% với diện tích là 13,923,108ha[6]. Nó giúp giảm đi lượng phát thải
lượng cacbon, tăng cường khơng khí sạch, giảm tình trạng sụp lún, soi mịn và quan
trọng nhất những nơi khơng mang lại lợi ích kinh tế cho con người những vẫn đóng
góp cho sự phát triển bền vững.
Bản thân em cũng xây dựng hành trang cho chính mình là những nhân tố giúp
giảm thiểu phát thải khí nhà kính, tự trau dồi cho mình kiến thức chun mơn tại
trường học, liên kết những cá nhân có tư tưởng tiến bộ, tự tìm kiếm cơ hội phù hợp cho
chính mình từ đó đóng góp theo cách riêng ví dụ như là em có làm trong bộ phận
truyền thơng của Câu lạc bộ Mơi Trường xanh, có nhiệm vụ viết content, tun truyền
mọi người những cảm hứng để giúp giảm một phần nhỏ về những tác động, ngoài ra tổ
chức cuộc thi học thuật môi trường xanh để mang thông điệp bảo vệ môi trường sống.
16
Hình 4. Một trong những bài viết do em đảm nhận (Nguồn: Fanpage Câu lạc bộ
Môi Trường Xanh - Trường ĐH Bách Khoa - ĐHQG TP.HCM)
17
PHẦN KẾT BÀI
Tổng kết lại, sự thích nghi chống thời tiết cực đoan ở Việt Nam là một vấn đề rất
quan trọng đối với mỗi cả cá nhân và cộng đồng dân tộc. Với những tác động của biến
đổi khí hậu ngày càng trầm trọng việc chuẩn bị ứng phó phịng chống và thích nghi sẽ
giúp cho chúng ta có thể giảm thiểu thiệt hại và đảm bảo an toàn cho con người cũng
như gia đình và cộng đồng, điều này làm mau chóng khắc phục và quay trở lại hoạt
động sản xuất lúc trước mà không tốn thời gian quá lâu. Những giải pháp này rất nhiều
nhưng để thực hiện cần cả một quá trình và sự nỗ lực rất lớn. Những thách thức trong
những năm về sau cần có hành động thích ứng là thực hiện tốt và quan tâm hơn vì thời
tiết, khí hậu có xu hướng ngày càng cực đoan rất khó dự báo chính xác.
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] GS. TSKH. Nguyễn Đức Ngữ (07/08/2015), Ứng phó với thời tiết, khí hậu cực
đoan, Truy cập từ: />post239452.html
[2] Minh Duyên, (04/08/2020), Tăng cường các giải pháp ứng phó với thời tiết cực
đoan, Truy cập từ: />phap-ung-pho-voi-thoi-tiet-cuc-doan.html
[3] Cổng thông tin Khoa học và Công nghê (15/12/2020), Nghiên cứu đánh giá hiện
trạng và lập bản đồ phân bố lắng đọng axit ở Việt Nam, Truy cập từ:
/>lang-dong-axit-o-viet-nam-n2390.html
[4] Lê Văn Tuân, Vũ Văn Thăng, Trần Đình Trọng, Trần Trung Nghĩa, Trương Thị
Thanh Thủy (23/8/2019), Đánh giá rủi ro hạn hán ở khu vực Nam Bộ, Viện Khoa học
Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu.
[5] TTXVN (07/08/2020), Tăng cường các giải pháp ứng phó với thời tiết cực đoan,
Truy cập từ: />phap-ung-pho-voi-thoi-tiet-cuc-doan.htm
[6] Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2022), Quyết định 2860/QĐ-BNN-TCLN
2022, theo Điều 1.
19