Tải bản đầy đủ (.pdf) (16 trang)

Tác động của biến đổi khí hậu đến vùng đồng bằng sông cửu long các kịch bản và giải pháp thích ứng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (570.74 KB, 16 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

TIỂU LUẬN
MÔN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Đề tài:

TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN ĐỒNG
BẰNG SÔNG CỬU LONG

CÁC KỊCH BẢN VÀ GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG

LỚP: L01
GVHD: PGS.TS. VÕ LÊ PHÚ
SVTH: NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG TUẤN MSSV: 2012343

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 04 năm 2023

MỤC LỤC
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU .................................................... 3
1.1.Khái niệm của biến đổi khí hậu ................................................................................ 3
1.2.Nuyên nhân gây ra biến đổi khí hậu ......................................................................... 3
1.3.Tác động của biến đổi khí hậu .................................................................................. 4
Chương 2: TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN ĐỒNG BẰNG SÔNG
CỬU LONG.................................................................................................................... 6
2.1. Các kịch bản biến đổi khí hậu tại Việt Nam ............................................................ 6
2.2. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến vùng Đồng bằng sơng Cửu Long ................. 8
Chương 3: GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ............................. 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................ 15


1

DANH MỤC HÌNH ẢNH & BẢNG
Bảng 1. Kịch bản nước biển dâng theo các kịch bản RCP cho khu vực Biển Đôn
(Đơn vị: cm).
Bảng 2. Nguy cơ ngập lụt khi nước biển dâng ở Đồng bằng sông Cửu Long theo
kịch bản Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2020.
Hình 1. Bản đồ nguy cơ ngập ứng với mực nước biển dâng 100 cm, Vùng
ĐBSCL.
Hình 2. Sơ đồ xâm nhập mặn vào mùa khô ở ĐBSCL giai đoạn 1998 - 2016 và
2020.
Hình 3. Mơ hình sống chung với biến đổi khí hậu của người dân vùng ĐBSCL.

2

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.1. Khái niệm của biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển,
sinh quyển, thạch quyển, băng quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự
nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm.
Sự biển đổi có thể là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện
thời tiết quanh một mức trung bình. Sự biến đổi khí hậu có thể giới hạn trong một vùng
nhất định hay có thể xuất hiện trên tồn Địa Cầu. Trong những năm gần đ ây, đặc biệt
trong ngữ cảnh chính sách mơi trường, biến đổi khí hậu thường đề cập tới sự thay đổi
khí hậu hiện nay, được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên tồn cầu. Ngun nhân
chính làm biến đổi khí hậu Trái Đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải
khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính
như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác. (Nguồn: Wikipedia).
1.2. Nuyên nhân gây ra biến đổi khí hậu


Khi khí nhà kính bao phủ Trái Đất, chúng sẽ giữ lại nhiệt của mặt trời. Hiện tượng
này sẽ dẫn đến tình trạng nóng lên tồn cầu và biến đổi khí hậu. Thế giới đang nóng lên
với tốc độ nhanh hơn mọi thời điểm từng ghi nhận trong lịch sử. Một số nguyên nhân
gây ra khí nhà kính như:

Sản xuất năng lượng: quá trình tạo điện và nhiệt từ việc đốt cháy nhiên liệu hoá
thạch tạo ra lượng khí thải rất lớn trên tồn cầu. Phần lớn điện được tạo ra bằng cách đốt
than, dầu hoặc khí đốt, tạo ra cacbon dioxit và nitơ oxit – những loại khí nhà kính mạnh
đang bao trùm Trái Đất và giữ lại nhiệt của mặt trời.

Sản xuất hàng hóa: các ngành sản xuất và cơng nghiệp tạo ra khí thải, phần lớn là
từ việc đốt cháy nhiên liệu hoá thạch để tạo ra năng lượng nhằm sản xuất xi măng, sắt,
thép, điện, nhựa, quần áo và các mặt hàng khác. Ngành công nghiệp sản xuất là một
trong những nguồn phát thải khí nhà kính lớn nhất trên thế giới.

Chặt phá rừng: việc phá rừng để xây dựng nông trại hoặc đồng cỏ hay vì lý do nào
khác cũng đều tạo ra khí thải do cây xanh khi bị chặt sẽ thải ra lượng cacbon tích trữ
trong đó. Hằng năm, có khoảng 12 triệu hecta rừng bị huỷ diệt. Vì cây xanh hấp thụ
cacbon dioxit, nên chặt chúng đi cũng có nghĩa là hạn chế khả năng của tự nhiên trong
việc giảm khí thải trong bầu khí quyền.

3

Sử dụng phương tiện giao thông: hầu hết ô tô, xe tải, tàu thuyền và máy bay hoạt
động bằng nhiên liệu hoá thạch. Theo đó, giao thơng vận tải là một trong những nguồn
phát thải khí nhà kính lớn nhất, đặc biệt là cacbon dioxit. Phương tiện đường bộ chiếm
tỷ trọng lớn nhất do phải đốt cháy các sản phẩm gốc dầu mỏ (như xăng) trong động cơ
đốt trong.


Sản xuất lương thực: quá trình sản xuất lương thực thải ra khí cacbon dioxit, mê-
tan và các loại khí nhà kính khác theo nhiều cách, chẳng hạn như phá rừng và khai khẩn
đất trồng trọt và chăn thả, làm thức ăn cho gia súc, sản xuất và sử dụng phân bón để
trồng trọt cũng như sử dụng năng lượng (thường là nhiên liệu hoá thạch) để chạy các
thiết bị trong nông trại hay tàu cá.

Cấp điện cho các tòa nhà cao tầng: các toà nhà dân cư và trung tâm thương mại
tiêu thụ hơn một nửa mức tiêu thụ điện trên toàn cầu. Do tình trạng khơng ngừng sử
dụng than, dầu và khí tự nhiên để sưởi và làm mát, các toà nhà thải ra một lượng khí
thải nhà kính đáng kể.
1.3. Tác động của biến đổi khí hậu

Nhiệt độ nóng lên: khi nồng độ khí nhà kính tăng lên, nhiệt độ trên bề mặt tồn
cầu cũng tăng theo. Rủi ro cháy rừng cao hơn và lây lan nhanh hơn rất nhiều khi khí hậu
nóng lên. Nhiệt độ ở hai Cực đã tăng lên ít nhất là gấp hai lần so với mức tăng trung
bình của thế giới.

Hình thành thêm nhiều cơn bão dữ dội: những cơn bão lớn đang trở nên khốc liệt
hơn và xuất hiện thường xuyên hơn ở nhiều khu vực. Do nhiệt độ tăng, nước bốc hơi
càng nhiều khiến tình trạng mưa cực lớn và ngập lụt trở nên trầm trọng hơn, kéo theo
thêm nhiều cơn bão huỷ diệt. Tình trạng nước biển nóng lên cũng ảnh hưởng đến tần
suất và quy mô của các cơn bão nhiệt đới.

Khô hạn kéo dài: tình trạng biến đổi khí hậu đang làm ảnh hưởng đến nguồn nước
hiện có, khiến nước càng trở nên khan hiếm ở thêm nhiều khu vực, tăng nguy cơ hạn
hán nông nghiệp và hệ sinh thái, ảnh hưởng đến mùa vụ và khiến hệ sinh thái càng dễ
bị tổn thương.

Thiếu thốn lương thực: sự thay đổi về khí hậu cũng như sự gia tăng của các hiện
tượng thời tiết cực đoan là một trong những lý do làm gia tăng nạn đói cũng như tình

trạng thiếu thốn dinh dưỡng. Thuỷ sản, cây trồng và vật ni có thể bị huỷ hoại hoặc

4

năng suất sẽ kém đi. Tình trạng nóng lên có thể làm giảm nguồn nước và mất đi những
đồng cỏ để chăn thả, làm giảm năng suất mùa vụ và ảnh hưởng đến gia súc.

Thêm nhiều mối đe doạ đến sức khoẻ: tác động đến khí hậu đã và đang gây hại
cho sức khoẻ con người, từ những vấn đề như ô nhiễm không khí, bệnh dịch, hiện tượng
thời tiết cực đoan, việc bắt buộc phải di dời, áp lực đến sức khoẻ tinh thần và sự gia tăng
của nạn đói, cho đến tình trạng thiếu dinh dưỡng ở những khu vực mà con người khơng
thể trồng trọt hay tìm nguồn lương thực cần thiết. Mỗi năm, các yếu tố môi trường đã
lấy đi sinh mạng của khoảng 13 triệu người. Những thay đổi về thời tiết đang làm gia
tăng dịch bệnh và các hiện tượng thời tiết cực đoan, dẫn đến số người thiệt mạng ngày
càng tăng và khiến cho hệ thống y tế không thể theo kịp.

5

Chương 2: TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG

2.1. Các kịch bản biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Năm 2009 Chính phủ Việt Nam đã cơng bố Kịch bản biến đổi khí hậu đầu tiên

cho Việt Nam trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước. Mức độ chi tiết
của các kịch bản mới chỉ giới hạn cho 7 vùng khí hậu và dải ven biển Việt Nam để kịp
thời phục vụ các Bộ, ngành và các địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc
gia ứng phó với biến đổi khí hậu.

Năm 2011, Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu được ban hành, xác định mục

tiêu cho các giai đoạn và các dự án ưu tiên. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cập nhật
kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng dựa trên các nguồn dữ liệu, các điều kiện
khí hậu cụ thể của Việt Nam và các sản phẩm của các mơ hình khí hậu.

Theo kịch bản này, trong vịng 100 năm mực nước biển Việt Nam có thể dâng từ
27cm đến 66cm (theo RCP 2.6), hoặc từ 49cm đến 102cm (theo RCP 8.5). Như vậy sẽ
có khoảng 45% diện tích khu vực Đồng bằng sơng Cửu Long ngập dưới mực nước biển.
Ngoài nguy cơ suy giảm quỹ đất, các đơ thị ven biển Việt Nam cịn đối diện với các vấn
đề khác như khả năng bị phá hủy hệ thống hạ tầng kỹ thuật; suy giảm nguồn nước sinh
hoạt; suy giảm sinh kế, việc làm; xáo trộn đời sống sinh hoạt do lũ lụt, xâm ngập mặn
và các hiện tượng thời tiết cực đoan khác.

Bảng 1. Kịch bản nước biển dâng theo các kịch bản RCP cho khu vực Biển Đơn
(Đơn vị: cm)

Nguồn: Trích từ “Kịch bản Biến đổi khí hậu, Phiên bản cập nhật năm 2020”, Bộ
TN&MT

So với kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng năm 2016, kịch bản cập nhật
năm 2020 nhận định về mức độ ngập lụt của đồng bằng sơng Cửu Long có thể tồi tệ
hơn. Ở kịch bản năm 2016, nếu mực nước biển dâng 100 cm, 38,9% diện tích Đồng

6

bằng sơng Cửu Long có nguy cơ ngập cao, thì kịch bản cập nhật năm 2020, nguy cơ
ngập có thể lên đến 47,29% diện tích vùng đất này.

Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực có nguy cơ ngập rất cao. Nếu mực nước
biển dâng 80 cm, sẽ có khoảng 31,94% diện tích có nguy cơ bị ngập. Trong đó, các tỉnh
có nguy cơ ngập cao nhất là Cà Mau (64,42%) và Kiên Giang (66,16%). Nếu mực nước

biển dâng 100 cm sẽ có khoảng 47,29% diện tích Đồng bằng sơng Cửu Long có nguy
cơ ngập, cao nhất là tỉnh Cà Mau khoảng 79,62%.

Bảng 2. Nguy cơ ngập lụt khi nước biển dâng ở Đồng bằng sông Cửu Long theo
kịch bản Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2020.

Tỷ lệ ngập (% diện tích) theo mực nước biển dâng
Tỉnh/Thành Diện tích

phố (ha) 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100
cm cm cm cm cm cm cm cm cm cm

Long An 449.100 0,00 0,00 0,31 0,49 0,61 1,36 2,85 7,12 12,89 27,21
Tiền Giang 251.061 0,13 0,71 1,43 2,57 3,79 6,71 12,58 25,23 37,57 47,80

Bến Tre 239.481 0,55 1,43 2,52 4,08 6,74 10,19 15,11 21,46 27,83 35,11
Trà Vinh 235.826 0,50 0,61 0,89 1,28 2,29 4,95 11,51 22,22 32,79 43,88
Vĩnh Long 152.573 0,00 0,34 0,61 0,91 1,31 2,02 3,66 8,28 18,34 32,03
Đồng Tháp 337.860 0,00 0,00 0,17 0,21 0,36 0,69 0,96 1,28 1,94 4,64
An Giang 342.400 0,00 0,00 0,03 0,05 0,08 0,13 0,29 0,49 0,90 1,82
Cần Thơ 143.896 0,06 0,17 0,31 0,50 0,99 2,88 9,97 26,69 44,89 55,82
Hậu Giang 162.170 0,00 0,75 3,42 10,31 18,83 29,37 38,50 45,88 53,21 60,85
Sóc Trăng 331.188 1,78 2,91 5,13 8,32 11,32 14,97 20,25 26,91 33,13 55,41
Bạc Liêu 266.901 0,71 2,87 6,66 12,14 20,08 27,78 36,84 46,31 54,38 61,87
Cà Mau 522.119 7,21 14,06 20,17 28,73 40,31 48,05 56,81 64,42 73,58 79,62

7

Kiên Giang 634.878 0,66 3,38 12,63 23,67 36,82 48,85 75,68 66,16 71,69 75,68
Toàn khu


vực 4.069.453 1,29 2,97 5,92 9,86 14,86 19,69 27,94 31,94 38,80 47,29
ĐBSCL
Nguồn: Trích từ “Kịch bản Biến đổi khí hậu, Phiên bản cập nhật năm 2020”, Bộ

TN&MT
Hình 1. Bản đồ nguy cơ ngập ứng với mực nước biển dâng 100 cm, Vùng ĐBSCL.

Nguồn: Trích từ “Kịch bản Biến đổi khí hậu, Phiên bản cập nhật năm 2020”, Bộ
TN&MT.

Như vậy, theo các Kịch bản RCP4.5, RCP8.5 mực nước biển dâng có thể đạt 0,5m
vào cuối thế kỷ 21 và 1,0m sau năm 2100, trong khi Quy hoạch Vùng ĐBSCL chỉ đến
năm 2050, khi đó độ ngập chỉ khoảng 20-37cm (theo Kịch bản RCP8.5). Vì vậy, vùng
bị ngập vào năm 2050 sẽ nhỏ hơn nhiều.
2.2. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến vùng Đồng bằng sơng Cửu Long

8

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) gồm 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương, chiếm 12% diện tích, 19% dân số của cả nước, có mạng lưới sơng, kênh, rạch dày
đặc; có lợi thế về phát triển nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, du lịch, năng lượng
tái tạo; là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất của Việt Nam: đóng góp 50% sản
lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% các loại trái cây của cả nước; 95%
lượng gạo xuất khẩu và 60% sản lượng cá xuất khẩu; có vị trí thuận tiện trong giao
thương với các nước ASEAN và Tiểu vùng sông Mê Kông.

Trong bối cảnh tồn cầu hóa, hội nhập quốc tế, ĐBSCL có nhiều cơ hội phát triển
nhưng cũng đang đối mặt với nhiều thách thức. Biến đổi khí hậu (BĐKH) ngày càng
cực đoan, khó lường, tác động nhanh và manh so với các dự báo trước đây; đồng thời,

các hoạt đông khai thác tài nguyên nước ở thượng nguồn và nội vùng tiếp tục gia tăng;
tình trạng sụt lún đất, xâm thực biện, xói lở bờ sơng, bờ biển, thiếu nước, xâm nhập mặn
ngày càng nghiêm trọng, nguy cơ tác động tiêu cực đến toàn vùng.

Là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam, giúp Việt Nam trở thành một trong những quốc
gia xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới. Nếu như nơi đây có nguy cơ rủi ro tiềm ẩn
từ vấn đề xâm nhập mặn, hạn hán, lũ lụt và suy giảm bùn cát cũng như xói lở bờ biển
thì sự đe dọa đến nền an ninh lương thực, an ninh nguồn nước và sinh kế cho gần 21
triệu dân ở ĐBSCL. Đây là một trong những vấn đề rất nan giải.

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, tốc độ sụt lún trung bình là 0,96cm/năm, theo
đánh giá của các tổ chức quốc tế và nhóm nghiên cứu của Đại học Utrecht, Hà Lan và
đo đạc của Bộ Tài nguyên - Môi trường.

Bằng chứng là nền của toàn bộ ĐBSCL những năm trở lại đây đều bị sụt lún do
khai thác nước ngầm q mức. Cùng với đó là tình trạng biến đổi khí hậu và nước biển
dâng cao khoảng 0,35 cm/năm khiến nơi này bị ngập lụt là điều không thể tránh khỏi.
Do vậy, việc ĐBSCL ngày một bị nhấn chìm được dự đốn là một thực tế đang từng
ngày biểu hiện.

Bên cạnh đó, một nghiên cứu của Viện Khoa học thủy lợi miền Nam (Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn) cho thấy, hiện nay xâm nhập mặn ở vùng ĐBSCL diễn
ra sớm hơn từ 1-1,5 tháng so với những năm trước đây và thời gian diễn ra dài hơn. Độ
mặn đầu mùa khơ lớn hơn giữa mùa. Tình trạng này diễn ra ngược lại với quy luật xâm

9

nhập mặn trước đây. Độ mặn lớn nhất thường xuất hiện chủ yếu vào tháng 4 đến tháng
5 do ảnh hưởng của thủy triều ở Biển Đông, vùng Biển Tây hoặc cả hai. Số liệu thống
kê cho thấy, đợt hạn mặn lịch sử năm 2016 đã khiến 600.000 người dân ở ĐBSCL thiếu

nước sinh hoạt và 160.000ha đất bị nhiễm mặn.

Theo nhận định của Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, từ ngày 11-
20/2, ở thượng nguồn sông Mê Công và khu vực Nam Bộ phổ biến ít mưa, ban ngày trời
nắng.

Dự báo, xu thế xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long từ ngày 11-20/2 tiếp
tục tăng. Độ mặn cao nhất tại các trạm phổ biến ở mức tương đương độ mặn cao nhất
tháng 2/2022.

Trong thời kỳ dự báo (từ ngày 11-20/2), chiều sâu ranh mặn 1‰ trên sông Vàm
Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây: Phạm vi xâm nhập mặn 65-70km; Sông Cửa Tiểu, Cửa Đại:
Phạm vi xâm nhập mặn 50-55km; Sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên: Phạm vi xâm nhập
mặn 60-72km; Sông Hậu: Phạm vi xâm nhập mặn 55-60km; Sông Cái Lớn: Phạm vi
xâm nhập mặn 25-30km.

Chiều sâu ranh mặn 4‰ trên sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây: Phạm vi xâm nhập
mặn 40-45km; Sông Cửa Tiểu, Cửa Đại: Phạm vi xâm nhập mặn 40-47km; Sông Hàm
Luông, sông Cổ Chiên: Phạm vi xâm nhập mặn 50-55km; Sông Hậu: Phạm vi xâm nhập
mặn 40-45km; Sông Cái Lớn: Phạm vi xâm nhập mặn 20-25km.

Các chuyên gia khuyến cáo, các địa phương cần tranh thủ tích trữ nước ngọt khi
triều thấp để phục vụ nông nghiệp và dân sinh.

Dự báo xâm nhập mặn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long mùa khô năm 2022-2023
ở mức tương đương trung bình nhiều năm. Các đợt xâm nhập mặn có xu thế gia tăng bắt
đầu ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, dân sinh tập trung trong tháng 2 và 3/2023 (từ
ngày 18-24/2 và từ ngày 18/2-25/3); các sông Vàm Cỏ, Cái Lớn vào tháng 3 và 4/2023
(từ ngày 18-25/3 và từ ngày 17-23/4).


Tình hình xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long phụ thuộc vào nguồn nước
từ thượng nguồn sơng Mê Cơng, triều cường và cịn biến động trong thời gian tới. Các
địa phương ở vùng đồng bằng sông Cửu Long cần cập nhật kịp thời các thơng tin dự
báo khí tượng thủy văn và có các biện pháp chủ động phòng chống xâm nhập mặn.

10

Hình 2. Sơ đồ xâm nhập mặn vào mùa khô ở ĐBSCL giai đoạn 1998 - 2016 và
2020.

Nguồn: Royal HaskoningDHV - GIZ, MDIRP, Baseline Report, 2020.
Dưới tác động của biến đổi khí hậu, ở ĐBSCL, ước tính hàng trăm ngàn hecta đất
bị ngập, hàng triệu người có thể bị mất nhà cửa nếu nước biển dâng cao. Sản lượng
lương thực có nguy cơ giảm sút lớn, đe doạ tới an ninh lương thực của quốc gia. Diện
tích canh tác nơng nghiệp sử dụng nguồn nước ngọt như lúa, màu, cây ăn trái và nuôi
trồng thủy sản sẽ bị thu hẹp, năng suất và sản lượng sẽ suy giảm. Cá nước ngọt dự kiến
sẽ suy giảm vì diện tích đất đồng bằng và dịng sơng nhiễm mặn gia tăng. Ngược lại, cá
nước mặn, lợ sẽ phát triển. Diện tích ni tơm, sị và hải sản khác có thể sẽ gia tăng
trong tương lai. Các vùng tài nguyên rừng, đất, nước, sinh vật hoang dã, khoáng sản
(than bùn, cát đá xây dựng...) sẽ bị xâm lấn. Nông dân, ngư dân, diêm dân và thị dân
nghèo sẽ là đối tượng chịu nhiều tổn thương nặng nề do thiếu nguồn dinh dưỡng, thiếu
khả năng tài chính, thiếu điều kiện tiếp cận thơng tin để có thể đối phó kịp thời với sự
thay đổi của thời tiết và khí hậu.
Theo ước tính của Bộ Nơng nghiệp Việt Nam, đồng bằng mất khoảng 500 ha đất
mỗi năm do xói mịn. Ngồi ra, các hoạt động quản lý đất và nước không bền vững đang
gây ơ nhiễm cho hệ thống sơng ngịi và kênh rạch. Xâm nhập mặn ở thượng nguồn đã
tăng lên 4 gam/lít ở nhiều nơi, cao gấp 4 lần so với ngưỡng chịu đựng của các loại cây
trồng chính, gây ra cuộc khủng hoảng thiếu nước ngọt trên toàn khu vực. Trong khi biến

11


đổi khí hậu và mực nước biển dâng chịu trách nhiệm cho một số thay đổi này, các tác
động trực tiếp của con người như xây dựng đập ở thượng nguồn và khai thác cát và nước
ngầm quá mức cũng đang gây áp lực cho Đồng bằng.

12

Chương 3: GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Theo kịch bản của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố, đối với tác động của
BĐKH nếu mực nước biển dâng 100cm thì nguy cơ ngập cho ĐBSCL sẽ lên tới 47,29%
và khoảng 570.000ha lúa sẽ bị ngập và các khu vực chịu ảnh hưởng lớn của BĐKH là
Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng và Kiên Giang. Các ảnh hưởng của BĐKH cũng tác động
rất nặng nề như xâm nhập mặn cùng tác động của hạn hán sẽ ảnh hưởng đến khả năng
cung cấp nước ngọt, giảm chất lượng nước mặt, nước ngầm.
Dự báo trong thời gian tới, tình hình biến đổi khí hậu, thiên tai diễn biến nhanh;
các tác động dài hạn đã được dự báo, nhận diện, tuy nhiên những tác ngắn hạn là khó
lường, khó dự báo do tính thất thường, cực đoan. Vì vậy, trong giai đoạn 2021 - 2025,
tầm nhìn đến 2030, Bộ Tài ngun và Mơi trường đề xuất phát triển nông nghiệp theo 3
tiểu vùng có xem xét đến các hệ sinh thái nơng nghiệp trong từng tiểu vùng:
Vùng thượng đồng bằng: phát triển nền nông nghiệp đa dạng, có tính đến thích
ứng với lũ cực đoan; là vùng trọng điểm về sản xuất lúa và cá tra theo hướng hiện đại,
bền vững; là vùng đóng vai trị điều tiết và hấp thu lũ cho ĐBSCL.
Vùng giữa: phát triển nông nghiệp miệt vườn điển hình, là trung tâm chuyên canh
trái cây lớn nhất của Vùng và cả nước; phát triển một số vùng lúa gạo tập trung, thủy
sản nước ngọt, rau màu, cây công nghiệp và thủy sản nước lợ.
Vùng ven biển: phát triển nền nông nghiệp dựa chính vào nước mặn và lợ, phát
huy lợi thế thủy sản; luân canh mặn - ngọt phù hợp điều kiện đặc thù theo mùa; tập trung
phát triển hệ thống nông - lâm kết hợp theo hướng sinh thái, hữu cơ, kết hợp du lịch sinh
thái.
Cùng với việc đề xuất chia thành các tiểu vùng, thì ĐBSCL cũng cần xoay trục

chiến lược sang thủy sản - trái cây - lúa gạo; tăng tỷ trọng giá trị sản xuất thủy sản và
trái cây, giảm tỷ trọng lúa gạo. Thúc đẩy tập trung, tích tụ đất đai hình thành các hộ nơng
dân quy mơ lớn, tổ chức nông hộ thành các hợp tác xã kiểu mới, liên kết với doanh
nghiệp. Phát triển các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật cho vùng chuyên canh, các khu, cụm
công nghiệp chế biến, các trung tâm dịch vụ hậu cần, chuỗi lạnh.
Bên cạnh đó, một số biện pháp quản lý ngập triều, nước biển dâng và xói lở bờ
biển như:

13

Thiết kế và triển khai các cơng trình thủy lợi để hỗ trợ sản xuất, đặc biệt là nuôi
thủy sản nước lợ, nước mặn và đảm bảo an toàn cho cộng đồng trước ngập triều.

Hoàn thiện, nâng cấp và bảo trì đê biển và cửa cống phù hợp với điều kiện môi
trường từng khu vực.

Xây dựng và vận hành các kênh phù hợp cho nuôi thủy sản nước lợ, nước mặn ở
các khu vực bên trong đê biển; tách kênh dẫn nước sạch và kênh thốt nước thải từ khu
vực ni thủy sản.

Xây dựng hệ thống cống điều khiển dịng mặn, ngọt thích hợp trên hệ thống kênh
trục, sơng cụt,.. biến lịng dẫn của chúng thành hệ thống hồ chứa nước hoạt động “lưu
động theo thời gian và nhịp điệu của từng con triều” để kiểm sốt mặn, tích nước ngọt.

Phục hồi, trồng mới, bảo vệ vành đai rừng ngập mặn bên ngoài đê biển, với mật
độ và chiều cao phù hợp để làm giảm sóng do thủy triều và bão. Bảo tồn và mở rộng
diện tích rừng ngập mặn ở các tỉnh ven biển từ Tiền Giang đến Cà Mau; đảm bảo phục
hồi dải rừng ngập mặn ven biển với độ rộng trên 500m ở các khu vực đã từng là rừng
ngập mặn.


Lập các cơng trình chắn sóng để ngăn ngừa xói lở bờ Biển Đông và Biển Tây; tăng
cường các biện pháp lắng đọng trầm tích, bảo vệ đê biển.

Ở các khu vực có nguy cơ cao: cần thực hiện chương trình di dời sớm và sắp xếp
lại các khu dân cư để ngăn ngừa hậu quả do ngập triều cực đoan, nước dâng và rủi ro do
xói lở bờ sơng, bờ biển.

Hình 3. Mơ hình sống chung với biến đổi khí hậu của người dân vùng ĐBSCL.

Nguồn: IHRCE.ORG.COM

14

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020), Kịch bản Biến đổi khí hậu, Phiên bản cập

nhật năm 2020.

2. DAVID BROWN (03/10/2016), Will climate change sink the Mekong Delta?,

Truy cập từ: g/2016/10/will-climate-change-

sink-the-mekong-delta/?_x_tr_sl=en&_x_tr_tl=vi&_x_tr_hl=vi&_x_tr_pto=sc.

3. Koos Neefjes, Lê Trình, Tác động của nước biển dâng, xâm nhập mặn do biến

đổi khí hậu đến vùng đồng bằng sơng Cửu Long giai đoạn đến đến năm 2050 và các

giải pháp ứng phó, Truy cập từ:


/>
dong-cua-nuoc-bien-dang-xam-nhap-man-do-bien-doi-khi-hau-den-vung-dong-bang-

song-Cuu-Long-giai-doan-den-den-nam-2050-va-cac-giai-phap-ung-pho-324

4. Liên Hợp Quốc Việt Nam (18/03/2022), Nguyên nhân và ảnh hưởng của

biến đổi khí hậu, Truy cập từ: />
nh%C3%A2n-v%C3%A0-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-

c%E1%BB%A7a-bi%E1%BA%BFn-%C4%91%E1%BB%95i-kh%C3%AD-

h%E1%BA%ADu

5. Ngọc Anh (09/04/2023), Xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long gia tăng,

Truy cập từ: />
post738260.html.

6. The World Bank (21/10/2021), For Mekong Delta Farmers, Diversification is

the Key to Climate Resilience, Truy cập từ: https://www-worldbank-

org.translate.goog/en/news/feature/2021/10/21/for-mekong-delta-farmers-

diversification-is-the-key-to-climate-

resilience?_x_tr_sl=en&_x_tr_tl=vi&_x_tr_hl=vi&_x_tr_pto=sc.


15


×