Tải bản đầy đủ (.pdf) (16 trang)

Tác động của biến đổi khí hậu đến an sinh xã hội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.07 MB, 16 trang )

ĐẠI HỌC QÚÔC GIA TH̀ANH PH́Ô H̀Ô CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

KHOA M̂OI TRỪƠNG V̀A T̀AI NGUŶEN

TIỂU LUẬN CÁ NHÂN

MÔN HỌC: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

ĐỀ TÀI

TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN AN
SINH XÃ HỘI

Họ và tên: Trần Huy Thanh Phúc GVHD: PGS.TS. Võ Lê Phú
TS. Võ Thanh Hằng

MSSV: 1914716

Thành phố Hồ Chí Minh – 2023

MỤC LỤC

Danh mục những cụm từ viết tắt................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ........................................................................................................ 2

1.1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................................. 2
1.2. Mục tiêu của đề tài, đối tượng và phạm vi nghiên cứu....................................................... 3
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT ............................................................................................ 4
2.1. Khái niệm an sinh xã hội .................................................................................................... 4
2.2. Các bộ phận của an sinh xã hội ........................................................................................... 4


2.3. Tình hình an sinh xã hội tại Việt Nam................................................................................. 6
CHƯƠNG 3. TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN AN SINH XÃ HỘI ................. 7
3.1 Thực trạng............................................................................................................................. 7
3.2. Một số giải pháp hướng tới phòng ngừa, giảm thiểu rui ro thiên tai ................................... 9
3.3. Một số biện pháp khắc phục rủi ro thiên tai ...................................................................... 10
CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN .......................................................................................................... 13
Tài liệu tham khảo ...................................................................................................................... 14

Danh mục bảng biểu
Bảng 2.1 Kết quả thực hiện trợ cấp xã hội thường xuyên giai đoạn 2006-2011…………..8
Danh mục những cụm từ viết tắt

STT Ký hiệu Chữ viết đầy đủ
1 BĐKH Biến đổi khí hậu
2 ASXH An sinh xã hội
3 ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
4 XHCN Xã hội chủ nghĩa
5 MTQG Mục tiêu quốc gia
6 GIEC Liên minh Công nghiệp môi trường Georgia
7 WMO Tổ chức Khí tượng thế giới
8 ILO Tổ chức Lao động quốc tế
9 UNDP Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc

1

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN

1.1. Lý do chọn đề tài
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự thay đổi trạng thái khí ĥạu có thể xác định tĥong qua các
thay đổi về giá trị trung bình hŏạc biến thîen (dao đ̂ọng) của các yếu tố khí hậu trong một

thời gian dài, có thể hàng tĥạp kỷ hŏạc l̂au hơn (IPCC, 2007).

Theo những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, sự biến đổi khí hậu trong thời gian
gần đây trên thế giới đã có sự gia tăng nhiều mặt. Nếu tính từ thời kỳ tiền công nghiệp
(1870), nhất là từ 1980 đến nay, song hành với sự phát triển của công nghiệp, con người
thông qua các hoạt động như đốt các nhiên liệu hoá thạch, khai thác hầm mỏ, đất đai,
rừng cây; xử lý các chất thải... đã và đang làm tăng dung lượng và nồng độ các khí nhà
kính trong khí quyển, làm nhiệt độ trái đất tăng nhanh với tốc độ chưa từng có so với
trước đây. Những kết quả nghiên cứu còn cho thấy trong 100 năm qua nhiệt độ trung bình
tồn cầu tăng khoảng 0,6oC và mực nước biển dâng khoảng 20cm. Nếu việc phát khí thải
nhà kính tiếp tục với tốc độ như hiện nay thì nhiệt độ trung bình tồn cầu có thể tăng
thêm 1,14oC vào năm 2050, tương ứng mực nước biển sẽ tăng thêm là 0,5m và năm 2100
tăng thêm 3oC, tương ứng mực nước biển sẽ tăng thêm 0,9m. Liên minh công nghiệp môi
trường Georgia (GIEC) - một tổ chức của Mỹ đặt tại bang Georgia đã cho biết các năm
2007, 2008 và 2009 là 3 trong 10 năm nóng nhất trong 100 năm qua. Mới đây, Tổ chức
Khí tượng thế giới (WMO) cơng bố báo cáo cho biết năm 2009 là một trong những năm
nóng nhất thế giới. Hiện tượng bão tuyết lớn bất thường và băng giá quá lạnh ở các vùng
Bắc bán cầu cũng như hiện tượng nóng nắng kéo dài cùng với bão lụt có cường độ lớn ở
các vùng Nam bán cầu là những biểu hiện trực tiếp của sự biến đổi khí hậu trong thời
gian gần đây.

Liên quan đến ASXH, biến đổi khí hậu có ảnh hưởng khơng chỉ đến bản thân con người
mà còn đến những điều kiện sản xuất và sinh sống của con người. Biến đổi khí hậu có
ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại của một bộ phận cư dân trên thế giới. Nhiều quốc đảo
nhỏ, nhiều vùng biển thấp sẽ bị ngập thậm chí bị xố tên trên bản đồ thế giới khi nước
biển dâng. Khi đó hàng trăm triệu người đứng trước nguy cơ không chỉ thiếu đất đai canh
tác mà còn phải di cư, thay đổi điều kiện sinh hoạt của mình. Việt Nam là quốc gia được
cảnh báo là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất thế giới do nước biển
dâng dưới tác động của biến đổi khí hậu.


Theo kịch bản biến đổi khí hậu, nếu mực nước biển dâng 100cm sẽ có 16,8% diện tích
đồng bằng sơng Hồng, 4,79% diện tích tỉnh Quảng Ninh, 1,47% diện tích đất các tỉnh ven
biển miền Trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, 17,8% diện tích TP.HCM, 4,79% diện
tích tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có nguy cơ bị ngập. ĐBSCL là khu vực có nguy cơ ngập cao
(38,9% diện tích).

Hiện nay, diện tích đất gieo trồng của Việt Nam là khoảng 9,4 triệu hecta (trong đó có 4
triệu hecta đất trồng lúa). Nếu mực nước biển dâng thêm 1m thì Việt Nam sẽ bị mất đi

2

khoảng hơn 2 triệu hecta đất trồng lúa (khoảng 50%). Điều này đồng nghĩa với việc
người dân mất đất sản xuất, mất đi sinh kế, kéo theo đó là gia tăng nghèo, đói.
Theo số liệu của Tổng cục Thủy lợi, vụ đơng – xn năm 2015 – 2016 có 104.000 ha lúa
bị ảnh hưởng nặng đến năng suất do xâm nhập mặn, chiếm 11% số diện tích gieo trồng
của 8 tỉnh ven biển. Tại các tỉnh ĐBSCL, nhiễm mặn ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng
và giảm năng suất lúa, trung bình giảm tới 20% – 25%, thậm chí tới 50%. Người dân
trồng lúa, trồng cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản đứng trước nguy cơ bị mất sinh kế, mất
việc làm, mất thu nhập và rất có thể sẽ bị buộc phải trở thành người dân “tị nạn môi
trường”, những người buộc phải di cư kiếm sống do khơng thể canh tác trên chính mảnh
đất của mình…
Trong thời gian tới để ứng phó với BĐKH, bộ ngành Lao động – Thương binh và Xã hội
trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về an sinh xã hội cần phải chủ động phối
hợp với các ngành có liên quan xây dựng kế hoạch cụ thể và đưa ra những giải pháp
nhằm đảm bảo an sinh xã hội trước tác động của BĐKH trên cả ba phương diện: phòng
ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro. Thế nên, đề tài này sẽ tập trung vào khía cạnh tác
động của BĐKH, phân tích tác động đến an sinh xã hội và đẩy mạnh hỗ trợ sinh kế cho
người dân . Từ đó đề xuất các biện pháp phịng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro của
BĐKH đến an sinh xã hội. Vì thế tơi lựa chọn thực hiện nghiên cứu đề tài: “Tác động của
biến đổi khí hậu đến anh sinh xã hội”.

1.2. Mục tiêu của đề tài, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở dữ liệu, phân tích mức độ ảnh hưởng của BĐKH đến an sinh xã hội Việt Nam
giai đoạn 2006-2011.
Đề xuất các biện pháp phòng ngừa, giảm thiếu và khắc phục rủi ro của thiên tai, tìm hiểu
chính sách đảm bảo an sinh xã hội, nghiên cứu và xây dựng các mô hình nhằm đảm bảo
mức sống tối thiểu có tính đến các đối tượng bị thiệt hại do thiên tai.

3

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Khái niệm an sinh xã hội

Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đang sử dụng: ASXH là sự bảo vệ của xã hội đối
với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại
những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau,
thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các
chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đơng con.

Theo quan điểm của Đảng, nhà nước ta, an sinh xã hội là hệ thống các chính sách và
chương trình do Nhà nước và các lực lượng xã hội thực hiện nhằm bảo đảm cho mọi
người dân ít nhất có được mức tối thiểu về thu nhập, có cơ hội tiếp cận ở mức tối thiểu về
các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu, như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin,...
thông qua việc nâng cao năng lực tự an sinh của người dân và sự trợ giúp của Nhà nước.
Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng, toàn diện, từng bước mở rộng diện bao phủ,
có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế
hệ và giữa các thế hệ đang là đích đến của các quốc gia trên thế giới.

Như vậy, về mặt bản chất, ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các
công dân trong xã hội. Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp cơng cộng.

Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy mang tính xã
hội và tính nhân văn sâu sắc.

2.2. Các bộ phận của an sinh xã hội
2.2.1. Bảo hiểm xã hội

Đây là bộ phận lớn nhất trong hệ thống ASXH. Có thể nói, khơng có BHXH thì khơng
thể có một nền ASXH vững mạnh. Theo nghĩa hẹp, cụ thể, có thể hiểu BHXH là sự bảo
đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm
khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc
làm, thơng qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên
tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần bảo đảm an tồn đời sống của người lao động
và gia đình họ; đồng thời góp phần bảo đảm an tồn xã hội.

BHXH có những điểm cơ bản là: BHXH dựa trên nguyên tắc cùng chia sẻ rủi ro giữa
những người tham gia; địi hỏi tất cả mọi người tham gia phải đóng góp tạo nên một quỹ
chung; các thành viên được hưởng chế độ khi họ gặp các “sự cố” và đủ điều kiện để
hưởng; chi phí cho các chế độ được chi trả bởi quỹ BHXH; nguồn quỹ được hình thành
từ sự đóng góp của những người tham gia, thường là sự chia sẻ giữa chủ sử dụng lao
động và người lao động, với một phần tham gia của Nhà nước; đòi hỏi tham gia bắt buộc,
trừ những trường hợp ngoại lệ; phần tạm thời chưa sử dụng của Quỹ được đầu tư tăng

4

trưởng, nâng cao mức hưởng cho người thụ hưởng chế độ BHXH; các chế độ được bảo
đảm trên cơ sở các đóng góp BHXH, khơng liên quan đến tài sản của người hưởng
BHXH; các mức đóng góp và mức hưởng tỷ lệ với thu nhập trước khi hưởng BHXH…

2.2.2. Trợ giúp xã hội
Đó là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu

khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo
đói, khơng đủ khả năng để tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình.
Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng và xã hội bằng tiền hoặc bằng các điều
kiện và phương tiện thích hợp để đối tượng được giúp đỡ có thể phát huy khả năng tự lo
liệu cuộc sống cho mình và gia đình, sớm hịa nhập trở lại với cuộc sống của cộng đồng.

2.2.3. Trợ cấp gia đình
-Trong hệ thống ASXH của nhiều nước quy định chế độ BHXH dựa trên những nhu cầu
đặc biệt và có những chi phí bổ sung gắn với gia đình.
- Những phương pháp áp dụng bao gồm việc sử dụng cơ cấu thuế để gắn với trách nhiệm
gia đình. Người khơng có con phải nộp thuế cao hơn những người có con; người ít con
phải nộp thuế nhiều hơn người đơng con…

2.2.4. Các quỹ tiết kiệm xã hội
Ngoài BHXH, trong hệ thống ASXH của nhiều nước có tổ chức các quỹ tiết kiệm dựa
trên đóng góp cá nhân.
- Những đóng góp được tích tụ dùng để chi trả cho các thành viên khi sự cố xảy ra. Đóng
góp và khoản sinh lời được chi trả một lần theo những quy định.
- Từng cá nhân nhận khoản đóng góp của mình và khoản sinh lời, không chia sẻ rủi ro
cho người khác…

2.2.5. Các dịch vụ xã hội được tài trợ bằng nguồn vốn công cộng
- Trợ cấp cơ bản cho mọi cư dân, hoặc tất cả những người đã từng làm việc trong một
khoảng thời gian nhất định.
- Trợ cấp này không liên quan đến tài sản trước đó của người thụ hưởng; các chế độ được
chi trả từ ngân sách Nhà nước.

2.2.6. Trách nhiệm từ chủ sử dụng lao động
- Thường chỉ là hệ thống tai nạn nghề nghiệp hoặc hệ thống đền bù cho người lao động.
- Chủ yếu liên quan đến tai nạn tại nơi làm việc và bệnh nghề nghiệp.


5

- Trách nhiệm của chủ sử dụng lao động đối với chăm sóc y tế và bồi thường tuỳ theo
mức độ tai nạn và bệnh nghề nghiệp.
- Có thể bao gồm một phần để chi trả chế độ cho người lao động trong thời gian ngừng
việc (nằm trong chế độ BHXH).
2.2.7. Dịch vụ xã hội khác
- Quy định thêm về ASXH dưới các hình thức khác.
2.3. Tình hình an sinh xã hội tại Việt Nam
Đến nay, công tác bảo đảm an sinh xã hội ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập và yếu kém:
giảm nghèo chưa bền vững, người dân ở vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa cịn
nhiều khó khăn, phân hóa giàu nghèo, phân hóa giữa các vùng miền có xu hướng mở
rộng. Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn, ở vùng đô thị hóa và thất nghiệp ở thành thị
cịn nhiều. Nguồn lực để thực hiện an sinh xã hội còn hạn chế, chủ yếu dựa vào ngân sách
nhà nước, với diện bao phủ và mức hỗ trợ thấp, chưa theo kịp với sự phát triển của nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN. Khả năng cân đối giữa nguồn và sử dụng của hệ
thống an sinh xã hội, kể cả các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các chế độ bảo trợ
xã hội còn hạn chế và gặp thách thức lớn cả trước mắt, cũng như trong trung và dài hạn.
Các quỹ bảo hiểm xã hội, đặc biệt là quỹ bảo hiểm y tế ở trong tình trạng báo động trong
tương lai gần. Nguồn lực đầu tư cho an sinh xã hội của Nhà nước khó đáp ứng được yêu
cầu an sinh xã hội ngày càng tăng của người dân, trong khi đó huy động từ các nguồn
khác, đặc biệt từ cộng đồng còn hạn chế, nhất là vùng nơng thơn. Các hình thức bảo hiểm
chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người dân; chất lượng các dịch vụ nhìn chung
cịn thấp, vẫn xảy ra khơng ít tiêu cực, phiền hà. Một số chính sách an sinh xã hội còn tồn
tại những bất hợp lý; chưa có các chính sách an sinh xã hội đặc thù và phù hợp với dân
cư nông thôn và các vùng dân tộc, miền núi có điều kiện sống khó khăn. Chất lượng cung
cấp các dịch vụ an sinh xã hội, đặc biệt là dịch vụ y tế, còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội và sự gia tăng mức sống của dân cư. Hệ thống hành chính,
sự nghiệp cung cấp dịch vụ an sinh xã hội chưa theo kịp yêu cầu phát triển, còn hạn chế

trong năng lực tổ chức và quản lý đối với các loại hình an sinh xã hội.

6

CHƯƠNG 3. TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN AN SINH
XÃ HỘI

3.1 Thực trạng

3.1.1. Lao động – việc làm

Một nghiên cứu của Viện Khoa học Lao động và Xã hội (2010) đánh giá tác động của
BĐKH dựa trên tác động khung sinh kế đối với một số lĩnh vực chủ yếu như việc làm và
giảm nghèo cho thấy, các tác động chủ yếu của BĐKH đến lao động, việc làm gồm như
vấn đề di cư, thay đổi cơ cấu lao động; vấn đề mất và thay đổi chất lượng việc làm. Có sự
tác động, ảnh hưởng của thời tiết đến sự khan hiếm, khó khăn về điều kiện sản xuất dẫn
đến sự di cư xen lẫn vào các dịng di cư nơng thơn – thành thị và sự dịch chuyển lao động
từ việc làm nông nghiệp sang việc làm phi nông nghiệp (như thương mại, dịch vụ, công
nghiệp, tiểu thủ công vốn tồn tại theo xu hướng góp phần tạo nên nhiều sinh kế ít rủi ro
với thiên tai hơn).

BĐKH những năm gần đây đã ảnh hưởng tiêu cực đến việc làm và thu nhập của lao động
trong hầu hết các ngành kinh tế, trong đó các ngành nông - lâm - ngư nghiệp bị ảnh
hưởng trầm trọng nhất. Các tác động tiêu cực của BĐKH đến nông nghiệp, đặc biệt đến
ngành trồng trọt là một động lực thúc đẩy sự dịch chuyển lao động từ trồng trọt sang nuôi
trồng thủy sản, nghề muối và từ nông nghiệp sang các hoạt động phi nông nghiệp. Việc
chuyển dịch lao động ở các vùng bị tác động của BĐKH chủ yếu dựa vào sự nỗ lực của
người dân. Nhiều mơ hình chuyển đổi sinh kế của người dân khá thành cơng như cải tạo
diện tích trồng lúa bị xâm nhập mặn thành đầm nuôi tôm, thay đổi giống cây trồng chịu
mặn, chịu hạn. Nhiều lao động đã phải chuyển đổi ngành nghề, di cư ra thành phố hay

các vùng cơng nghiệp để tìm việc làm. Vấn đề cần quan tâm là phần lớn lao động nông
nghiệp chủ yếu chưa qua đào tạo nên việc tìm kiếm việc làm và chuyển đổi ngành nghề là
rất khó khăn, họ phải làm các công việc giản đơn trong các khu công nghiệp, hay lao
động tự do với điều kiện làm việc không tốt và thu nhập bấp bênh. Nhiều chuyên gia, nhà
nghiên cứu cho rằng mảng tác động lớn nhất của biến đổi khí là an sinh xã hội, đặc biệt là
đến người nghèo và các nhóm yếu thế đối với sức khỏe, sinh mạng, tài sản, tư liệu sản
xuất và thậm chí cả phương thức, tập tục canh tác của nhóm đối tượng này, làm cho vốn
sinh kế của người nghèo càng bị rủi ro và suy giảm nhiều.

Tác động của BĐKH đến lao động, việc làm đã chỉ ra hai xu hướng tác động, đó là (i)
BĐKH làm cho việc làm trong nông nghiệp bấp bênh hơn, rủi ro hơn và điều kiện việc
trở nên tồi tệ hơn; (ii) BĐKH làm một bộ phận lao động phải chuyển đổi việc làm, giảm
thời gian làm việc, giảm thu nhập và làm tăng lượng lao động di cư của địa phương.
Nghiên cứu gần đây của Viện KHLĐ&XH (2011) về tác động của BĐKH đến việc làm

7

của tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2006-2010 cho thấy, do ảnh hưởng của thời tiết cực đoan làm
giảm tiềm năng tạo việc làm bình quân khoảng 0.22%/năm tương đương với khaorng
1400 chỗ việc làm mỗi năm.

3.1.2. Nghèo đói và cơng tác giảm nghèo

Báo cáo về sự phát triển của con người năm 2007/2008 (UNDP) chỉ ra rằng “Rủi ro do
BĐKH sẽ tác động đến 40% những người nghèo nhất của thế giới – vào khoảng 2.6 tỷ
người – bị giảm hoặc mất cơ hội trong tương lai”

Nghiên cứu gần đây tại Hà Tĩnh và Ninh Thuận còn cho thấy một nghịch lý (nhưng thực
tế) là xét về tổn thất dài hạn, người nghèo lại thấy ít bị tổn hại hơn so với acsc hộ gia đình
khá giả. “Khoảng 44% số hộ nghèo thấy có ảnh hưởng lâu dài trong khi có 74% hộ có

mức sống trung bình và khá giả cho rằng chịu ảnh hường lâu dài của thiên tai”. Điều
này được lý giải bằng bằng chứng là người nghèo thì ít tài sản hươn và đầu tư cho sản
xuất cũng ít hơn nên thiệt hại ít hơn. Tuy nhiên, nếu đánh giá theo mức độ tổn thương và
khả năng phục hồi thì xảy ra theo hướng ngược lại.

Về cơ bản có mối liên hệ giữa các điều kiện khí hậu khắc nghiệt và mức độ nghèo đói sẽ
càng trở nên trầm trọng hơn. Sinh kế của người nghèo bị phụ thuộc vào các hệ sinh thái
dẫn đến sự rủi ro của chính họ.
Hơn nữa, người nghèo thường tập trung ở các vùng có điều kiện khó khăn về thời tiết, địa
hình và các điều kiện sản xuất cũng hạn chế khiến họ khó có điều kiện để thốt nghèo,
trong khi nhóm cận nghèo cũng dễ rơi vào nghèo đói. Người nghèo, người dân tộc thiểu
số là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trước các rủi ro do BĐKH gây nên.

3.1.3. Tác động của BĐKH đến phụ nữ và trẻ em

Những điểm quan trọng khi phân tích tác động của BĐKH dưới góc độ giới cho thấy, phụ
nữ và nam giới đối mặt với những tác động của BĐKH trong các điều kiện không giống
nhau, thấy phụ nữ thường chịu nhiều tác động của BĐKH hơn nam giới. Sự gia tăng bất
bình đẳng về giới do cacsinh kế của phụ nữ ngày càng phụ thuộc vào môi trường và điều
kiện khí hậu, thời thiết. Phụ nữ và trẻ em gái thường phải đảm nhiệm việc nội trợ, giáo
dục con cái và lo thực phẩm cho gia đình. Trong bối cảnh BĐKH ngày càng gia tăng
khiến họ bị giảm cơ hội được giải phóng và bình đẳng.

Trẻ em, đặc biệt là trẻ em các vùng có khí hậu khắc nghiệt bị ảnh hưởng cả về sức khỏe
và điều kiện kinh tế hộ gia đình thấp kém, bị hạn chế hoặc khơng được đảm bảo 4 quyền
cơ bản (sống cịn, phát triển, bảo vệ và tham gia).

Thực tế cho thấy, những nạn nhân bị chết trong các trận lũ lụt thường là trẻ em, người
già, người tàn tật,… vì họ khơng có khả năng nhận biết, phản ứng, đối phó kịp thời như


8

những đối tượng khác. Các rủi ro là cực kỳ cao đối với phụ nữ và trẻ em ở các vùng lũ
lụt.
⇨ Vì vậy, hậu quả là BĐKH làm ảnh hưởng xấu đến sản xuất, nguồn lực và điều kiện
sống của người dân trên các khía cạnh: An tồn sức khỏe, và sinh mạng; Điều kiện sống:
Cư trú và tiếp cận các dịch vụ cơ bản đặc biệt là nước sạch cho sinh hoạt; Nguồn lực,
điều kiện sản xuất: suy giảm chất lượng, mất hoặc giảm sinh kế của người dân, đặc biệt là
người nghèo, lao động nông nghiệp các vùng dễ bị tổn thương .
Để giảm thiểu các rủi ro do BĐKH, mặc dù điều kiện kinh tế còn khó khăn, nguồn ngân
sách hạn hẹp, trong khi số lượng đối tượng bảo trợ xã hội ngày một tăng, song Đảng và
Nhà nước ta vẫn không ngừng chăm lo công tác bảo trợ xã hội với số lượng kinh phí tăng
đều qua các năm và chiếm tỷ lệ đáng kể trong chi tiêu của ngân sách cho chính sách an
sinh xã hội (năm 2011 chiếm tới 10,1%). Tại các địa phương cũng đã từng bước đảm bảo
nguồn ngân sách theo yêu cầu để đảm bảo thực hiện chính sách an sinh xã hội – đây
được xem là một trong những động thái tích cực trong lĩnh vực an sinh xã hội trước nguy
cơ BHKH như hiện nay.

Bảng 2.1. Kết quả thực hiện trợ cấp xã hội thường xuyên giai đoạn 2006-2011

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Báo cáo kinh
tế - xã hội thường niên.

3.2. Một số giải pháp hướng tới phòng ngừa, giảm thiểu rui ro thiên tai
Để đối phó với các tác động nên trên, ngành LĐTBXH cần có các giải pháp lồng ghép
chính sách đảm bảo an sinh xã hội cho người dân trước tác động của BĐKH. Mục tiêu
của các giải pháp phải đảm bảo (i) an ninh con người: Vấn đề liên quan là đảm bảo sinh
mạng trước tác động của thiên tai; (ii) điều kiện sống: Đảm bảo các điều kiện cư ngụ và
tiếp cận các dịch vụ cho dân cư; và (iii) sinh kế: Phục hồi, cải thiện và đa dạng các điều
kiện sinh kế để đảm bảo đời sống người dân các vùng dễ bị tổn thương.


9

Thứ nhất, đẩy mạnh việc hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề cho nông dân, tập trung thực
hiện Đề án 1956 theo hướng cung cấp đầy đủ thông tin cho người lao động về các kế
hoạch, qui hoạch để người dân tự lựa chọn nghề học thông qua các mô hình phân tích
sinh kế. Đào tạo nghề để chuyển đổi việc làm cần tập trung vào: (i) chuyển sang hoạt
động phi nông nghiệp và (ii) sản xuất thâm canh nhằm gia tăng giá trị sử dụng đất và
mặt nước.

Thứ hai, cần đẩy mạnh cho vay vốn tạo việc làm trong khn khổ Chương trình MTQG
về việc làm và dự án hỗ trợ vay tín dụng ưu đãi tạo việc làm trong Chương trình MTQG
Giảm nghèo theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên cho những vùng chịu tác động
của BĐKH và nước biển dâng. Gắn chặt hỗ trợ vay tín dụng với dạy nghề, khuyến nơng,
lâm ngư. Lấy hiệu quả sử dụng vốn vay dựa trên kết quả cuối cùng làm tiêu chuẩn để
phân bổ nguồn lực. Ngoại trừ những địa bàn cần di dân bắt buộc thì chiến lược thích ứng
là hướng cần được ưu tiên.

Thứ ba, có kế hoạch hỗ trợ di chuyển và ổn định sản xuất của các doanh nghiệp: Nước
biển dâng, diện tích đất của các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp bị thu hẹp, cơ hội việc làm
cho người lao động sẽ giảm đi. Do đó cần có chính sách hỗ trợ về tín dụng, cơ sở hạ tầng
để doanh nghiệp ổn định sản xuất trong thời gian dài.
Thứ tư, tăng cường hoạt động tư vấn và giới thiệu việc làm gắn với nhu cầu thực cần
chuyển đổi việc làm của nông dân. Mở rộng truyền thơng đến những vùng khó khăn,
những địa bàn có nhiều nguy cơ chịu tác động của nước biển dâng.

Cần có chính sách cụ thể để hỗ trợ nơng dân mua bảo hiểm hưu trí: Xác định đối tượng
ưu tiên và mức hỗ trợ dựa trên các tiêu chuẩn về (i) độ tuổi; (ii) khả năng chi trả; (iii)
mức sống tối thiểu. Đảm bảo rằng mọi người dân có thể sống bằng nguồn thu nhập của
chính mình; Hỗ trợ nông dân mua bảo hiểm cây trồng, vật nuôi: Thử nghiệm, tiến tới mở

rộng đề án hỗ trợ nông dân mua bảo hiểm nơng nghiệp do Bộ Tài chính đang thực hiện
để khi rủi ro xẩy ra, đời sống của người dân vẫn được đảm bảo và có khả năng tái sản
xuất. Ở đây cũng cần xây dựng bộ chỉ tiêu để ưu tiên hỗ trợ chính sách; Hỗ trợ xây dựng
các khu định cư ổn định để di chuyển người dân ra khỏi những địa bàn bị rủi ro cao nhất
do hiện tượng nước biển dâng mà trước hết là những địa bàn chịu ảnh hưởng lớn do triều
cường. Việt Nam cũng không ngoại lệ trong các quốc gia bị ảnh hưởng của sóng thần.

3.3. Một số biện pháp khắc phục rủi ro thiên tai
Để đảm bảo điều kiện sống tối thiểu của người dân như: ăn, ở, học tập, chăm sóc y tế,
nước sạch, thơng tin . . . trước nguy cơ nước biển dâng, cần có nghiên cứu qui hoạch sử
dụng, khai thác các nguồn nước ngọt nhằm ổn định đời sống cho người dân.

Nghiên cứu đề xuất mở rộng diện thụ hưởng theo quy định tại Nghị định 13/2010/NĐ-CP
trên cơ sở xây dựng một bộ chỉ tiêu xác định đối tượng thụ hưởng trợ giúp đột xuất do

10

thiên tai nói chung và do nước biển dâng nói riêng dẫn đến mất nguồn sinh kế của người
dân. Dần dần mở rộng đối tượng thụ hưởng và mức hỗ trợ, lấy mức sống tối thiểu làm cơ
sở để xác định mức hỗ trợ.

Xây dựng cơ chế hỗ trợ và khuyến khích xây dựng các quĩ cứu trợ đột xuất tại
xã/phường, thôn/bản để người dân và địa phương chủ động linh hoạt đối phó với những
rủi ro gây ra trước tình trạng này.

Một trong những kinh nghiệm đã thực hiện thành công của quốc tế mà chúng ta nên xem
xét áp dụng là chương trình việc làm cơng và đột phá vào đào tạo nghề. Phát triển mạnh
mẽ các chương trình việc làm cơng nhằm xây dựng các cơng trình cơng cộng (đê điều,
đập chắn sóng, các cơng trình thủy lợi…) để ứng phó với BĐKH và đào tạo nghề nhằm
chuyển đổi việc làm và xóa đói giảm nghèo.


Đồng thời cần quán triệt tinh thần của Nghị quyết số 15/NQ-TW ngày 01/6/2012 của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn
2012-2020 và Nghị quyết số 70/NQ-CP ngày 01/11/2012 của Chính phủ ban hành
chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 15/NQ-TW nêu trên,
trong đó cần tiếp tục chú trọng một số nhiệm vụ sau:

- Một là, nghiên cứu, khảo sát; đánh giá, dự báo và đề xuất các giải pháp ứng phó
với tác động của biến đổi khí hậu đến lĩnh vực an sinh xã hội: Thu thập, xử lý và
lưu trữ thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu ban đầu về tác động của biến đổi khí hậu
đến các lĩnh vực lao động, bảo trợ xã hội, trẻ em; Phân tích, đánh giá, dự báo tác
động của biến đổi khí hậu đến các lĩnh vực an sinh xã hơi, nhóm yếu thế với các
kịch bản biến đổi khí hậu đã công bố; Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học có
liên quan đến các vấn đề lao động và xã hội trong bối cảnh tác động của biến đổi
khí hậu; Đề xuất các giải pháp đảm bảo việc làm và an sinh cho người dân các
vùng bị ảnh hưởng nặng của biến đổi khí hậu; đề xuất các giải pháp ứng phó phù
hợp với mỗi vùng miền, địa phương và đối tượng quản lý của ngành.

- Hai là, thực hiện các dự án, mô hình ứng phó với biến đổi khí hậu; Xây dựng và
thử nghiệm các mơ hình thí điểm ứng phó với biến đổi khí hậu trong các lĩnh vực
của ngành dựa vào cộng đồng có sự tham gia của chính quyền các cấp, các tổ chức
hội đoàn thể, sự tham gia của người dân trong ứng phó và tự ứng phó với biến đổi
khí hậu và nước biển dâng; Tổ chức thực hiện thí điểm theo đặc thù các vùng địa
lý hoặc theo các nhóm đối tượng chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu; triển
khai nhân rộng các mơ hình ứng phó với biến đổi khí hậu được đánh giá hiệu quả
qua quá trình thí điểm.

- Ba là, lồng ghép các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu vào các chiến lược,
quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, chính sách của ngành thơng qua việc:


11

Rà soát nội dung các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án của
từng lĩnh vực có liên quan đến ứng phó với biến đổi khí hậu; đề xuất xây dựng,
sửa đổi và bổ sung các văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách để tạo cơ sở pháp lý
cho việc triển khai các hoạt động; Thực hiện lồng ghép các giải pháp ứng phó với
biến đổi khí hậu vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, chương
trình, đề án của ngành.
- Bốn là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin, tập huấn nâng cao
nhận thức, đào tạo nguồn nhân lực và hợp tác quốc tế qua các hình thức như:
Tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của nhà
nước đến tồn thể cán bộ, cơng chức, viên chức trong ngành về biến đổi khí hậu và
giải pháp ứng phó; Xây dựng các chương trình, tài liệu và triển khai thực hiện đào
tạo, tập huấn nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực của cán bộ trong ngành
ở các cấp; phát triển đội ngũ cán bộ có trình độ trong lĩnh vực chuyên môn sâu về
bảo vệ mơi trường và biến đổi khí hậu thơng qua các chương trình đào tạo trong
nước và quốc tế; vận động các tổ chức trong và ngoài nước tham gia các chương
trình nghiên cứu, tư vấn, cung cấp dịch vụ hỗ trợ triển khai kế hoạch hành động;
Tổ chức các hội nghị, hội thảo trong nước, quốc tế nhằm chia sẻ kinh nghiệm về
tác động của biến đổi khí hậu và các giải pháp ứng phó trong lĩnh vực lao động và
xã hội.
- Năm là, mở rộng hợp tác quốc tế đa phương và song phương nhằm thu hút nguồn
lực từ các tổ chức quốc tế, phục vụ các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu
của ngành. Tranh thủ sự hỗ trợ kỹ thuật, tài chính, kinh nghiệm quốc tế trong ứng
phó với biến đổi khí hậu.

12

CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN


BĐKH được coi là một trong những vấn đề phát triển quan trọng hiện nay vì nó gây ảnh
hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, sinh kế của người dân, đặc biệt là người nghèo và
các đối tượng dễ bị tổn thương của tất cả các quốc gia và mọi nỗ lực phát triển của con
người đều đang có nguy cơ bị hủy hoại bởi BĐKH. Nghiên cứu, tìm hiểu và đề ra các
giải pháp hướng tới giảm thiểu và khắc phục rủi ro do BĐKH gây ra là nhiệm vụ cấp
bách. Bên cạnh đó, thích ứng với BĐKH cũng đóng vai trị quan trọng, đặc biệt đối với
các nước đang phát triển như Việt Nam. Các giải pháp ứng phó với BĐKH đã và đang
được triển khai trên cả 3 cấp độ: toàn cầu, khu vực và quốc gia. Các quốc gia trên thế
giới đang ngày càng đưa yếu tố BĐKH vào quá trình hoạch định chính sách và lồng ghép
vấn đề giảm thiểu và thích ứng với BĐKH vào các chiến lược tăng trưởng kinh tế, giảm
nghèo và phát triển kinh tế-xã hội quốc gia. Nằm trong số các quốc gia bị ảnh hưởng
nặng nề nhất bởi BĐKH, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được dự đoán sẽ bị suy giảm;
đời sống của nông dân, vấn đề xuất khẩu gạo và an ninh lương thực quốc gia sẽ bị đe doạ
bởi việc mất đất canh tác trong nông nghiệp và sự suy giảm năng suất cây trồng, năng
suất đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản; chi phí trong các ngành cơng nghiệp sẽ gia tăng do
sự tăng nhiệt độ; việc làm trong những lĩnh vực nhạy cảm với khí hậu trở nên bấp bênh
hơn, từ đó làm gia tăng tình trạng nghèo đói. Do đó, trong thời gian tới, Việt Nam cần có
những thay đổi mạnh mẽ trong các chính sách cơng ở cấp quốc gia, vùng và địa phương
nhằm xem xét, tính toán và đưa các ảnh hưởng của BĐKH vào các chính sách, chiến
lược, dự án trên các lĩnh vực then chốt như nông nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp, nhằm
tiến tới đảm bảo an sinh xã hội và đời sống người dân có khả năng thích nghi và chuyển
đổi cơ cấu nghề nghiệp tác động của BĐKH.

13

Tài liệu tham khảo
TS. Bùi Tôn Hiến, (01-15/12/2012), Tác động của biến đổi khí hậu đến một số lĩnh vực
lao động và xã hội, Tạp chí lao động và xã hội, 444, tr.15 – 17.
TS. Bùi Sỹ Tuấn, (24/10/2013), Một số giải pháp an sinh xã hội để giảm thiểu tác động
của biến đổi khí hậu. Truy cập tại

/>ThS. Dương Văn Thắng, (14/10/2012), An sinh xã hội và biến đổi khí hậu: Chủ đề nóng
bỏng của báo chí. Truy cập tại />tuyen-giao/an-sinh-xa-hoi-va-bien-doi-khi-hau-chu-de-nong-bong-cua-bao-chi-46699
Nguyễn Trọng Đàm, (09/11/2015), Hồn thiện chính sách an sinh xã hội phù hợp với
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Truy cập tại
/>Hà Ly, (19/09/2022), Biến đổi khí hậu cso tác động như thế nào đến phát triển bền
vững tại Việt Nam. Truy cập tại />hau-co-tac-dong-nhu-the-nao-den-phat-trien-ben-vung-tai-viet-nam/

14


×