Tải bản đầy đủ (.pdf) (16 trang)

Đa dạng sinh học ở đông nam á

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.22 MB, 16 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
BỘ MÔN KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
---------------o0o---------------

BÁO CÁO TIỂU LUẬN CÁ NHÂN MÔN HỌC
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

ĐỀ TÀI: ĐA DẠNG SINH HỌC Ở ĐÔNG
NAM Á

GVHD: PGS. TS. Võ Lê Phú
SVTH: Phan Thanh Quang 1914803

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2023

MỤC LỤC

MỤC LỤC .......................................................................................................................... 2
DANH MỤC HÌNH ẢNH.................................................................................................. 3

I. GIỚI THIỆU......................................................................................................................4
II. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với đa dạng sinh học: ......................................4

1. Đa dạng sinh học ở Đông Nam Á: ...............................................................................4
2. Điểm nóng về đa dạng sinh học: ..................................................................................5
3. Hiện trạng của đa dạng sinh học: .................................................................................9
4. Những nguyên nhân dẫn đến mất đa dạng sinh học ở Đông Nam Á:..........................9
III. Kết luận: .......................................................................................................................16


IV. Tài liệu tham khảo:......................................................................................................16

2

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1: Điểm nóng sinh học Indo-Burma................................................................................................. 5
Hình 2: Điểm nóng sinh học Sundaland ................................................................................................... 6
Hình 3: Điểm nóng sinh học Wallacea...................................................................................................... 7
Hình 4: Điểm nóng sinh học Phillippines ................................................................................................. 8
Hình 5: Đa dạng sinh học và đặc hữu ở Đơng Nam Á. Bốn điểm nóng về đa dạng sinh học ở Đông
Nam Á được đánh dấu màu đỏ. Các thanh biểu diễn phần trăm các lồi đặc hữu đối với điểm nóng
tương ứng. Số trong ngoặc biểu thị tổng số loài và loài đặc hữu được biết.............................................. 9
Hình 6: Đất trồng cọ dầu và rừng nhiệt đới tại đảo Borneo, Malaysia. Hầu hết các đồn điền cao su và
dầu cọ mới ở Đông Nam Á đều trực tiếp lấy quỹ đất từ rừng nhiệt đới (Ảnh: Rhett Butler/Mongabay)10
Hình 7:Cháy rừng ở Indonesisa (nguồn ảnh: Báo tài ngun mơi trường)..............................................11
Hình 8:Chim Buceros vigil bị giảm giống lồi đi 50% (nguồn ảnh: Wikipedia).................................... 12
Hình 9: Tê tê, một trong những loài động vật hoang dã bị săn bắt trái pháp luật nhiều nhất. Ảnh minh
họa: Reuters/Nhân dân)........................................................................................................................... 13

3

I. GIỚI THIỆU

Sự gián đoạn sinh thái và tuyệt chủng của các loài là một vấn đề đầy nghĩa vụ đối với chúng ta,
đặc biệt là trong khu vực Đông Nam Á. Đây là kết quả của những thay đổi không ngừng của
môi trường sống, bao gồm cả sự biến đổi khí hậu, sự đơ thị hóa và khai thác tài nguyên. Những
thay đổi này đã gây ra ảnh hưởng lớn đến đa dạng sinh học trên toàn khu vực, từ các loài thực
vật đến động vật và cả những sinh vật sống trong nước.


Đông Nam Á là một trong những khu vực có đa dạng sinh học lớn nhất trên thế giới, tuy nhiên,
với sự gián đoạn sinh thái và tuyệt chủng của các loài, khu vực này đang phải đối mặt với
những thách thức lớn. Những hậu quả của sự gián đoạn sinh thái và tuyệt chủng có thể dẫn đến
mất mát về tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan và đa dạng sinh học. Nếu khơng có các giải pháp
hiệu quả để ngăn chặn và hạn chế những tác động xấu của con người, Đông Nam Á sẽ tiếp tục
phải đối mặt với những hậu quả không lường trước được đối với đa dạng sinh học và sự phát
triển bền vững của khu vực.

Do đó, việc nghiên cứu và tìm hiểu thêm về sự gián đoạn sinh thái và tuyệt chủng của các lồi
trong khu vực Đơng Nam Á là rất cần thiết. Chỉ khi hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng ta mới có
thể đưa ra các giải pháp phù hợp để bảo vệ và phục hồi đa dạng sinh học của khu vực này.

II. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với đa dạng sinh học:

1. Đa dạng sinh học ở Đông Nam Á:
Đông Nam Á sở hữu 1/3 các cảnh quan nhiệt đới và đa dạng sinh học quan trọng của thế giới,
cùng với Amazon ở Nam Mỹ và Congo ở châu Phi. 6/25 điểm nóng về đa dạng sinh học của
thế giới nằm ở khu vực này – đây được xem là ngôi nhà của 20% các lồi thực vật và động vật
có xương sống trên hành tinh. So với các điểm nóng khác, Đơng Nam Á có mật độ dân cư đơng
đúc hơn nhiều với dân số hơn 800 triệu người – nhiều hơn cả Amazon và Congo cộng lại.

Mặc dù sở hữu nguồn tài nguyên giàu có nhưng hầu hết các quốc gia Đơng Nam Á đều có thu
nhập thấp hoặc trung bình. Điều này có nghĩa là trong nhiều năm, mơi trường thường bị hy sinh
để đổi lấy tăng trưởng kinh tế. Tham nhũng cũng là một yếu tố nổi cộm của toàn khu vực và
Đông Nam Á cũng đạt điểm khá thấp về Chỉ số nhận thức tham nhũng do Tổ chức Minh bạch
Quốc tế thực hiện. (theo Diplomat />dong-nam-a-lam-nguy/)

4

2. Điểm nóng về đa dạng sinh học:

--> Để đạt tiêu chuẩn được coi là một điểm nóng về đa dạng sinh học trong phiên bản bản đồ
điểm nóng năm 2000 của Myers, một khu vực phải hội đủ hai tiêu chí khắt khe: nó phải chứa ít
nhất 0,5% hoặc 1.500 lồi thực vật có mạch là lồi đặc hữu, và nó phải đã mất ít nhất 70% hệ
thực vật cơ bản của nó Trên khắp thế giới, có 36 khu vực đạt tiêu chuẩn theo định nghĩa
này.Những khu vực này nuôi sống gần 60% thực vật, chim, động vật có vú, động vật bị sát và
lưỡng cư, với tỷ lệ cao các lồi đó là lồi đặc hữu.

Đơng Nam Á có cả 4 điểm nóng sinh học, mỗi một điểm trong số đố có một lịch sử địa chất
độc đáo, góp phần tạo nên quần thể sinh vật phong phú và đặc biệt. Bốn điểm nóng lần lượt là:

Indo-Burma (Đơng Dương - Miến Điện):

Hình 1: Điểm nóng sinh học Indo-Burma

Bao gồm tất cả các phần không phải biển của Campuchia, Lào, Myanma, Thái Lan và Việt
Nam, công thêm các vùng phía nam của Trung Quốc, là một trong nữa khu vực đa dạng sinh
học quan trong nhất trên Trái Đất
Điểm nóng sinh học này hiện tại vẫn đang góp phần duy trì kho tàng đa dạng sinh học trên thế
giới - đã có sáu lồi động vật có vú lớn được phát hiện kể từ năm 1992. Sự phát triển đa dạng
của các loài rùa cạn và rùa nước ngọt cũng được tìm thấy ở đây cũng như khoảng 1.200 loài
chim mới
Hơn 300 triệu người sống ở Indo-Burma, nhiều hơn bất kỳ điểm nóng nào khác. Đa số họ phụ
thuộc vào các dịch vụ mà các hệ sinh thái tự nhiên của điểm nóng cung cấp. Đặc biệt quan
trọng, trong một khu vực nơi lúa gạo và cá là nguồn thực phẩm chủ yếu của hầu hết mọi người,
là các dịch vụ thuỷ văn và cung cấp cá và các sản phẩm nước ngọt khác. Vấn đề giảm nghèo và
bảo tồn đa dạng sinh học, do đó, liên quan mật thiết đến nhau.
( />
5

Sundaland:


Hình 2: Điểm nóng sinh học Sundaland
Điểm nóng sinh học Sundaland bao phủ một nửa phía tây của quần đảo Indonesia, một nhóm
gồm khoảng 17.000 hịn đảo trải dài 5.000 km, và được thống trị bởi các hòn đảo Borneo và
Sumatra.
Về mặt chính trị, điểm nóng này bao gồm phần nhỏ miền nam Thái Lan; gần như toàn bộ
Malaysia; Singapore; Brunei; và một nửa phía tây của Indonesia. Quần đảo Nicobar, thuộc
thẩm quyền của Ấn Độ, cũng được bao gồm
Sundaland có địa hình bao gồm dãy núi cao, núi lửa, đồng bằng, hồ nước, đầm lầy và vùng
nước ven biển nông. Đây là một trong những khu vực giàu sinh học nhất trên Trái đất, nơi có
khoảng 25.000 lồi thực vật có mạch (thực vật bậc cao) , trong đó 60% là đặc hữu.
380 lồi động vật có vú được tìm thấy ở đây, bao gồm hai loài đười ươi: đười ươi Borneo có
nguy cơ tuyết chủng (Pongo pygmaeus) và đười ươi Sumatra có nguy cơ tuyết chủng (P.
abelii). Các lồi đặc trưng khác bao gồm khỉ đầu chó có nguy cơ tuyết chủng (Nasalis larvatus),
chỉ sống ở Borneo, và hai loài tê giác: tê giác Java có nguy cơ tuyết chủng (Rhinoceros
sondaicus) và tê giác Sumatra có nguy cơ tuyết chủng (Dicerorhinus sumatrensis).
/>Wallacea

6

Hình 3: Điểm nóng sinh học Wallacea

Được mơ tả lần đầu tiên bởi Alfred Russel Wallace vào năm 1869, khu vực Wallacea hỗ trợ một
lượng đa dạng sinh học đáng kinh ngạc. Hơn một nửa số động vật có vú của điểm nóng sinh
học, 40% số chim và 65% số lưỡng cư khơng xuất hiện ở bên ngồi vùng này(có nghĩa là
những loài trên là đặc hữu) . Ngoài ra, khu vực này, cùng với New Guinea lân cận, có nhiều
lồi sinh vật biển hơn bất cứ nơi nào khác trên hành tinh, hình thành trái tim của khu vực Thái
Bình Dương phía tây được biết đến với cái tên "Tam giác San hơ".

Có 30 triệu người sống ở Wallacea, chủ yếu dọc theo bờ biển của hơn 1.680 đảo ở đây. Họ

kiếm sống chủ yếu từ nông trại, rừng, đất ngập nước và biển. Giống như phần lớn Indonesia,
Wallacea thể hiện sự hịa trộn của nhiều nền văn hóa qua các thời đại - bao gồm cả người bản
địa, người Java, Ấn Độ, Trung Quốc, Polynesia, Bồ Đào Nha, Ả Rập và Hà Lan trong số đó -
dẫn đến sự giao thoa của các ngôn ngữ, tôn giáo và dân tộc. Điều này có ý nghĩa rất lớn khi
chính phủ và xã hội dân sự đưa ra các quyết định nhằm cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và
bảo vệ đa dạng sinh học.

/>
Phillipines

Philippines bao gồm hơn 7.100 đảo ở phía tây nhất của Thái Bình Dương và có lẽ là quốc gia
đa dạng sinh học nhất thế giới về các loài thực vật và động vật sống trên cạn và biển độc đáo
theo đơn vị diện tích.

Những hịn đảo, hầu hết hiện nay được con người sinh sống, có đa dạng địa hình từ núi lửa gồ
ghề, cao nguyên và đồng bằng màu mỡ—nay là nơi trồng lúa, ngô và dừa—đến bờ biển dài với
một số rạn san hô đầy màu sắc nhất thế giới.

7

Hình 4: Điểm nóng sinh học Phillippines
Nhiều lồi đặc hữu bị giới hạn trong các mảnh rừng chỉ chiếm 7 phần trăm diện tích ban đầu
của điểm nóng. Điều này bao gồm hơn 6.000 loài thực vật và nhiều loài chim như loài Cebu
flowerpecker (Dicaeum quadricolor) nguy cấp cực kỳ, loài Visayan wrinkled hornbill (Aceros
waldeni) nguy cấp cực kỳ và loài Philippine eagle (Pithecophaga jefferyi) nguy cấp cực kỳ. Sự
đặc hữu của loài lưỡng cư cũng cao đáng chú ý và tăng số loài độc nhất như loài ếch bay
panther (Rhacophorus pardalis).
/>
8


Hình 5: Đa dạng sinh học và đặc hữu ở Đơng Nam Á. Bốn điểm nóng về đa dạng sinh học ở Đông
Nam Á được đánh dấu màu đỏ. Các thanh biểu diễn phần trăm các lồi đặc hữu đối với điểm nóng

tương ứng. Số trong ngoặc biểu thị tổng số loài và loài đặc hữu được biết

3. Hiện trạng của đa dạng sinh học:

Ba loài thực vật và tám loài động vật đã được công nhận là ‘tuyệt chủng’ ở Đông Nam Á bởi
Liên minh Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên và Tài ngun Thiên nhiên (IUCN) . Bởi vì Đơng
Nam Á có một nạn phá rừng quy mơ lớn gần đây (tức là trong hai thế kỷ qua), nhiều loài bản
địa của khu vực, như cây sống lâu năm hiếm, đang bị đẩy đến tuyệt chủng do sự cô lập gây ra
bởi sự phân mảnh của mơi trường sống.

Vì vậy, mặc dù số lượng loài đã tuyệt chủng thực tế ở khu vực này không đáng báo động, mức
độ nguy cấp của các loài hiện hữu cho thấy sự nghiêm trọng của các mối đe dọa, như phá rừng,
đối với hệ sinh thái khu vực. Số lượng các loài bị đe dọa ở Đơng Nam Á, bao gồm cả những
lồi trong các hạng mục của IUCN như 'cực kỳ nguy cấp' (CE), 'nguy cấp' (EN) và 'dễ tổn
thương' (VU) dao động từ 20 (CE) đến 686 (VU) loài cho thực vật mạch, từ sáu đến 91 lồi cho
cá, từ khơng đến 23 loài cho lưỡng cư, từ bốn đến 28 lồi cho bị sát, từ bảy đến 116 lồi cho
chim và từ năm đến 147 lồi cho động vật có vú (xem Online Supplementary Material)

4. Những nguyên nhân dẫn đến mất đa dạng sinh học ở Đông Nam Á:

Chuyển đổi rừng (xâm lấn rừng)
9

Hình 6: Đất trờng cọ dầu và rừng nhiệt đới tại đảo Borneo, Malaysia. Hầu hết các đồn điền cao su và
dầu cọ mới ở Đông Nam Á đều trực tiếp lấy quỹ đất từ rừng nhiệt đới (Ảnh: Rhett Butler/Mongabay)

Là chuyển đổi môi trường sống tự nhiên sang các mục đích sử dụng đất khác là nguyên nhân

chính dẫn đến mất đa dạng sinh học trên toàn thế giới nói chung và ở Đơng Nam Á nói riêng

Giữa năm 1880 và 1980, Đông Nam Á đã trải qua tỉ lệ mất rừng hàng năm trung bình là 0,3% .
Trong thập kỷ qua, sự mất mát của "rừng tự nhiên" trong khu vực này đã tiếp tục ở mức 1,4%
yK1, tỉ lệ này cao hơn so với tỉ lệ phá rừng ở các khu vực nhiệt đới khác có nhiều loài như
Trung Mỹ và vùng Caribe (1,2%) và Nam Mỹ (0,5%) . Hiện nay, ít hơn một nửa (từ 41,3% đến
44,2%) số rừng ban đầu của Đông Nam Á cịn lại

Phá rừng ở Đơng Nam Á đã gây ra những tác động tiêu cực đối với đa dạng sinh học phong
phú và độc đáo của khu vực, với Singapore là quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất cho đến nay
(Hộp 1; xem Tài liệu Bổ sung Trực tuyến). Tác động ngay lập tức nhất của hoạt động lâm
nghiệp là sự thay đổi của tầng ngọn cây rừng nhiệt đới đóng gói nhiều lớp độc đáo và kín .
Giảm chiều cao tầng ngọn cây, diện tích bề mặt và kích thước đỉnh cây của rừng được chọn lọc
tại Malaysia vẫn còn rõ ràng sau bốn thập kỷ phục hồi . Tại Borneo, sự phong phú về loài cây
được chỉ ra là liên quan tiêu cực với mức độ hoạt động khai thác gỗ . Các mầm non và cây non
tại các khu vực này cũng thiếu loài , cho thấy rừng bị khai thác cần một khoảng thời gian dài để
phục hồi sự phong phú thực vật ban đầu. Việc chuyển đổi đất sang sử dụng nơng nghiệp có ảnh
hưởng tồi tệ hơn nữa, do sự cạn kiệt dinh dưỡng đất và xói mịn sau các hoạt động nơng nghiệp
mạnh mẽ . Thậm chí sau một thế kỷ phát triển tiếp nối, sự phong phú thực vật của các khu vực
nông nghiệp bỏ hoang ở Singapore chỉ đạt 60% so với rừng nguyên sinh

Cháy rừng:

10

Hình 7:Cháy rừng ở Indonesisa (nguồn ảnh: Báo tài nguyên môi trường)
Dù cháy rừng luôn xảy ra ở Đông Nam Á, nhưng sự kết hợp của nhiều yếu tố, chẳng hạn như
thực hành chuyển đổi đất đai kém, khai thác gỗ và sự kiện El Nin˜o mạnh hơn, đồng thời làm
tăng khả năng xảy ra các đám cháy
thảm họa ở khu vực này .Ví dụ, việc đốn hạ cây có thể làm tăng nguy cơ cháy rừng do mở rộng

tán cây, tạo đống rác gỗ dễ cháy và giúp mọi người dễ tiếp cận với khu rừng. Trong khoảng từ
1997-1998, 5 triệu ha rừng ở Indonesia (Sumatra và Kalimantan) bị cháy rừng tiêu thụ . Ước
tính rằng 4,6% cây mộc mạc, cũng như 70-100% cây giống và 25-70% cây non, bị phá hủy ở
Sumatra (Vườn quốc gia Barisan Selatan). Do mất mát các cây trái, nhiều loài chim ăn trái, như
loài Hồng hoàng mũ cát Buceros vigil , đã giảm dân số lên đến 50% . Ngay lập tức sau các đám
cháy, các loài động vật khác, chẳng hạn như siamang Holobates syndactylus, loài lớn nhất
trong họ gibbons, biến mất hoàn toàn khỏi các khu vực bị cháy . Nhóm Siamang có lãnh thổ
bao gồm khu rừng đã bị cháy hoặc gần các khu vực bị cháy có kích thước đáng kể nhỏ hơn và
gặp tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và thiếu niên cao hơn so với các nhóm khơng bị ảnh hưởng bởi
lửa .
Săn bắt và khai thác đá vôi đe dọa động vật hoang dã:

11

Hình 8:Chim Buceros vigil bị giảm giống lồi đi 50% (ng̀n ảnh: Wikipedia)

Mối đe dọa nghiêm trọng đối với đa dạng sinh học khu vực Đông Nam Á là các hoạt động săn
bắn và buôn bán động vật hoang dã trái phép nhằm lấy thịt thú rừng, sử dụng trong y học cổ
truyền, trang trí, hay buôn bán thú cảnh. Nhu cầu tiêu dùng lớn đã làm suy giảm tất cả các lồi
động vật có vú trên 2kg tại phần lớn các khu rừng không được bảo tồn trong khu vực. Trong
khi đó, nhiều lồi chim và bị sát đang bị biến thành vật ni, bị nhốt trong các vườn thú và
công viên thủy sinh.

Nhiều hệ sinh thái đang bị đe dọa nhất Đông Nam Á là nơi sinh sống của nhiều loài đặc hữu q
hiếm. Ví dụ, các địa hình karst, nơi đá vơi bị xói mịn sinh ra các chỏm núi, cột trụ, hố sụt và
nhiều dạng địa hình khác, là mơi trường sống đặc biệt của nhiều loài đặc hữu trong khu vực.

Thế nhưng, mối đe dọa từ các hoạt động sản xuất xi măng tới những khu vực đặc hữu này khơng
hề có dấu hiệu giảm đi mà cịn tăng theo cấp số nhân trong những năm gần đây. Ước tính, Đông


12

Nam Á có khoảng 800.000 km2 diện tích núi đá vôi. Ba trong số năm nước xuất khẩu đá vôi
nhiều nhất thế giới bao gồm Ấn Độ, Việt Nam và Malaysia, chiếm gần 20% sản lượng xuất khẩu
xi măng toàn cầu.

Hình 9: Tê tê, một trong những lồi động vật hoang dã bị săn bắt trái pháp luật nhiều nhất. Ảnh minh
họa: Reuters/Nhân dân)

Những mối đe dọa tiềm ẩn khác:
Sala và các đồng nghiệp đã chỉ ra rằng, so với tác động đáng kể của việc chuyển đổi rừng, các
yếu tố khác như biến đổi khí hậu, lượng nitơ bổ sung, lồi xâm nhập và sự thay đổi nồng độ
CO2 khơng gây ra tác động đáng kể đối với đa dạng sinh học trong hệ sinh thái nhiệt đới. Biến
đổi khí hậu được chỉ ra có ảnh hưởng tỷ lệ lớn nhất đối với đa dạng sinh học trong môi trường
cực đoan, như các khu vực Bắc Cực và khu rừng boreal, và có ít ảnh hưởng nhất ở vùng nhiệt
đới, chỉ có các khu vực miền núi bị ảnh hưởng đáng kể
Sự lắng động nitơ được cho là có tác động lớn nhất đến đa dạng sinh học ở các vùng có nguồn
nitơ hạn chế nhất, chẳng hạn như các khu rừng ơn đới. Các lồi xâm lấn cũng khơng được kỳ
vọng sẽ ảnh hưởng nhiều đến các hệ sinh thái nhiệt đới vì các yếu tố phiotic và sinh học khác
nhau, chẳng hạn như đa dạng sinh học cao, giảm thiểu khả năng thành công của sự thiết lập bởi
các sinh vật xâm lấn trong các cộng đồng chưa bị ảnh hưởng ở vùng nhiệt đới. Sự tăng nồng độ
khí CO2 trong khơng khí được kỳ vọng sẽ có tác động lớn đến đa dạng sinh học chủ yếu ở các

13

vùng mà sự phát triển cây thấp nhất bởi khả năng cung cấp nước bị giới hạn và có sự pha trộn
giữa các loài C3 và C4, chẳng hạn như các khu đồng cỏ và savannas. Điều này là do sự khác
biệt về tác động của khí CO2 đối với hiệu suất sử dụng nước của các loài đã được biết đến. Tuy
nhiên, bất chấp những phát hiện này, sự quan trọng tương đối và hệ quả lâu dài của những tác
động này đến các mối đe dọa về đa dạng sinh học và, quan trọng hơn, tác động tương hỗ của

chúng đến đa dạng sinh học của Đông Nam Á vẫn chưa được hiểu rõ.

những thách thức bảo tồn đa dạng sinh học

Tình hình về đa dạng sinh học ở Đơng Nam Á có vẻ tối tăm, do một số thách thức xã hội, khoa
học và hậu cần quảng bá mà khu vực đang phải đối mặt. Những thách thức lớn trong việc giảm
bớt những mối đe dọa sắp tới đối với đa dạng sinh học chủ yếu có nguồn gốc kinh tế-xã hội,
bao gồm tăng dân số, nghèo đói, thiếu hụt nguồn lực quảng bá (cả về chuyên mơn và nguồn lực
tài chính) và các cơ quan quốc gia tham nhũng. Khi các xã hội khu vực cố gắng đạt được mức
sống của các quốc gia phát triển, các vấn đề môi trường không thể tránh khỏi bị lãng quên. Mật
độ dân số con người tăng là nguyên nhân kinh tế-xã hội chính của việc mất rừng ở châu Á và, ở
Đông Nam Á, cả hai yếu tố này và tăng trưởng kinh tế đều có liên quan tích cực với việc mất
rừng

Nghiên cứu về đa dạng sinh học Đông Nam Á trong 20 năm qua cũng bị bỏ qua so với các khu
vực nhiệt đới khác. Số lượng bài báo khoa học về đa dạng sinh học Đơng Nam Á ít hơn so với
diện tích rừng của khu vực so với các khu vực nhiệt đới khác, bao gồm Trung Mỹ và Caribe,
Châu Phi vùng sa mạc và Nam Mỹ. Hơn nữa, phân bố nỗ lực nghiên cứu ở Đông Nam Á cũng
bị lệch về phân loại. Ví dụ, có nhiều bài báo nghiên cứu về động vật có vú hơn so với số lượng
lồi dựa trên tài nguyên sinh học; tuy nhiên, vẫn còn thiếu nghiên cứu về các nhóm lồi quan
trọng khác như thực vật mạch và động vật không xương sống. Để khắc phục thiếu hụt các
nghiên cứu về đa dạng sinh học ở Đơng Nam Á, đặc biệt là trong các nhóm phân loại được
nghiên cứu kém, cần thiết phải có những nỗ lực nghiên cứu đa phương tiện của các chuyên gia
khu vực và quốc tế về sinh học Đông Nam Á.

Sự đa dạng về loại môi trường sống ở Đông Nam Á là một thách thức lớn khác đối với việc bảo
tồn đa dạng sinh học của khu vực này , và có rất nhiều mơi trường sống chưa được nghiên cứu
kỹ. Ví dụ, các nghiên cứu gần đây cho thấy nước đen axit trong các vùng đầm lầy phong phú
hơn và có năng suất cao hơn so với những gì trước đây được nghĩ đến , và chứa nhiều loài cá
hiếm và nguy cấp chưa được nhận diện . Ngoài ra, các nghiên cứu gần đây về các hệ sinh thái

đá vôi ở Đông Nam Á đã phát hiện ra sự hiện diện của nhiều loài động thực vật đặc hữu và
chun hóa . Ngồi ra, vẫn cịn nhiều khu rừng mưa và rừng ngập mặn ở Đông Nam Á chưa
được các nhà sinh học chuyên nghiệp khảo sát . Sự thiếu hiểu biết về đa dạng sinh học trong
những môi trường sống này là một trở ngại nghiêm trọng đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học
ở Đông Nam Á, vì cần có kiến thức sinh học chính xác để ưu tiên các khu vực bảo tồn và mơi
trường sống, và mơ hình hóa việc sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên như gỗ và thịt động
vật rừng. Hiện nay, sự hiểu biết sinh học trong Đông Nam Á về đa dạng sinh học đang đứng
sau so với các khu vực khác.

14

Hình 10: : Khu bảo tờn đa dạng sinh học (nguồn ảnh: Internet)

15
Hình 10: : Khu bảo tờn đa dạng sinh học (nguồn ảnh: Internet)

Các khu bảo tồn (hiện có và tương lai) là hy vọng chính để bảo tồn đa dạng sinh học ở Đơng
Nam Á. Hiện nay, có 2262 khu bảo tồn trong khu vực này, chiếm tổng diện tích đất là 58 triệu
ha (13,4%) (xem tài liệu bổ sung trực tuyến) 13,. Hơn một nửa tổng diện tích của các khu vực
này thuộc về Indonesia (24 triệu ha) và Malaysia (10 triệu ha). Các nghiên cứu gần đây cho
thấy rằng, mặc dù có tình trạng "được bảo vệ", một số khu vực này đã trở nên ngày càng cơ lập
và bị phá rừng . Ví dụ, từ năm 1985 đến năm 2001, diện tích rừng của các khu bảo tồn động vật
hoang dã ở Tây Kalimantan, Indonesia, đã giảm đi 1,85 triệu ha (63%). Ngồi ra, trong số 64
mảnh rừng cịn lại, chỉ có 16 được coi là đủ lớn (trên 10.000 ha) để hỗ trợ động vật hoang dã
nguyên sinh . Khu vực bảo tồn cũng khác nhau đáng kể về mức độ hiệu quả . Bruner et al. cho
thấy rằng hiệu quả của các khu vực này trong việc bảo tồn đa dạng sinh học có liên quan mạnh
nhất đến mật độ của đội ngũ bảo vệ . Do đó, việc thực thi và quản lý các cơng viên là rất quan
trọng đối với sự thành công của các khu bảo tồn trong việc bảo tồn các môi trường sống bản
địa và đa dạng sinh học của Đông Nam Á.


III. Kết luận:

Những thay đổi môi trường sống do con người gây ra, cháy rừng và việc khai thác động vật
hoang dã quá mức ở Đông Nam Á là những mối nguy hiểm rõ ràng đối với đa dạng sinh học
của khu vực. Mặc dù triển vọng bi quan, vẫn có cách bảo tồn ít nhất một số tài nguyên thiên
nhiên khu vực. Điều này cho thấy nhiều những nguyên nhân gây mất đa dạng sinh học (ví dụ:
nhu cầu quốc tế đối với gỗ rừng mưa và mức CO2 toàn cầu cao hơn) là vấn đề vượt qua các
biên giới quốc gia, bất kỳ giải pháp thực tế sẽ cần đến một chiến lược đa quốc gia và đa ngành,
bao gồm chính trị, kinh tế xã hội và đầu vào khoa học, trong đó tất cả các bên liên quan chính
(tổ chức chính phủ, phi chính phủ, quốc gia và quốc tế) phải tham gia. Giải pháp chính nên bao
gồm nâng cao nhận thức môi trường công cộng, xác định rõ ràng các khu bảo tồn được bảo vệ
đầy đủ và cung cấp các ưu đãi kinh tế cho việc bảo tồn.

IV. Tài liệu tham khảo:

1. Sodhi, Navjot S., et al. "Southeast Asian biodiversity: an impending disaster." Trends in
ecology & evolution 19.12 (2004): 654-660.

2. CRITICAL ECOSYTEM PARTNERSHIP FUND. “About this hospot” (2020)
/>
16


×