Tải bản đầy đủ (.pdf) (155 trang)

Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn và chất bổ sung lên sinh trưởng, tỷ lệ sinh trưởng, tỷ lệ sống và tỷ lệ dị hình của cá mú dẹt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.84 MB, 155 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

ĐOÀN THỊ MINH HIỀN

ĐỀ ÁN THẠC SĨ
TÊN ĐỀ TÀI: “NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI THỨC
ĂN VÀ CHẤT BỔ SUNG LÊN SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG VÀ TỶ
LỆ DỊ HÌNH CỦA CÁ MÚ DẸT (Epinephelus bleekeri Vaillant, 1878)”

Ngành: SINH HỌC THỰC NGHIỆM

Mã số : 8420114

Khóa : 24B

Người hướng dẫn: TS. Võ Văn Chí

Bình Định - Năm 2023

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .......................................................................................................................................... 10

1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................10
2. Mục tiêu nghiên cứu ....................................................................................... 11
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn ....................................................................... 11

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ............................................................. 13



1.1. Vị trí phân loại và một số đặc điểm sinh học, sinh thái của cá mú dẹt .........13

1.1.1. Vị trí phân loại của cá mú dẹt .........................................................................................13
1.1.2. Đặc điểm hình thái ..........................................................................................................13
1.1.3. Đặc điểm dinh dưỡng, sinh trưởng ................................................................................. 15
1.1.4. Đặc điểm sinh sản ...........................................................................................................15

1.2. Tình hình nghiên cứu về thức ăn và chất bổ sung trong ương nuôi
cá biển và cá mú. ................................................................................................. 16

1.2.1. Tình hình nghiên cứu về thức ăn và chất bổ sung trong ương nuôi cá biển trên thế giới
.................................................................................................................................................. 17
1.2.2. Tình hình nghiên cứu về thức ăn và chất bổ sung trong ương nuôi cá biển trong nước 22

2.1. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................. 26
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ..............................................................26
2.3. Nội dung nghiên cứu ....................................................................................26
2.4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 26

2.4.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và tỷ lệ dị hình của cá
mú dẹt giai đoạn từ cá hương lên cá giống .............................................................................. 26
2.4.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của chất bổ sung đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và tỷ lệ dị hình của
cá mú dẹt giai đoạn từ cá hương lên cá giống ..........................................................................27

2.4.3. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu .................................................... 27

2.4.3.1. Xác định các thông số môi trường ............................................................................... 27
2.4.3.2. Xác định sinh trưởng của cá ........................................................................................27
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC .....................................................................29


3.1. Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và tỷ lệ dị hình
của cá mú dẹt giai đoạn từ cá hương lên cá giống ...........................................29

3.1.1. Một số yếu tố môi trường trong q trình thí nghiệm .................................................... 29

2

3.1.2. Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng chiều dài của cá mú dẹt .................................. 30
3.1.3. Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng khối lượng của cá mú dẹt ............................... 34
3.1.4. Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ dị hình của cá mú dẹt .................................................38
3.1.5. Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của cá mú dẹt .................................................... 38

3.2. Ảnh hưởng của chất bổ sung đến sinh trưởng, tỷ lệ sống và tỷ lệ dị
hình của cá mú dẹt giai đoạn cá hương lên cá giống ...................................... 39

3.2.1. Một số yếu tố mơi trường trong q trình thí nghiệm .................................................... 39
3.2.2. Ảnh hưởng của chất bổ sung đến sinh trưởng chiều dài của cá mú dẹt ..........................40
3.2.3. Ảnh hưởng của chất bổ sung đến sinh trưởng khối lượng của cá mú dẹt ...................... 44
3.2.4 Tỷ lệ dị hình của cá mú dẹt ..............................................................................................48
3.2.5. Tỷ lệ sống của cá mú dẹt ................................................................................................ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................................ 54

3

LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của thầy
Võ Văn Chí. Tơi xin tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến thầy, người đã chỉ
dẫn, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt q trình học tập và nghiên cứu. Tơi xin cảm
ơn thầy Nguyễn Văn Dũng và các cán bộ ở Trung tâm nghiên cứu và phát triển nuôi

biển Nha Trang – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III, đã giúp đỡ, hỗ trợ tơi
trong q trình thực hiện thí nghiệm.
Tôi xin cảm ơn quý thầy, cô tham gia giảng dạy lớp cao học Sinh học thực
nghiệm khóa 24 đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy tôi trong thời gian học tập. Tơi
bày tỏ lịng biết ơn đối với tất cả q thầy, cô trong ban lãnh đạo Trường, Khoa
Khoa học tự nhiên, Phòng Đào tạo sau Đại học của trường Đại học Quy Nhơn. Tôi
xin cảm ơn lãnh đạo và đồng nghiệp Trường Phổ thông Duy Tân, các bạn học viên
lớp cao học Sinh học thực nghiệm khóa 24 và gia đình, những người đã tạo điều
kiện thuận lợi để tơi hồn thành khóa học và luận văn này.

Bình Định, tháng 11 năm 2023
Học viên

Đoàn Thị Minh Hiền

4

GHI NHẬN
Đề tài này được thực hiện trong khuôn khổ Dự án Sản xuất thử nghiệm giống và
nuôi thương phẩm nguồn gen cá song dẹt (Epinephelus bleekeri Vaillant, 1878),
thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III.

Bình Định, tháng 11 năm 2023
Học viên

Đoàn Thị Minh Hiền

5

DANH MỤC CÁC BẢNG


Số hiệu Tên bảng biểu Trang
bảng 29
3.1 Một số yếu tố môi trường trong q trình thí nghiệm 30
3.2 31
3.3 Sinh trưởng tích lũy chiều dài của thân (cm) của cá theo thời 33
3.4 gian nuôi 35
3.5 36
3.6 Sinh trưởng tuyệt đối chiều dài của thân của cá (cm/ngày) 38
3.7 theo giai đoạn nuôi 41
3.8 42
3.9 Sinh trưởng tương đối chiều dài của thân của cá (%/ngày) 43
3.10 qua các giai đoạn nuôi 45
3.11
Sinh trưởng tích lũy khối lượng thân cá (g/ngày) theo thời
gian nuôi

Sinh trưởng tuyệt đối khối lượng của thân cá (g/ngày) qua
các giai đoạn nuôi

Sinh trưởng tương đối về khối lượng của thân cá (%/ngày)
qua các đoạn nuôi

Một số yếu tố môi trường trong q trình thí nghiệm

Sinh trưởng tích lũy chiều dài của thân (cm/ngày) của cá theo
thời gian nuôi

Sinh trưởng tuyệt đối chiều dài của thân (cm) của cá qua các
giai đoạn nuôi


Sinh trưởng tương đối chiều dài của thân (%/ngày) của cá
qua các giai đoạn nuôi

6

Sinh trưởng tích lũy khối lượng (g) của cá theo thời gian nuôi 46
3.12

Sinh trưởng tuyệt đối khối lượng (g/ngày) của cá qua các giai 48
3.13

đoạn nuôi
Sinh trưởng tương đối khối lượng (%/ngày) qua các giai đoạn 49
3.14
nuôi

7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu Tên hình Trang
hình
3.1 Biểu đồ sinh trưởng tích lũy chiều dài của cá theo thời gian
3.2 31
3.3
3.4 nuôi
3.5
3.6 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối chiều dài của cá (cm/ngày)
3.7 32

3.8
3.9 qua các giai đoạn nuôi
3.10
3.11 Biểu đồ sinh trưởng tương đối chiều dài của cá (%/ngày)
34

qua các giai đoạn nuôi

Biểu đồ sinh trưởng tích lũy khối lượng của cá (g) theo thời
36

gian nuôi

Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối khối lượng của cá (g/ngày)
37

qua các giai đoạn nuôi

Biểu đồ sinh trưởng tương đối khối lượng của cá (%/ngày)
39

qua các giai đoạn nuôi

Tỷ lệ dị hình của cá mú dẹt ở các nghiệm thức khác nhau 39

Tỷ lệ sống của cá ở các nghiệm thức tại thời điểm kết thúc
40

thí nghiệm (45 ngày ni)


Biểu đồ sinh trưởng tích lũy chiều dài của cá (cm/ngày)
43

theo giai đoạn nuôi

Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối chiều dài của cá (cm/ngày)
44

qua các giai đoạn nuôi

Biểu đồ sinh trưởng tương đối chiều dài của cá (%/ngày)
45

theo thời gian nuôi

8

3.12 Biểu đồ sinh trưởng tích lũy khối lượng của cá (g/ngày) 47

theo thời gian nuôi

3.13 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối khối lượng của cá (g/ngày) 49

theo giai đoạn nuôi

3.14 Biểu đồ sinh trưởng tương đối khối lượng của cá (%/ngày) 50

theo giai

3.15 Tỷ lệ dị hình của cá ở hai nghiệm thức thí nghiệm 51


3.16 Tỷ lệ sống của cá ở các nghiệm thức tại 45 ngày ni thí 52

nghiệm

9

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển nuôi trồng thủy sản. Bờ biển dài
hơn 3.260 km, với 112 cửa sông, lạch là điều kiện thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản
nước lợ, nước mặn. Hệ thống sơng ngịi, kênh rạch của nước ta rất đa dạng và chằng
chịt, có tới 15 con sơng có diện tích lưu vực từ 300 km2 trở lên. Ngồi ra, cịn hàng
nghìn đảo lớn nhỏ nằm rải rác dọc theo đường biển là những khu vực có thể phát
triển ni trồng thủy sản quanh năm. Trong vùng biển nước ta, có 4.000 hịn đảo
lớn nhỏ, trong đó có những đảo lớn có dân cư như Vân Đồn, Cát Bà, Phú Quý, Cơn
Đảo, Phú Quốc, có nhiều vịnh, vũng, eo ngách, các dòng hải lưu, vừa là ngư trường
khai thác hải sản thuận lợi, vừa là nơi có nhiều điều kiện tự nhiên để phát triển nuôi
trồng thủy sản biển và xây dựng các khu căn cứ hậu cần nghề cá. Bên cạnh điều
kiện tự nhiên vùng biển, Việt Nam cịn có nguồn lợi thuỷ sản nước ngọt ở trong
2.860 con sông lớn nhỏ, nhiều triệu hecta đất ngập nước, ao hồ, ruộng trũng, rừng
ngập mặn, đặc biệt là ở lưu vực sông Hồng và sông Cửu Long (Theo Tổng cục
thống kê ngành thủy sản năm 2022).

Nuôi trồng thuỷ sản từ chỗ là một nghề sản xuất phụ, mang tính chất tự cấp tự
túc đã trở thành một ngành sản xuất hàng hoá tập trung với trình độ kỹ thuật tiên
tiến, phát triển ở tất cả các thuỷ vực nước ngọt, nước lợ, nước mặn theo hướng bền
vững, bảo vệ mơi trường, hài hồ với các ngành kinh tế khác. Với tổng diện tích có

tiềm năng ni biển ở nước ta khoảng 500.000 ha, trong đó vùng bãi triều 153.300
ha; vùng vũng vịnh, eo ngách và ven đảo là 79.790 ha và vùng biển xa bờ gần
167.000 ha, diện tích cịn lại là các hình thức ni khác. Giai đoạn 2010 - 2019,
ni biển đã có những bước phát triển đáng kể, diện tích và sản lượng đã khơng
ngừng tăng. Cụ thể, tổng diện tích ni biển năm 2010 đạt 38.800 ha, đến năm 2019
đạt trên 256.000 ha với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 23,3%/năm. Năm 2010,
sản lượng nuôi biển chỉ đạt hơn 156.000 tấn, đến năm 2020 đạt gần 670.000 tấn (cá
biển đạt 58.000 tấn, nhuyễn thể đạt 375.000 tấn, tôm hùm đạt 2.100 tấn, còn lại là
các đối tượng khác), với tốc độ tăng trưởng bình quân 16%/năm [56]. Điều này giải
quyết được vấn đề nguồn lợi và trữ lượng khai thác cá biển ngày càng giảm sút,
đồng thời thể hiện vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi từ khai thác tài ngun
thiên nhiên sang ni trồng nói chung và ni biển nói riêng, góp phần tạo nguồn

10

nguyên liệu ổn định cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu, làm tăng giá trị kim
ngạch xuất khẩu chung của ngành Thủy sản.

Cá mú dẹt (cá song dẹt) (Epinephelus bleekeri) là một trong những loài thuộc
họ Serranidae phân bố rộng các vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới. Được nuôi rộng
rãi ở nhiều nước châu Á, như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Malaysia [52].
Ở Việt Nam cá mú dẹt phân bố từ vịnh Bắc Bộ đến vùng biển Khánh Hòa, sống chủ
yếu ở vùng biển cạn, nơi có bờ đá và rạn san, độ mặn cao và ổn định. Cá mú dẹt là
một trong những đối tượng nuôi tiềm năng và rất quan trọng về mặt giá trị dinh
dưỡng, giá cả thị trường và lợi ích kinh tế, là loại thực phẩm có giá trị kinh tế
(250.000-300.000 vnđ/kg), chất lượng thịt cao kể cả mặt hàng tươi sống và đông
lạnh. Cá mú dẹt có một số đặc điểm ưu việt như rộng muối, rộng nhiệt, phổ thức ăn
rộng, có khả năng sinh trưởng tốt, thích nghi cao với sự biến động mơi trường, đặc
biệt nhiệt độ và độ mặn. Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ cá mú dẹt trên thị trường rất lớn
dẫn đến tình trạng khai thác quá mức nguồn lợi tự nhiên. Sự suy giảm quần đàn ngoài

tự nhiên và giá cả thị trường ngày càng cao dẫn đến nhu cầu nuôi cá mú dẹt ngày càng
tăng. Con giống sử dụng trong nuôi thương phẩm hiện nay chủ yếu khai thác ngoài tự
nhiên và sản xuất giống nhân tạo. Tuy nhiên, nguồn giống khai thác ngoài tự nhiên đã
dần cạn kiệt do việc khai thác quá mức, trong khi đó nguồn giống từ sản xuất nhân tạo
còn chưa ổn định về số lượng do cơng nghệ cịn chưa hồn thiện. Chính vì vậy, năm
2005 Tổ chức Bảo tồn tự nhiên thế giới (IUCN) đã đưa cá mú dẹt vào Sách Đỏ
nhằm bảo tồn và phát triển nguồn gen loài cá này.

Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng
thức ăn và chất bổ sung lên sinh trưởng, tỉ lệ sống và tỷ lệ dị hình của cá mú dẹt
(Epinephelus bleekeri Vaillant, 1878)”.
2. Mục tiêu nghiên cứu

Xác định được loại thức ăn và chất bổ sung phù hợp trong ương ni cá mú
dẹt, góp phần từng bước hồn thiện quy trình sản xuất giống cá mú dẹt.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học

Đề tài bổ sung một số kiến thức cơ bản về kỹ thuật ương nuôi cá mú dẹt làm
cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu những đối tượng mới có đặc điểm tương đồng.

11

Đồng thời, kết quả của đề tài còn là nguồn thơng tin khoa học quan trọng có thể
được sử dụng trong giảng dạy và nghiên cứu.
- Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài cung cấp một số thông tin kỹ thuật quan trọng trong ương nuôi cá mú
dẹt từ giai đoạn cá hương lên cá giống, góp phần từng bước hồn thiện quy trình
sản xuất giống cá mú dẹt.


12

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Vị trí phân loại và một số đặc điểm sinh học, sinh thái của cá mú dẹt
1.1.1. Vị trí phân loại của cá mú dẹt

Ngành: Chordata
Lớp: Actinopterygii
Bộ: Perciformes
Họ: Epinephelidae
Giống: Epinephelus
Loài: Epinephelus bleekeri (Vaillant, 1878)

Tên tiếng anh: Duskytail grouper
Tên tiếng Việt: Cá song dẹt (miền Bắc), cá mú dẹt, cá mú tiêu (miền Nam)

Hình 1.1: Cá mú dẹt Epinephelus bleekeri (Vaillant, 1878)
1.1.2. Đặc điểm hình thái

Cá mú dẹt có thân thon dài, chiều cao của thân bằng 3,0 đến 3,5 lần chiều dài
tiêu chuẩn (đối với cá có chiều dài tiêu chuẩn từ 11-52 cm). Chiều dài đầu bằng 2,4
đến 2,7 lần chiều dài tiêu chuẩn. Vây lưng có 11 tia vây cứng và 16 đến 18 tia vây
mềm, tia vây cứng thứ ba đến thứ năm dài nhất. Vây hậu mơn có 3 tia vây cứng và
8 hoặc 9 (hiếm khi 9) tia vây mềm; vây ngực có 17 đến 19 tia vây; vây ngực có
chiều dài bằng 1,6 đến 2,1 lần chiều dài đầu; chiều dài vây bụng bằng 1,9 đến 2,5
lần chiều dài đầu; vây đuôi cụt hoặc hơi lồi. Đường bên hoàn toàn, chạy dài đến

13


mút vây đi, vảy đường bên có 49 –53 vảy. Màu sắc, đầu và thân màu nâu, nâu
hồng hoặc màu tím nhạt, có nhiều chấm (trừ phần bụng) màu đỏ cam, vàng hoặc
vàng; vây lưng và một phần ba trên của vây đi có những chấm giống như những
chấm trên thân; 2/3 dưới của vây đi có màu sẫm, phần rìa phía trên có màu mờ
nhạt điểm trên vây ngực, vây bụng và vây hậu mơn có màu sẫm tối. Giai đoạn cá
nhỏ (> 11 cm) có 7 vạch tối mờ ở mặt lưng trên cơ thể, hai cái đầu tiên ở gáy, cái
cuối cùng ở đuôi, tất cả các vạch nhiều hơn hoặc ít hơn được phân cách bằng chấm
đen, khơng có chấm đen trên đầu hoặc vây. Tồn bộ đầu (kể cả xương hàm trên)
đều phủ vẩy tròn nhỏ [23].

Cá mú dẹt có thân hình thon dài, dẹt bên. Chiều dài bằng 3-3,5 lần chiều cao.
Thân có màu nâu sáng, phần bụng nhạt hơn phần lưng. Phía dưới vây đi và rìa
vây hậu mơn có màu rất đặc trưng, nâu hay nâu đậm. Kích cỡ lớn nhất là 76 cm,
thơng thường bắt gặp 30-50 cm.
1.1.3. Đặc điểm phân bố

Hình 1.2: Vùng phân bố tự nhiên của cá mú dẹt Epinephelus bleekeri trên thế giới
(nguồn fishbase)

Cá mú dẹt chủ yếu phân bố ở Ấn Độ Dương - Tây Thái Bình Dương, từ vịnh
Ba Tư đến Trung Quốc, Đài Loan, Indonesia, Philippines, Thái Lan, bắc Australia
[15]Ở Việt Nam cá mú dẹt chủ yếu phân bố từ vịnh Bắc Bộ đến biển Khánh Hòa.
Cá mú dẹt phân bố rất rộng, tập trung nhiều ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Sống chủ yếu ở vùng biển cạn, nơi có bờ đá và rạn san hô, độ mặn cao và ổn định
[33]

14

1.1.4. Tập tính và mơi trường sống


Cá mú dẹt là loài sống ở vùng gần bờ, các khu vực lân cận có nền đáy mềm
cũng như ở các rạn san hô ven biển và cửa sông ở độ sâu 30 –105 m. Cá mú dẹt là
một trong những lồi khá thích nghi tốt với sự biến đổi của điều kiện môi trường.
Các yếu tố chủ yếu như hàm lượng oxy hòa tan (DO) thích hợp cho cá sinh trưởng
là khoảng 4 – 8 mg/L; pH cũng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng
đến sự sinh trưởng của cá, khoảng thích hợp từ 7 – 9 [25]

Yếu tố nhiệt độ cũng cần được quan tâm vì nó ảnh hưởng đến hơ hấp của cá,
đến độ hòa tan oxy trong nước. Khả năng chịu đựng nhiệt độ của cá từ 20 - 350C,
nhưng giới hạn thích hợp cho sự sinh trưởng phát triển của cá song dẹt nằm trong
khoảng từ 27 - 290C. Ở nhiệt độ 180C, cá bắt đầu có biểu hiện ít ăn và gần như ngưng
hoạt động khi nhiệt độ xuống thấp dưới 150C. Đây cũng là loài rộng muối có khả năng
chịu mặn trong khoảng 14 - 40‰, khoảng từ 30 - 32‰ là thích hợp nhất cho sự sinh
trưởng [15].

1.1.3. Đặc điểm dinh dưỡng, sinh trưởng

Cũng như các loài cá mú trong họ Epinephelinae cá mú dẹt là loài cá dữ, chủ
yếu ăn động vật như: giáp xác, động vật không xương sống, cá con,… Cá mới nở ăn
động vật phù du (luân trùng, Artemia,…), có hiện tượng cá ăn thịt lẫn nhau. Cá
thường bắt mồi cả ngày lẫn đêm nhưng mạnh nhất là vào sáng sớm và chiều tối. Cá
rình và bắt mồi bằng cỡ miệng cực lớn để nuốt trọn con mồi.

Cá mú dẹt là lồi có tốc độ sinh trưởng chậm, ban đầu cá sinh trưởng chậm
và sinh trưởng nhanh khi cá đạt khối lượng 500 g, sau đó tốc độ sinh trưởng chậm
lại khi cá đạt kích cỡ 2 kg. Ở giai đoạn cá giống, sinh trưởng về chiều dài lớn hơn
cá trưởng thành nhưng đến giai đoạn cá trưởng thành thì sự sinh trưởng về khối
lượng lại lớn hơn. Ở kích cỡ 8-12 cm/con thời gian ni trung bình 8-10 tháng cá
đạt kích cỡ 500 g/con.


1.1.4. Đặc điểm sinh sản

Cá mú dẹt là lồi chuyển đổi giới tính, cá cịn nhỏ có kích thước dưới 50 cm
đều là cá cái, khi cá đạt kích cỡ lớn hơn 50 cm thì chuyển thành cá đực. Mùa sinh
sản của cá bắt đầu từ mùa xuân tháng 3 đến tháng 8 và đẻ rộ vào tháng 4 đến tháng
6 hàng năm. Ở Việt Nam và Philippines cá sinh sản quanh năm. Cá thường tập

15

trung thành quần đàn lớn tại một địa điểm nhất định để thực hiện việc đẻ trứng, cá
thường đẻ tại các rạn san hơ nơi có dịng nước chảy mạnh hay những vùng cửa sơng
nơi có nhiều cát, bùn. Cá cái đẻ một lượng lớn trứng tại nơi thích hợp và lợi dụng
sức chảy của nước để di chuyển số lượng lớn trứng đã được thụ tinh đến vùng an
toàn nhằm tránh sự săn bắt của các loài cá dữ săn mồi khác. Trong quá trình di
chuyển, trứng sẽ nở thành ấu trùng và tiếp tục trôi nổi cho đến khi chúng đủ lớn để
có thể di chuyển thành quần đàn. Cá mú con sẽ đạt tuổi thành thục lần đầu khi
chúng được 3 năm tuổi.

1.2. Tình hình nghiên cứu về thức ăn và chất bổ sung trong ương nuôi cá biển
và cá mú

Nghề nuôi cá mú đã phát triển từ lâu và đặc biệt phổ biến ở khu vực châu Á,
nơi tập trung nhiều thị trường tiêu thụ cá song lớn như Hồng Kông, Đài Loan,
Trung Quốc, Nhật Bản,… Bên cạnh thị trường cá thương phẩm ổn định (đặc biệt cá
mú sống), thì thị trường cá mú giống cung cấp cho nuôi phẩm ở khu vực này rất lớn.
Cá giống được cung cấp từ 2 nguồn chủ yếu: bắt từ tự nhiên và sản xuất giống nhân
tạo. Tuy nhiên, nguồn giống khai khác từ tự nhiên đã dần cạn kiệt do việc khai thác
quá mức, trong khi đó nguồn giống sản xuất nhân tạo còn chưa ổn định về số lượng
do công nghệ sản xuất giống cá mú của một số nước là chưa tốt. Công nghệ sản

xuất giống cá mú đã được nghiên cứu và phát triển trong một thời gian dài, tập
trung nhiều nhất là nghiên cứu nâng cao tỷ lệ sống trong ương ni ấu trùng. Chỉ có
một vài nước trong khu vực là có cơng nghệ sản xuất giống tốt như Đài Loan,
Trung Quốc, Malaysia,… nhưng công nghệ này cịn tùy thuộc vào từng lồi cá mú
khác nhau [8].

Trong những năm gần đây, việc sử dụng men Bacillus licheniformis trong
nuôi trồng thủy sản ngày càng được phổ biến. Bởi vì Bacillus licheniformis có khả
năng sản sinh ra những enzyme tốt cho hệ tiêu hóa vật ni như protease,
amylase,… Các enzyme này phân giải glucid, protid, lipid, cellulose,…thành những
chất dễ tiêu hóa hơn. Từ đó, vật ni có thể dễ dàng hấp thụ tối đa những dinh
dưỡng từ nguồn thức ăn, giúp vật ni lớn nhanh. Ngồi ra, với khả năng tiết ra các
enzyme mạnh mẽ của mình, Bacillus licheniformis phân hủy nhanh các chất thải
hữu cơ từ đó làm sạch nước, sạch đáy và hạn chế khí độc ao nuôi [57].

Trong sản xuất giống cá biển, vấn đề dinh dưỡng có vai trò rất quan trọng,
liên quan đến tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của cá. Việc xác định thức ăn và chất

16

bổ sung có hàm lượng dinh dưỡng phù hợp cho từng giai đoạn phát triển có ý nghĩa
rất lớn trong việc nâng cao tỷ lệ sống và sinh trưởng của cá. Đặc điểm dinh dưỡng
của các loài cá khác nhau thường khơng giống nhau. Ngay trong cùng một lồi, ở
các giai đoạn sinh trưởng khác nhau thì thức ăn của chúng cũng khác nhau. Sự thay
đổi này phụ thuộc vào mức độ phát triển của cơ quan tiêu hóa, tập tính bắt mồi và
nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể. Nghiên cứu về đặc điểm dinh dưỡng của cá qua các
giai đoạn sinh trưởng giúp ích trong việc nghiên cứu ni vỗ thành thục, ương các
giai đoạn cá giống. Vì vậy trên thế giới và trong nước cũng đã có nhiều nghiên cứu
về thức ăn và chất dinh dưỡng bổ sung ở những giai đoạn khác nhau.


1.2.1. Tình hình nghiên cứu về thức ăn và chất bổ sung trong ương nuôi cá biển
trên thế giới

Khi động vật thủy sản sử dụng thức ăn khơng có protein hoặc hàm lượng
protein q thấp, cơ thể giảm khối lượng, bởi vì chúng sẽ sử dụng protein của cơ
thể để duy trì các chức năng sống tối thiểu để tồn tại. Trái lại, nếu thức ăn được
cung cấp q nhiều protein thì protein dư khơng được cơ thể hấp thụ để tổng hợp
protein mới mà sử dụng để chuyển hóa thành năng lượng hoặc thải ra ngồi. Hơn
nữa, cơ thể cịn phải tốn năng lượng cho q trình tiêu hóa protein dư thừa, vì thế
sinh trưởng của cơ thể giảm.

Nhu cầu protein của cá giai đoạn giống cao hơn so với cá ở giai đoạn trưởng
thành, đối với các lồi cá khác nhau thì nhu cầu protein trong thức ăn cũng khác
nhau. Thơng thường những lồi cá dữ có nhu cầu protein cao hơn những lồi cá
hiền, cá hanh đỏ (Chrysophrys major) và cá bơn sao (Pleuronectes platessa) 50 -
55%, cá mú chuột (Cromileptes altivelis) và cá vược mõm rộng (Micropterus
salmoides) 40 – 45%, trong khi, cá nheo (Lactalurus punctatus) chỉ từ 32 – 36 %.

Nhu cầu protein ở cá có sự thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển với xu hướng
chung là giai đoạn còn non và thành thục sinh dục nhu cầu cao hơn, liên quan đến
việc xây dựng cấu trúc các cơ quan trong cơ thể cũng như tạo các sản phẩm sinh
dục giảm. Hàm lượng protein trong thức ăn của cá chim Florida thương phẩm
thường ở mức 40% trong khi giai đoạn giống thường tối thiểu 45%. Nghiên cứu về
ảnh hưởng của hàm lượng protein và lipid trên cá chim vây vàng (T. ovatus) giai
đoạn giống, Wang và cs, 2003 [48] nhận thấy, tốc độ sinh trưởng của cá tỷ lệ thuận
với sự gia tăng của hàm lượng protein trong thức ăn (33, 37, 41, 45 và 49%) ở cùng
một hàm lượng lipid (6,5 hoặc 12,5%) nhưng lại thấp hơn ở hàm lượng lipid cao

17


hơn. Hàm lượng protein trong thức ăn từ 45 và 49% cho tốc độ sinh trưởng cao hơn
và hệ số FCR thấp hơn so với hàm lượng protein 33, 37 và 41%. Hiệu quả sử dụng
thức ăn cũng cao hơn khi gia tăng hàm lượng protein từ 33 đến 41%. Nghiên cứu
cũng chỉ ra rằng, hàm lượng protein và lipid thích hợp ở cá chim vây vàng là 45 –
49% và lipid 6,5% [11].

Nhu cầu về axít béo khơng no mạch dài (HUFA) trong thức ăn, đặc biệt là các
axít béo n-3, chủ yếu là DHA và EPA cho sự phát triển và tỷ lệ sống một số loài cá
biển kinh tế được đề cập trong nghiên cứu của một số tác giả [31], [18].
Phospholipid tạo thành từ những axít béo này, đặc biệt là DHA, đóng vai trị cấu
trúc quan trọng trong việc tăng cường các chức năng của màng sinh học trong tế
bào của hầu hết các mô. Mặc dù, mối quan hệ trực tiếp giữa ảnh hưởng có lợi của
phospholipid trong thức ăn và q trình biến thái thành cơng của ấu trùng là không
được thể hiện rõ ràng, tuy nhiên việc bổ sung phospholipid thơng qua các axít béo
đã được chứng minh rõ ràng làm tăng tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống trong suốt
giai đoạn ấu trùng và giai đoạn giống của cá biển [14]. Đáng chú ý, đối với cá nhỏ,
đặc biệt là ấu trùng, nhu cầu sử dụng lipid là cao trong khẩu phần thức ăn [19]. Ở
giai đoạn ấu trùng, lipid là nguồn cung cấp các axít béo cần thiết, các axít béo này
rất quan trọng cho quá trình phát triển, trao đổi chất, chức năng sinh lý và xây dựng
cơ thể động vật thủy sản.

Đối với ấu trùng, hầu hết nhu cầu dinh dưỡng phụ thuộc vào thành phần dinh
dưỡng của thức ăn sống. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu về dinh dưỡng của cá mú
thì vẫn cịn rất ít. Một vài nghiên cứu tập trung vào sự phát triển hệ thống tiêu hóa
của ấu trùng cá mú nhằm mục đích hiểu về chức năng sinh lý của hệ thống này và là
cơ sở để phát triển thức ăn nhân tạo cho ấu trùng, ví dụ như hệ thống tiêu hóa của
ấu trùng cá mú chấm nâu (E. coioides) hoàn chỉnh và sẵn sàng tiếp nhận thức ăn
bên ngoài sau khi mở miệng (thường 3-4 ngày sau khi trứng thụ tinh tùy vào nhiệt
độ)


Ngồi ra, Vine và cs 2006 [47] cịn thành công ở mức độ nhất định trong việc
sử dụng thức ăn tổng hợp kích thước siêu nhỏ thay thế thức ăn sống trong ương
nuôi cá mú chuối từ khi ăn thức ăn ngoài tới 25 ngày ương .. Nghiên cứu của
Olsson và cộng sự (1992) chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng của cá mú phụ thuộc rất
nhiều vào tỷ lệ DHA và EPA. Cá con cá mú tăng trưởng nhanh hơn khi thành phần
dinh dưỡng có tỷ lệ DHA: EPA là 6,3 so với 1,73 – 2,75 [31].

18

Jen-Hong Sheen và Shyn-Shin (2016) đã tiến hành nghiên cứu tác động của
mức lipid lên sự tăng trưởng, sự sống và thành phần axit béo của cơ thể của cá con
cá mú mè (Epinephelus coioides) và cá mú nghệ (Epinephelus lanceolatus). Các kết
quả trong nghiên cứu này chỉ ra rằng 9,5% và 7,5% mức lipid trong khẩu phần là
cần thiết để tối ưu hóa sự tăng trưởng của 0,14 g E. coioides và 0,09 g E.
lanceolatus, tương ứng và 0,09 g E. lanceolatus, cá bị ảnh hưởng bởi mức n-
3HUFA trong chế độ ăn nhân tạo.

Các hệ thống ni thâm canh bao gồm hệ thống tuần hồn (RAS) hỗ trợ sự
phát triển của tác nhân và cơ hội của vi khuẩn do lượng chất hữu cơ thừa qua thức
ăn, phân, ấu trùng chết khiến ấu trùng không khả năng miễn dịch và dễ bị nhiễm vi
khuẩn này [43]. Việc thiếu một hệ vi sinh vật khỏe mạnh, ổn định trước khi bổ sung
cho ấu trùng đóng vai trị quan trọng đến tỷ lệ sống trong hệ thống ương nuôi [21].
Cách quản lý truyền thống bằng việc sử dụng hóa chất bao gồm cả kháng sinh để
phịng và điều trị nguồn bệnh, tuy nhiên sự xuất hiện mầm bệnh kháng khánh sinh
và những ảnh hưởng của hóa chất này tới hệ vi sinh vật trong nước và đường tiêu
hóa đã thúc đẩy chiến lược thay thế, bền vững nhằm mục đích quản lý hệ vi khuẩn
trong ni trồng thủy sản [19]. Một chiến lược như vậy là sử dụng men vi sinh sống,
vi khuẩn có lợi được bổ sung vào thức ăn hoặc nước để cải thiện chất lượng nước,
tiêu hóa và chức năng miễn dịch. Vi khuẩn Probiotic xâm nhập vào ấu trùng và cải
thiện sức khỏe thông qua việc loại trừ cạnh tranh và sản xuất các hợp chất chống lại

tác nhân và những kẻ cơ hội [33]. Kích thích hệ thống miễn dịch bẩm sinh của ấu
trùng bằng men vi sinh giúp kích hoạt nhanh chóng các kháng nguyên giúp cải thiện
khả năng sống sót và chống lại mầm bệnh [28]. Nghiên cứu trên cá chẽm châu Âu
(D. labrax) cho thấy sự hiện diện của Lactobacillus delbrueckii delbrueckii trong ruột
cá khi sử dụng như là chế phẩm sinh học từ giai đoạn từ 11-70 ngày tuổi đạt (5,68
log CFU/g) và nghiệm thức sử dụng từ giai đoạn 30 - 70 ngày tuổi (4,35 log CFU/g)
cao hơn so với nghiệm thức đối chứng (0,45 log CFU/g). Bên cạnh đó thì khối
lượng cơ thể cũng có sự khác biệt đáng kể giữa các nghiệm thức lần lượt (85 ±
5,36mg; 60 ± 6,7mg và 47 ± 4,69mg), tuy nhiên chiều dài khơng có sự khác nhau về
thống kê (p<0,05) (21,9 ± 2,99mm; 19,7 ± 2,55mm và 16,4 ± 2,7mm). Số liệu cho
thấy việc bổ sung Lactobacillus delbrueckii delbrueckii như chế phẩm sinh học có ảnh
hưởng tích cực đến sự phát triển của cá con [16]. Nghiên cứu chi tiết hơn trên cá chẽm
châu Âu, tác giả Silvi và cs (2008) [41] khi nghiên cứu bổ sung Lactobacillus sp trên
các giai đoạn ương nuôi cá cụ thể 11, 22, 30, 50 và 70 ngày tuổi, số lượng Lactobacillus sp

19

trong đường ruột ấu trùng cá giai đoạn đầu 11 ngày tuổi khơng có sự khác nhau giữa các
nghiệm thức bổ sung và đối chứng [41]. Tuy nhiên, đến giai đoạn cá 30 -70 ngày tuổi bổ
sung vào trong thức ăn tổng hợp và artermia cho thấy sự hiện diện của Lactobacillus sp
trong đường ruột cao hơn so với nghiệm thức bổ sung sớm và đối chứng. Tác dụng
hữu ích của các chế phẩm sinh học như một chất phụ gia bổ sung dinh dưỡng tăng hiệu
quả sử dụng thức ăn và ngăn ngừa rối loạn đường ruột [41]. Ngoài ra, các nghiên
cứu gần đây tập trung vào chế phẩm sinh học chủ yếu liên quan đến khả năng kháng
một số mầm bệnh dưới nước như Vibrio sp [34] Amyloodinium ocellatum [30],
Carnobacterium sp. [38], một số nghiên cứu nhắm đến hiệu suất tăng trưởng và
tăng các hoạt động của enzym trong cá [38]. Theo một số nghiên cứu cho thấy được
vi khuẩn Bacillus cũng đã được sử dụng rộng rãi như chế phẩm sinh học đặc biệt B.
subtilis, một loại gram dương khơng gây bệnh, vi khuẩn hình thành bào tử được sử
dụng rộng rãi cho điều trị phòng rối loạn đường tiêu hóa, cải thiện chất lượng mơi

trường và tăng tỷ lệ sống của vật nuôi [50]; [29]. Thêm vào đó B. Subtilis cịn được
biết đến vai trị sản xuất men tiêu hóa protease và các enzym khác điều đó cho thấy
được sự đóng góp vào hoạt động tiêu hóa tự nhiên của các lồi ni [26]. Sự hiện
diện của Bacillus sp bổ sung vào luân trùng và nước khi ương cá tráp Sparus
aurata, cho thấy đạt hiệu quả hơn ở các thông số tăng trưởng được sinh trưởng và
tỷ lệ sống của cá sau 40 ngày ương nuôi đạt L: 21,17±1,8 mm; W: 28,12± 4,2 mg;
SGR 7,8%/ngày và tỷ lệ sống 16,7% cao hơn so với đối chứng L: 17,03 ± 1,2 mm;
W: 24,28 ± 3,1 mg; SGR: 7,1%/ngày và tỷ lệ sống đạt 8,2% [32].

Bệnh trong q trình ương ni cá mú cũng là một trong những nguyên nhân
chính ảnh hưởng tới tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và đặc biệt là chất lượng cá con.
Vi khuẩn Vibrio thường là tác nhân gây bệnh trong ương nuôi cá mú là Vibrio
alginolyticus và V. carchariae, trong hai vi khuẩn này thì Vibrio alginolyticus được
biết đến là nguyên nhân gây chết với số lượng lớn trong ni cá mú [22]. Ngồi ra
một số Vibrio khác cần kể đến như V. anguillarum, V. parahaemolyticus, V.
alginolyticus, V. vulnificus, V. harveyi and V. carchariae là những vi khuẩn gây
triệu chứng nhiễm trùng huyết do xuất huyết nặng và viêm dạ dày ruột. Gần đây,
bệnh do vi-rút VNN gây ra trên cá song cũng đang gây những hậu quả nghiêm trọng
trong sản xuất giống, làm ảnh hưởng tới thị trường xuất khẩu cá song giống ở Đài
Loan [53]. Theo Harikrishnan và cs (2011) thì chỉ có cách giúp cá có khả năng
chống chịu với các tác nhân gây bệnh là làm cho hệ miễn dịch hoạt động mạnh mẽ
lên bằng cách sử dụng probiotics [27]. Định nghĩa mới về probiotic sử dụng trong

20


×