HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TP.HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Mơn: Diễn án hành chính
Mã số hồ sơ: ĐTC 09/HC
MỤC LỤC
I. NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN.......................................................................2
1.TÓM TẮT VỤ VIỆC:.................................................................................................................................................2
2. ĐỐI TƯỢNG KHỞI KIỆN:......................................................................................................................................2
3. QUAN HỆ PHÁP LUẬT TRANH CHẤP:...................................................................................................................3
4. YÊU CẦU KHỞI KIỆN CỦA ĐƯƠNG SỰ:................................................................................................................3
5. THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CỦA TÒA ÁN:...........................................................................................................3
6. ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN:..................................................................................................................................4
7. THỜI HIỆU KHỞI KIỆN:.......................................................................................................................................4
8. LUẬT ÁP DỤNG:...................................................................................................................................................5
II. PHẦN CÁC CHỨC DANH...............................................................................6
1. CHỨC DANH THẨM PHÁN:..................................................................................................................................6
1.1. Dự kiến kế hoạch hỏi:...................................................................................................................................6
1.2 Dự thảo bản án:..............................................................................................................................................8
2. KIỂM SÁT VIÊN:................................................................................................................................................20
2.1 Dự thảo kế hoạch hỏi:..................................................................................................................................20
2.2 Dự thảo bài phát biểu của kiểm sát viên:....................................................................................................21
3. LUẬT SƯ:..............................................................................................................................................................27
3.1 Dự kiến kế hoạch xét hỏi:............................................................................................................................27
3.2 Dự thảo bài luận cứ:....................................................................................................................................28
NHẬN XÉT DIỄN ÁN..........................................................................................32
I. NGHIÊN CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN
1. Tóm tắt vụ việc:
Ơng Trần Văn Đồi và bà Nguyễn Thị Hin có 04 người con chung là bà Nguyễn Thị Vân,
ơng Trần Trung Cử, bà Nguyễn Thị Tú, bà Trần Thị Minh. Ơng Đồi chết năm 1974, bà Hin chết
năm 1997 đều không để lại di chúc. Di sản để lại là thửa 11, tờ bản đồ số 41, diện tích 815m2 tại
thơn Kênh Trang, Tân Hưng, Vĩnh Bảo, Hải Phịng.
Ông Trần Trung Cử do đi công tác trong thành phố Hồ Chí Minh và ở xa gia đình nên
đến năm 2011, ông mới phát hiện diện tích đất trên của bố mẹ ông đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 123/QSDĐ ngày 04/03/2005 (GCN QSDĐ số 123) mang tên hộ ông Bùi
Trọng Trang và bà Lê Thị Thúy. Ngày 04/07/2012, ơng Cử có đơn khiếu nại gửi đến Uỷ ban
nhân dân (UBND) huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng về việc cấp giấy chứng nhận là trái pháp luật,
yêu cầu hủy Giấy chứng nhận và trả lại đất cho gia đình ơng. Ngày 24/09/2013, UBND huyện
Vĩnh Bảo trả lời đơn của ông Cử về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng quy
định pháp luật. Ngày 05/06/2014, ông Cử tiếp tục làm đơn khiếu nại gửi tới UBND huyện Vĩnh
Bảo. Ngày 02/12/2015, ông Cử nhận được Quyết định số 2895/QĐ-UBND ngày 18/11/2015 của
UBND huyện Vĩnh Bảo với nội dung: “Không chấp nhận đề nghị của ông Trần Trung Cử về
việc thu hồi Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số 123/QSDĐ [...]”. Không đồng ý với Quyết
định trên, ngày 15/12/2015, ông Cử đã khởi kiện UBND huyện Vĩnh Bảo ra Tòa án nhân dân
huyện Vĩnh Bảo yêu cầu hủy GCN QSDĐ số 123 đã cấp cho hộ ông Bùi Trọng Trang và bà Lê
Thị Thúy.
2. Đối tượng khởi kiện:
GCNQSDĐ số 123:
Ông Trần Trung Cử khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo hủy GCN
QSDĐ số 123. Theo Văn bản giải đáp số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 giải đáp vấn đề về tố
tụng hành chính, tố tụng dân sự do Tịa án nhân dân tối cao ban hành thì giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất là quyết định hành chính.
Quyết định giải quyết khiếu nại số 2895/QĐ-UBND ngày 18/11/2015 của Chủ tịch
UBND huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, khi xem xét yêu
cầu của đương sự, Tịa án xem xét tính hợp pháp cả quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan
đến quyết định hành chính. Do đó, Quyết định giải quyết khiếu nại số 2895 ngày 18/11/2015 của
Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Bảo cũng là đối tượng khởi kiện trong vụ án này.
3. Quan hệ pháp luật tranh chấp:
Ông Trần Trung Cử khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo hủy Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 123 do UBND huyện Vĩnh Bảo cấp ngày 04/3/2005, do đó quan hệ
tranh chấp là khiếu kiện “Quyết định hành chính về trong lĩnh vực về quản lý đất đai”.
4. Yêu cầu khởi kiện của đương sự:
- Yêu cầu hủy toàn bộ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 123 do UBND huyện Vĩnh
Bảo cấp ngày 04/3/2005 và Quyết định giải quyết khiếu nại số 2895/QĐ-UBND ngày
18/11/2015 của Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Bảo.
5. Thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Thẩm quyền theo vụ việc: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 123 do UBND huyện
Vĩnh Bảo cấp ngày 04/3/2005 là quyết định hành chính nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án (khoản 1 Điều 28 Luật TTHC 2010).
Thẩm quyền theo cấp Tòa án và lãnh thổ: Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị quyết về
việc thi hành Luật TTHC 2015 quy định “Đối với những khiếu kiện quyết định hành chính, hành
vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đã được
Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý giải quyết trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 thì Tịa án đã thụ
lý tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà khơng chuyển cho Tịa án nhân dân cấp tỉnh giải
quyết”. Trong vụ án này, ông Trần Trung Cử khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vĩnh
Bảo hủy Giấy chứng nhận đã cấp cho ông Trang và Bà Thúy vào ngày 23/02/2016, ngày
25/02/2016, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo ra thông báo thụ lý vụ án số 01/2016/TB-TLVA.
Do đó, Tịa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
6. Đương sự trong vụ án:
Người khởi kiện: Ông Trần Trung Cử (khoản 8 Điều 3 Luật TTHC 2015) vì ơng là người
khởi kiện đến Tồ án cho rằng mình quyền lợi ích của mình bị xâm phạm Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 123.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Vũ Văn Vinh.
Người bị kiện: UBND huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Phòng (khoản 9 Điều 3 Luật TTHC
2015, khoản 2 Điều 52 Luật Đất đai 2003).
→ Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trọng Nhưỡng – Chủ tịch UBND huyện
Vĩnh Bảo.
→ Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trịnh Khắc Tiến - Phó Chủ tịch UBND huyện
Vĩnh Bảo (theo Giấy uỷ quyền số 1056/UQ-UBND ngày 15/8/2016) (khoản 3 Điều 60 Luật TTHC
2015).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị Minh;
- Bà Nguyễn Thị Vân;
- Bà Trần Thị Tú;
- Ông Bùi Trong Trang;
- Bà Lê Thị Thúy;
- Ông Phạm Văn Quyết;
- Ông Phạm Quang Hồng;
- Bà Bùi Thị Quýt.
7. Thời hiệu khởi kiện:
Trong vụ kiện này, ông Trần Trung Cử có làm đơn khiếu nại gửi đến UBND huyện Vĩnh
Bảo và đã được trả lời bằng Quyết định giải quyết khiếu nại số 2895/QĐ-UBND ngày
18/11/2015 của Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Bảo. Ngày 02/12/2015 ông nhận được Quyết định
giải quyết khiếu nại nêu trên. Do đó, theo khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 104 ngày 25/11/2015 của
Quốc hội và điểm a khoản 3 Điều 116 Luật TTHC 2015 ơng Cử có quyền khởi kiện trong thời
hạn 01 năm kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, cụ thể là 01 năm kể từ ngày
02/12/2015.
Ngày 15/12/2015, ông Trần Trung Cử đã có đơn khởi kiện gửi Tịa án nhân dân huyện
Vĩnh Bảo, vẫn trong thời hạn 01 năm kể từ ngày 02/12/2015. Vậy vẫn còn trong thời hiệu khởi
kiện.
8. Luật áp dụng:
- Luật Tố tụng hành chính năm 2010;
- Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
- Nghị quyết số 104 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành luật Tố tụng hành
chính;
- Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng thẩm phán TANDTC
về hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật TTHC;
- Văn bản giải đáp số 02 ngày 19/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao về giải đáp một số
vấn đề về tố tụng hành chính, tố tụng dân sự;
- Bộ luật dân sự 1995;
- Bộ luật dân sự 2005;
- Luật đất đai năm 2003;
- Luật khiếu nại năm 2011;
- Nghị định số 75/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều
của Luật Khiếu nại.
II. PHẦN CÁC CHỨC DANH
1. Chức danh thẩm phán:
1.1. Dự kiến kế hoạch hỏi:
Hỏi người khởi kiện:
- Ông cho biết mối quan hệ giữa ông và cụ Nguyễn Thị Hin, bà Trần Thị Minh, bà Trần Thị Tú?
- Cụ Nguyễn Thị Hin chết năm nào?
- Khi cụ Hin mất, có để lại di chúc khơng?
- Khi cịn sống, cụ Hin có tạo lập được tài sản gì khơng?
- Trước khi mất, cụ Hin có dặn dị gì khơng?
- Sau khi mẹ ông mất, các anh chị em ông có lập thủ tục kê khai di sản thừa kế không?
- Sau khi cụ Hin mất, ai là người trực tiếp quản lý, trơng coi mảnh đất?
- Ơng có biết việc bà Minh viết giấy biên nhận và giấy chuyển nhượng QSD đất cho ơng Trang
khơng?
- Ơng biết việc ơng Trang được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất mảnh mất của mẹ ơng
từ khi nào?
- Lý do vì sao UBND không chấp nhận yêu cầu khiếu nại của ông?
- Tại sao ông cho rằng Giấy chứng nhận cấp cho ông Trang là sai?
Hỏi vợ chồng ông Trang hoặc bà Thúy - người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông, bà nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ai? Khi nào?
- Có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khơng?
- Sau này ơng có chuyển nhượng đất cho ai không?
- Hiện tại ai đang quản lý, sử dụng?
- Ơng, bà có ý kiến gì về việc ông Cử yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp
cho ông, bà?
Hỏi người bị kiện:
- Ông cho biết nguồn gốc thửa đất số 11, tờ bản đồ 41, diện tích 815m2?
- Ai là người đứng tên GCN QSDĐ?
- UBND huyện Vĩnh Bảo căn cứ vào đâu để cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho ơng
Trang?
- Các hồ sơ kèm theo đó là gì?
- Hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất của ông Trang nộp ngày nào?
- Việc cấp Giấy chứng nhận QSD đất có tiến hành đo đạc về hiện trạng sử dụng đất khơng? Có
xác định vị trí thửa đất khơng? Có ký giáp ranh đất khơng?
- Khi thẩm tra về đất, có xem xét nguồn gốc đất không?
- Tại thời điểm ông Trang nộp hồ sơ, Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất mang tên ai?
- Sau khi UBND huyện Vĩnh Bảo nhận hồ sơ đề nghị cấp GCN, UBND có tiến hành thẩm tra hồ
sơ không?
- Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị Hin, nhưng trên hợp đồng chuyển
nhượng Quyền sử dụng đất lại là bà Trần Thị Minh, UBND có xác minh vấn đề này không?
- Hồ sơ liên quan đến việc thừa kế, UBND xã Tân Hưng có trình cho UBND huyện Vĩnh Bảo
khơng?
- UBND huyện Vĩnh Bảo có yêu cầu UBND xã cung cấp không?
- UBND huyện Vĩnh Bảo xác nhận vào Hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Minh và ông Trang
vào ngày nào?
- Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất của ông Trang và bà Thúy được cấp vào ngày nào?
- Tại sao ngày 15/04/2005, UBND huyện Vĩnh Bảo mới xác nhận vào Hợp đồng chuyển nhượng
nhưng giấy chứng nhận lại cấp ngày 04/03/2005?
- UBND huyện Vĩnh Hảo đã căn cứ văn bản pháp luật để cấp Giấy chứng nhận cho ơng Trang?
1.2 Dự thảo bản án:
TỊA ÁN NHÂN DÂN TP. HẢI PHÒNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
HUYỆN VĨNH BẢO
Bản án số: 209/HC-ST
Ngày: 16/9/2016
V/v Khiếu kiện hủy giấy chứng nhận Quyền sử
dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, TP. HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Hội thẩm nhân dân: 1.
2.
- Thư ký phiên tòa: ……………– Thư ký Tòa án nhân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phịng tham gia phiên tồ:
Nguyễn Đình Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2016, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng tiến
hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2016/TLST-HC ngày 25 tháng 02 năm 2016
về khiếu kiện “Hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 01/2016/QĐST-HC ngày 25 tháng 08 năm 2016 giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Trần Trung Cử, sinh năm 1948.
Địa chỉ thường trú: 76/4C, đường Bùi Đình Túy, Phường 24, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ
Chí Minh.
Chỗ ở hiện tại: Số 4/32A, Đường số 6, Khu phố 2, phường Linh Tây, quận Thủ Đức, thành phố
Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Vũ Văn Vinh (theo Giấy uỷ quyền ngày 24/02/2016).
- Người bị kiện: UBND huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng
Trụ sở: Đường 20/8 thị trấn Vĩnh Bảo, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phịng.
Đại diện theo pháp luật: Ơng Nguyễn Trọng Nhưỡng – Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Bảo.
Đại diện theo ủy quyền: Ơng Trịnh Khắc Tiến – Phó Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Bảo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Bùi Trọng Trang, sinh năm 1964.
- Bà Lê Thị Thúy, sinh năm 1965.
Cùng địa chỉ: Thôn Kênh Trang, xã Tân Hưng, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng.
- Bà Trần Thị Tú, sinh năm 1949.
Địa chỉ: Khu dân cư Tiền Hải, thị trấn Vĩnh Bảo, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
- Bà Trần Thị Minh, sinh năm 1956..
Địa chỉ: Thôn Kênh Trang, xã Tân Hưng, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
- Bà Nguyễn Thị Vân, sinh năm 1938.
Địa chỉ: Số nhà 54, đường 208, thôn Cái Tắt, xã An Đồng, huyện An Dương, thành phố Hải
Phòng.
- Bà Bùi Thị Quýt, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Số nhà 22, ngách 32/76, An dương, Yên Phụ, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
- Ông Phạm Quang Hồng, sinh năm 1960.
Địa chỉ: Số nhà 302, đường Hùng Vương, phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng, thành phố Hải
Phịng.
- Ơng Phạm Văn Quyết, sinh năm 1976
Địa chỉ: Thôn Kênh Trang, xã Tân Hưng, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tịa ngày hơm nay, người khởi kiện
và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày
Ông Trần Văn Đồi và bà Nguyễn Thị Hin, có 04 người con chung là bà Nguyễn Thị
Vân, sinh năm 1938; ông Trần Trung Cử, sinh năm 1948; bà Nguyễn Thị Tú sinh năm 1949 và
bà Trần Thị Minh, sinh năm 1956. Ơng Đồi chết năm 1974, bà Hin chết năm 1997 không để lại
di chúc, di sản để lại là thửa 11, tờ bản đồ số 41, diện tích 815m2 tại thơn Kênh Trang, Tân
Hưng, Vĩnh Bảo, Hải Phịng.
Do đi công tác trong thành phố Hồ Chí Minh và ở xa gia đình nên đến năm 2011, ơng
Trần Trung Cử phát hiện diện tích đất trên của bố mẹ ơng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số 123/QSDD ngày 04/03/2005 và mang tên hộ ông Bùi Trọng Trang và bà Lê Thị
Thúy.
Ngày 05/09/2011, ơng Cử có đơn gửi các cơ quan chức năng đề nghị xem xét việc cấp
giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho hộ ông Bùi Trọng Trang và bà Lê Thị Thúy đồng thời
yêu cầu trả lại mảnh đất trên cho gia đình ơng để làm nhà thờ cúng tổ tiên.
Ngày 04/07/2012, ơng Cử có đơn khiếu nại gửi đến UBND huyện Vĩnh Bảo về việc cấp
giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho ông Trang và bà Thúy là trái phấp luật và yêu cầu hủy
Giấy chứng nhận và trả lại đất cho gia đình ông.
Ngày 31/05/2013, Phịng Tài ngun và mơi trường huyện Vĩnh Bảo đã có văn bản trả lời
về việc giải quyết đơn khiếu nại về việc cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho ông Trang
và bà Thúy.
Ngày 24/09/2013, UBND huyện Vĩnh Bảo có cơng văn số 762/UBND-TTr trả lời đơn
của ơng Trần Trung Cử.
Ngày 05/06/2014, ông Cử tiếp tục làm đơn khiếu nại gửi tới UBND huyện Vĩnh Bảo.
Ngày 02/12/2015, ông Cử nhận được Quyết định số 2895/QĐ-UBND ngày 18/11/2015
của UBND huyện Vĩnh Bảo với nội dung: “Không chấp nhận đề nghị của ông Trần Trung Cử về
việc thu hồi Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số 123/QSDĐ diện tích 851m2 thửa số 11, tờ
bản đồ số 41 đã cấp cho ông Bùi Trọng Trang và bà Lê Thị Thúy ở Kênh Trang, tân Hưng, Vĩnh
Bảo, Hải Phòng”.
Không đồng ý với Quyết định trên của UBND huyện Vĩnh Bảo, ngày 15/12/2015 ông Cử
đã khởi kiện UBND huyện Vĩnh Bảo ra Tòa án Nhân dân huyện Vĩnh Bảo yêu cầu hủy Giấy
chứng nhận Quyền sử dụng đất số 123/QSDD ngày 04/03/2005 của UBND huyện Vĩnh Bảo, Hải
Phòng đã cấp cho hộ ông Bùi Trọng Trang và bà Lê Thị Thúy.
Đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo là ơng Trịnh Khắc Tiến
trình bày:
UBND huyện Vĩnh Bảo không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Trung Cử, bởi
các căn cứ sau:
Việc ơng Cử có đơn u cầu giải quyết tranh chấp đất đã được UBND huyện Vĩnh Bảo
chủ trì hịa giải nhiều lần, đồng thời đã ra các văn bản trả lời ông Trần Trung Cử. Theo hồ sơ
chuyển nhượng Quyền sử dụng đất, năm 1997, bà Nguyễn Thị Hin chết không để lại di chúc.
Sau khi bà Hin chết, bà Trần thị Minh – con gái của bà Hin là người trực tiếp trong coi mảnh đất
trên. Ngày 13/09/1999, bà Trần Thị Minh viết giấy biên nhận số tiền 5.500.000 đồng của ông
Bùi Trọng Trang trú tại Cụm 1, Kênh Trang, Tân Hưng, Vĩnh Bảo, Hải Phịng với nội dung “Tơi
chuyển nhượng đất thổ cư của gia đình tơi ở Cụm I”.
Ngày 09/07/2002, bà Minh viết giấy chuyển nhượng Quyền sử dụng đất ở cho ông Bùi
Trọng Trang và đề nghị UBND xã Tân Hưng, Phịng Nơng nghiệp và Phát triển nông thôn huyện
Vĩnh Bảo làm thủ tục chuyển nhượng với nội dung “Mẹ tôi là bà Nguyễn Thị Hin có thửa đất thổ
cư diện tích là 851m2. Năm 1997, mẹ tơi mất có để lại thửa đất đó cho tơi sử dụng. Nay tơi xét
thấy điều kiện sinh hoạt không phù hợp, tôi nhượng lại cho anh Bùi Trọng Trang và bà Lê Thị
Thúy với số tiền 6.000.000 đồng…” Hai bên đã ký vào giấy chuyển nhượng trên. Ngày
09/07/2002, bà Trần Thị Tú có viết Giấy chuyển nhượng thừa kế cho em gái – bà Minh được
quyền sử dụng đất thổ cư của bà Nguyễn Thị Hin là mẹ đẻ của bà. Chủ tịch UBND xã tân Hưng
đã xác nhận bà Trần Thị Tú, bà Trần Thị Minh đều là con đẻ của bà Nguyễn Thị Hin vào ngày
22/02/2004.
Ngày 24/01/2005, ban địa chính xã Tân Hưng xác nhận “Bà Nguyễn Thị Hin có thửa đất
thổ cư số 11, tờ bản đồ số 41, đã đăng ký vào sổ địa chính thừa kế cho con gái là bà Trần Thị
Minh”. Ngày 26/01/2005, ơng Bùi Trọng Trang có đơn xin đăng ký Quyền sử dụng đất. Căn cứ
vào đơn xin đăng ký Quyền sử dụng đất của ông Trang và các tài liệu, UBND xã Tân Hưng đã
lập hồ sơ và làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho ông Trang. Hồ sơ cấp Giấy
chứng nhận Quyền sử dụng đất cho ông Trang đã đảm bảo quy định của Luật đất đai năm 2003.
Tại thời điểm bà Minh chuyển nhượng Quyền sử dụng đất của bà Hin cho ơng Trang và
bà Thúy thì UBND xã Tân Hưng khơng biết bà Hin có 04 người con là bà Minh, bà tú, ông Cử
và bà Vân vì thực tế ơng Cử và bà Vân đã khơng còn sinh sống ở địa phương từ nhỏ. Năm 1999,
bà Minh là người quản lý sử dụng diện tích đất của bà Hin, bà Minh đã chủ động chuyển nhượng
đất và đã nhận đầy đủ tiền của ơng Trang. Vì vậy, tại thời điểm cấp giấy chứng nhận Quyền sử
dụng đất cho ông Trang và bà Thúy, UBND huyện Vĩnh Bảo đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục
theo quy định pháp luật.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khơng có u cầu độc lập đối với vụ
án.
Tại phiên tịa ngày hơm nay, vị đại diện Viện kiểm sát huyện Vĩnh Bảo phát biểu quan
điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay, Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Luật tố tụng hành
chính.
Về quan điểm giải quyết vụ án: theo quy định tại khoản 2 Điều 52 Luật đất đai 2003,
thẩm quyền cấp giấy chứng nhận là của UBND huyện Vĩnh Bảo. Thửa đất số 11, tờ bản đồ số 41
với 851m2, tọa lạc tại Kênh Trang, xã Tân Hưng huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng mang
tên chủ sở hữu là bà Hin. bà Hin chết không để lại di chúc. Căn cứ quy định tại Điều 679, Điều
688 BLDS 1995 ơng Cử, bà Tú, bà Vân đều có quyền thừa kế đối với thửa đất đang tranh chấp
nêu trên. Hợp đồng chuyển khơng có chữ ký cũng như sự đồng ý của những người này mà chỉ có
chữ ký của bà Minh và vợ chồng bên nhận chuyển nhượng là ông Trang bà Thuý. Căn cứ quy
định tại Điều 49, 50 Luật đất đai 2003, khoản 3 Điều 146 Nghị định 181/2004/NĐ-CP, Điều 127
Luật đất đai 2003 thì việc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 123/QSDĐ không phù hợp với
quy định pháp luật. Đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 123/QSDĐ cấp cho hộ
ông Trần Trọng Trang và bà Lê Thị Thuý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ
vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
Về tố tụng
Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:
Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận 123/QSDĐ do Ủy
ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo ngày 04/03/2005, theo Quyết định về việc cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do nhận chuyển nhượng
Quyền sử dụng đất cho ông Bùi Trọng Trang và bà Lê Thị Thúy là Quyết định hành chính trong
lĩnh vực đất đai.
Căn cứ Điều 30, Điều 31 Luật tố tụng hành chính năm 2015; khoản 5 Điều 1 Nghị quyết
số 104/2015/QH13 của Quốc hội về việc thi hành Luật tố tụng hành chính thì Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính và thuộc thẩm quyền của Tòa án
nhân dân huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng.
Về thời hiệu khởi kiện:
Ngày 04/03/2005, UBND huyện Vĩnh Bảo cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho
hộ ông Trần Trọng Trang và bà Lê Thị Thúy đối với mảnh đất thửa 11, tờ bản đồ số 41, diện tích
815m2 tại thơn Kênh Trang, xã Tân Hưng, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phịng. Ngày 05/09/2011, ơng
Cử có đơn gửi các cơ quan chức năng đề nghị xem xét việc cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng
đất cho hộ ông Bùi Trọng Trang và bà Thúy đồng thời yêu cầu trả lại trên cho gia đình ơng.
Ngày 04/07/2012, ơng Cử có đơn khiếu nại gửi đến UBND huyện Vĩnh Bảo về việc cấp
giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho ông Trang và bà Thúy là trái pháp luật.
Ngày 31/05/2013, Phòng Tài nguyên và mơi trường huyện Vĩnh Bảo đã có văn bản trả lời
về việc giải quyết đơn khiếu nại về việc cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho ông Trang
và bà Thúy.
Ngày 24/09/2013, UBND huyện Vĩnh Bảo có cơng văn số 762/UBND-TTr trả lời đơn
của ông Trần Trung Cử.
Ngày 05/06/2014, ông Cử tiếp tục làm đơn khiếu nại gửi tới UBND huyện Vĩnh Bảo.
Ngày 02/12/2015, ông Cử nhận được Quyết định số 2895/QĐ-UBND ngày 18/11/2015
của UBND huyện Vĩnh Bảo với nội dung: “Không chấp nhận đề nghị của ông Trần Trung Cử về
việc thu hồi Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số 123/QSDĐ diện tích 851m2 thửa số 11, tờ
bản đồ số 41 đã cấp cho ông Bùi Trọng Trang và bà Lê Thị Thúy ở Kênh Trang, tân Hưng, Vĩnh
Bảo, Hải Phòng”.
Không đồng ý với Quyết định trên của UBND huyện Vĩnh Bảo, ngày 23/02/2016 ông Cử
đã khởi kiện UBND huyện Vĩnh Bảo ra Tòa án Nhân dân huyện Vĩnh Bảo yêu cầu hủy Giấy
chứng nhận Quyền sử dụng đất số 123/QSDD ngày 04/03/2005 của UBND huyện Vĩnh Bảo, Hải
Phòng đã cấp cho hộ ông Bùi Trọng Trang và bà Lê Thị Thúy.
Như vậy yêu cầu khởi kiện của ông Trần Trung Cử vẫn còn thời hiệu khởi kiện theo quy
định tại điểm a khoản 3 Điều 116 Luật tố tụng hành chính 2015: “Thời hiệu khởi kiện là 01 năm
kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định
giải quyết khiếu nại lần hai”.
Về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 52 Luật Đất đai 2003 quy định thẩm quyền cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình là thuộc UBND cấp huyện, nên UBND huyện
Vĩnh bảo cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho hộ ông Bùi Trọng Trang và bà Lê Thị
Thúy là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Về nội dung
Về nguồn gốc đất:
Theo Sổ mục kê, tờ bản đồ giải thửa xã Tân Hưng đo vẽ năm 1995, diện tích đất thể hiện
tại tờ bản đồ số 41, thửa 11, diện tích 851m2, mang tên chủ sử dụng là bà Nguyễn Thị Hin. Ngày
19/01/1997, bà Nguyễn Thị Hin được UBND huyện Vĩnh Bảo cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số 07/QSDĐ với diện tích 851 m2 tại thửa 11, tờ bản đồ số 41 thuộc thôn Kênh Trang,
Tân Hưng, Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Theo quy định Luật đất đai năm 1993, cá nhân được cấp Giấy
chứng nhận Quyền sử dụng đất là người sử dụng hợp pháp theo quy hoạch kế hoạch sử dụng đất
của nhà nước. Từ đó có cơ sở khẳng định nguồn gốc đất là của bà Nguyễn Thị Hin.
Theo quy định tại Điều 637 Bộ luật dân sự năm 1995 "Di sản bao gồm tài sản riêng của
người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác; Quyền sử dụng đất
cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế theo quy định tại Phần thứ năm của Bộ luật
này". Như vậy, kể từ khi bà Hin mất thì thửa đất 851 m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số 07/QSDĐ tại thửa 11, tờ bản đồ số 41 thuộc thôn Kênh Trang, Tân Hưng, Vĩnh Bảo, Hải
Phòng trở thành di sản thừa kế của bà Hin.
Căn cứ vào lời khai của các đương sự, bà Hin mất không để lại di chúc nên áp dụng quy
định tại Điều 678 Bộ luật dân sự 1995, di sản thừa kế được xác định phân chia theo pháp luật.
Căn cứ khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự năm 1995 H" àng thừa kế thứ nhất gồm: vợ,
chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết"xác định hàng thừa kế
thứ nhất của bà Hin gồm: ông Trần Trung Cử, bà Nguyễn Thị Vân, bà Trần Thị Tú và bà Trần
Thị Minh. Như vậy, kể từ thời điểm mở thừa kế năm 1997 thì quyền đối với di sản của bà Hin
thuộc về bốn người đồng thừa kế nói trên.
Trên Giấy chuyển nhượng đất ở ngày 9/7/2002 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất số 456 ngày 26/01/2005 chỉ có một mình bà Trần Thị Minh ký với ơng Trần Trọng
Trang và bà Lê Thị Thúy là không đúng quy định về thừa kế theo Bộ luật dân sự 1995, việc này
làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đồng thừa kế còn lại là ông
Cử, bà Vân và bà Tú.
Về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Ngày 26/01/2005, bà Trần Thị Minh và ông Bùi Trọng Trang đã ký Hợp đồng chuyển
nhượng Quyền sử dụng đất tại UBND xã Tân Hưng. UBND xã Tân Hưng làm thủ tục cấp Giấy
chứng nhận Quyền sử dụng đất cho ông Bùi Trọng Trang theo đơn xin đăng ký quyền sử dụng
đất. Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận bao gồm: Giấy biên nhận tiền; Giấy chuyển nhượng đất của bà
Trần Thị Minh; Giấy chuyển nhượng thừa kế của bà Trần Thị Tú; Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất; Trích đo mặt bằng sử dụng đất tỷ lệ 1/500; trích lục bản đồ; Biên bản thẩm
tra hiện trạng; Biên bản xác định ranh, mốc giới; GCNQSDĐ mang tên bà Nguyễn Thị Hin; Biên
bản xác minh thực địa của cán bộ địa chính; Biên lai thuế và thu lệ phí trước bạ. Căn cứ vào các
hồ sơ trên, UBND huyện Vĩnh Bảo đã cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho ông Bùi
Trọng Trang và bà Lê Thị Thúy.
Tuy nhiên, việc UBND huyện Vĩnh Bảo cho rằng UBND đã căn cứ vào các hồ sơ được
UBND xã Tân Hưng trình lên để cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho ông Bùi Trọng
Trang và bà Lê Thị Thúy là đúng trình tự, thủ tục, quy định pháp luật là khơng có cơ sở, bởi lẽ:
Căn cứ điểm d, khoản 4 Mục II Thông tư 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 quy
định “Trường hợp thay đổi tên chủ sử dụng đất do chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế quyền sử
dụng đất thì thực hiện theo Nghị định 17/1999 ngày 29/03/1999 của Chính phủ về thủ tục chuyển
đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế Quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn
bằng giá trị Quyền sử dụng đất”.
Theo đó, tại biên bản làm việc ngày 24/07/2014 (BL số 52-52), ông Phạm Văn Tuyến –
nguyên là cán bộ địa chính UBND xã Tân Hưng có ý kiến rằng: “Khi bà Hin chết năm 1997, sau
đó do bà Minh trông coi…” và tại BL số 123, ông Phạm Văn Tuyến đã thừa nhận việc làm thủ
tục chuyển nhượng Quyền sử dụng đất giữa ông Trang và bà Minh là chưa đúng trình tự thủ tục
theo quy định pháp luật. Tại thời điểm đó, bà Minh không phải là chủ sở hữu hợp pháp của mảnh
đất, UBND xã Tân Hưng đã không xác minh về vấn đề thừa kế di sản của bà Nguyễn Thị Hin
trước khi xác nhận việc chuyển nhượng Quyền sử dụng đất giữa ông Trang, bà Thúy và bà Minh
là không đúng trình tự,. Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất lúc này vẫn mang tên bà Nguyễn
Thị Hin, chưa thực hiện thủ tục kê khai di sản thừa kế và chưa sang tên cho những người thừa
kế. Bà Minh không đáp ứng đủ các điều kiện chuyển nhượng được quy định điểm a khoản 1
Điều 106 Luật đất đai 2003 “a. Có giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất”.
Do đó, việc UBND xã Tân Hưng và UBND huyện Vĩnh Bảo cấp giấy chứng nhận Quyền
sử dụng đất cho ông Trang và bà Thúy là khơng đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật.
Nội dung cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Căn cứ văn bản của UBND huyện Vĩnh Bảo trả lời đơn của ông Trần Trung Cử ngày
24/09/2013, báo cáo kết quả xác minh nội dung khiếu nại của ông Trần Trung Cử ngày
29/10/2015, Quyết định giải quyết khiếu nại số 2895/QĐ-UBND ngày 18/11/2015, xác định
nguồn gốc diện tích đất 851m2 tại thửa đất số 11, tờ bản đồ số 41, địa chỉ Kênh Trang, Tân
Hưng, Vĩnh Bảo, Hải Phòng là của bà Nguyễn Thị Hin. Bà Hin được UBND huyện Vĩnh Bảo
cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số 07/QSDĐ ngày 19/01/1997. Năm 1997, bà Hin mất
không để lại di chúc.
Căn cứ khoản 2 Điều 637 Bộ luật Dân sự 1995 thì “Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản
thừa kế và được để lại thừa kế theo quy định tại phần thứ năm của Bộ luật này”, nên Quyền sử
dụng đất đối diện tích 851m2 tại thửa đất số 11, tờ bản đồ số 41 là di sản bà Nguyễn Thị Hin để
lại.
Bà Nguyễn Thị Hin có 04 người con là bà Trần Thị Minh, bà Trần Thị Tú, ông Trần
Trung Cử, bà Nguyễn Thị Vân. Sau khi bà Hin mất thì bà Trần Thị Minh là người quản lý sử
dụng mảnh đất trên. Những người con của bà Hin chưa tiến hành kê khai di sản thừa kế đối với
phần di sản của bà Hin. Đến tại thời điểm UBND huyện Vĩnh Bảo cấp Giấy chứng nhận Quyền
sử dụng đất cho ông Bùi Trọng Trang và bà Lê Thị Thúy thì Giấy chứng nhận diện tích đất trên
vẫn mang tên Nguyễn Thị Hin.
Tại văn bản trình bày của cán bộ địa chính, văn bản xác minh của Phịng tài ngun và
Mơi trường UBND xã Tân Hưng và UBND huyện Vĩnh Bảo thì sau khi bà Hin chết, bà Minh
quản lý và trông coi mảnh đất. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 642 Bộ luật dân sự năm
1995 về nghĩa vụ của người quản lý di sản “Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng
cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sản bằng hình thức khác nếu không được những người
thừa kế đồng ý bằng văn bản”. Theo đó, giấy chuyển nhượng ký giữa bà Minh và ông Trang năm
1999 và năm 2002 là trái pháp luật và khơng có giá trị pháp lý.
Khi xác minh việc chuyển nhượng giữa bà Trần Thị Minh và ông Bùi Trọng Trang, mặc
dù cán bộ địa chính UBND xã Tân Hưng xác nhận bà Hin mất không để lại di chúc, khơng có
văn bản khai nhận di sản thừa kế và sự đồng ý của các đồng thừa kế phần di sản của bà Hin cũng
khơng có bất cứ văn bản nào chứng minh bà Hin cho bà Minh mảnh đất trên nhưng ngày
24/01/2005, cán bộ địa chính UBND xã Tân Hưng vẫn xác nhận “bà Nguyễn Thị Hin có thửa đất
tại thửa số 11, tờ bản đồ số 41 đã đăng ký vào sổ địa chính thừa kế cho con gái là bà Trần Thị
Minh” và UBND xã Tân Hưng đã xác nhận cho phép bà Minh chuyển nhượng cho ông Trang.
Điều này là không đúng theo quy định của Luật đất đai năm 2003 và ảnh hưởng tới quyền và lợi
ích hợp pháp của những người thừa kế khác, bởi lẽ, bà Minh không phải là chủ sở hữu hợp pháp
của thửa đất trên. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 50, điểm a khoản 1 Điều 106 Luật đất đai 2003,
thì bà Minh khơng đủ điều kiện để chuyển nhượng Quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Hin
cho ông Bùi Trọng Trang.
Do đó, việc UBND xã Tân Hưng và UBND huyện Vĩnh Bảo căn cứ vào Hợp đồng
chuyển nhượng giữa ông Trang và bà Minh để cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho ông
Trang là không phù hợp với quy định pháp luật đất đai. Ông Trần Trung Cử khởi kiện yêu cầu
hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất là có cơ sở để chấp nhận.
Về án phí:
Do yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện được chấp nhận nên UBND huyện Vĩnh Bảo phải
chịu án phí hành chính sơ thẩm. Ơng Trần Trung Cử, khơng phải chịu án phí và được nhận lại số
tiền tạm ứng đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 3, Điều 30, khoản 1 Điều 31, Điều 115, Điều 116, Điều 193, Điều 194,
Khoản 1 Điều 206 Luật tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 50, Điều 51, khoản 2 Điều 52, Điều 106 Luật đất đai năm 2003;
Căn cứ Điều 639 Bộ luật Dân sự 2005
Căn cứ Điều 29, khoản 1 Điều 348 Luật tố tụng hành chính 2015, khoản 2 Điều 32 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tịa án;
1. Chấp nhận tồn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Trung Cử.
2. Tuyên hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số 123/QSDĐ do UBND huyện Vĩnh
Bảo cấp cho ông Bùi Trọng Trang và bà Lê Thị Thúy ngày 04/03/2005 và Quyết định 2895/QĐ-
UBND ngày 18/11/2015 của UBND huyện Vĩnh Bảo về việc giải quyết khiếu nại của ông Trần
Trung Cử.
3. Về án phí: UBND huyện Vĩnh Bảo phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí
hành chính sơ thẩm. Hồn trả lại cho Trần Trung Cử tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng
theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo.
4. Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các
đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc
được tống đạt hợp lệ theo quy định. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp
luật./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
2. Kiểm sát viên:
2.1 Dự thảo kế hoạch hỏi:
Hỏi người khởi kiện
- Ông cho biết mối quan hệ giữa ông và cụ Nguyễn Thị Hin, bà Trần Thị Minh, bà Trần Thị Tú?
- Ngồi ơng bà ra, cụ Nguyễn Thị Hin cịn người con nào khác không?
- Cụ Nguyễn Thị Hin chết năm nào?
- Khi cụ Hin mất, có để lại di chúc khơng?
- Khi cịn sống, cụ Hin có tạo lập được tài sản gì khơng?
- Trước khi mất, cụ Hin có dặn dị gì khơng?
- Khi cịn sống, cụ Hin có tặng cho thửa đất cho bà Trần Thị Minh khơng? Giấy tờ chứng minh
(nếu có)?
- Sau khi mẹ ơng mất, các anh chị em ơng có lập thủ tục kê khai di sản thừa kế không?
- Sau khi cụ Hin mất, ai là người trực tiếp quản lý, trông coi mảnh đất?
- Ơng có biết việc bà Minh viết giấy biên nhận và giấy chuyển nhượng QSD đất cho ông Trang
không?
- Ông biết việc ông Trang được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất mảnh mất của mẹ ông
từ khi nào?
- Đơn khiếu nại của ông đã được trả lời như thế nào?
- Lý do vì sao UBND không chấp nhận yêu cầu khiếu nại của ông?
- Tại sao ông cho rằng Giấy chứng nhận cấp cho ông Trang là sai?
Hỏi người bị kiện
- Ông cho biết nguồn gốc thửa đất số 11, tờ bản đồ 41, diện tích 815m2?
- Ai là người đứng tên GCN QSDĐ?
- UBND huyện Vĩnh Bảo căn cứ vào đâu để cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho ông
Trang?