ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÝ VĂN SỸ
LẨU THEN TRONG DÒNG THEN PHÁP CỦA NGƯỜI
TÀY Ở HUYỆN ĐÌNH LẬP TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƠN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HỐ VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2023
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÝ VĂN SỸ
LẨU THEN TRONG DÒNG THEN PHÁP CỦA NGƯỜI
TÀY Ở HUYỆN ĐÌNH LẬP TỈNH LẠNG SƠN
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã ngành: 8.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Thu
THÁI NGUYÊN - 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đã thực hiện việc kiểm tra mức độ tương đồng nội dung
luận văn qua phần mềm Turnitin một cách trung thực và đạt kết quả mức độ
tương đồng 12%. Bản luận văn kiểm tra qua phần mềm là bản cứng đã nộp để
bảo vệ trước hội đồng. Nếu sai tơi hồn tồn chịu trách nhiệm.
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 11 năm 2023
Học viên
(Ký, ghi rõ họ tên)
Lý Văn Sỹ
i
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian tiến hành triển khai nghiên cứu, tơi cũng đã hồn thành
nội dung luận văn “Lẩu Then trong dòng Then Pháp của người Tày ở huyện
Đình Lập, Lạng Sơn”. Để hồn thành được luận văn thạc sĩ này, tôi xin bày tỏ
sự cảm kích đặc biệt tới giảng viên hướng dẫn của mình là cơ - PGS.TS
Nguyễn Thị Minh Thu người đã định hướng, trực tiếp dẫn dắt và cố vấn cho tôi
trong suốt thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
Đồng thời, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến anh Hồng Việt Bình -
Th.sĩ NCS tốt nghiệp Học viện Nghệ thuật Quảng Tây, Trung Quốc người đã
nhiệt tình giúp đỡ tơi hồn thành luận văn này.
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, các
anh/chị cùng lớp cao học K29B - VHVN đã luôn động viên, quan tâm giúp đỡ
tơi trong q trình học tập và thực hiện luận văn.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ......................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN .......................................................................................................... ii
MỤC LỤC .............................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .........................................................................iv
MỞ ĐẦU..................................................................................................................5
1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................................5
2. Lịch sử nghiên cứu ...............................................................................................6
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ............................................................................9
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .....................................................................10
5. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................10
6. Đóng góp của đề tài ............................................................................................ 11
7. Bố cục của luận văn ............................................................................................ 11
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN ĐÌNH LẬP,
LẠNG SƠN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ THEN TÀY......................12
1.1. Tổng quan về người Tày ở huyện Đình Lập, Lạng Sơn ..................................12
1.1.1. Dân số, nguồn gốc và địa bàn cư trú ............................................................12
1.1.2. Đời sống văn hoá, xã hội ..............................................................................13
1.1.3. Khái quát về văn học nghệ thuật ..................................................................14
1.2. Một số vấn đề lý luận về Then Tày .................................................................15
1.2.1. Nguồn gốc và khái niệm Then......................................................................15
1.2.2. Phân loại Then ..............................................................................................19
1.3. Khái quát về lẩu Then và dòng Then Pháp ở huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn........22
1.3.1. Khái niệm lẩu Then.......................................................................................22
1.3.2. Khái quát về dòng Then Pháp ở huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn................23
1.4. Vai trị của Then trong đời sống tinh thần của người Tày ở huyện Đình
Lập, Lạng Sơn...............................................................................................24
Tiểu kết chương 1 ...................................................................................................28
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT LỜI CA
TRONG LẨU THEN PHÁP CỦA NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN ĐÌNH LẬP,
TỈNH LẠNG SƠN ................................................................................................29
iii
2.1. Đặc điểm nội dung trong lẩu Then Pháp .........................................................29
2.1.1. Phản ánh về thế giới thần linh ......................................................................29
2.1.2. Thế giới hiện thực trong Then ......................................................................35
2.1.3. Những biểu tượng văn hóa xuất hiện trong Then.........................................41
2.1.4. Mơ tả hành trình các cung cửa trong lẩu Then Pháp ....................................45
2.2. Đặc điểm nghệ thuật lời ca trong lẩu Then......................................................46
2.2.1. Thể thơ ..........................................................................................................46
2.2.2. Biện pháp nghệ thuật ....................................................................................51
Tiểu kết Chương 2 ..................................................................................................54
Chương 3: NGHỆ THUẬT DIỄN XƯỚNG LẨU THEN PHÁP CỦA
NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN ĐÌNH LẬP, TỈNH LẠNG SƠN ...............................55
3.1. Quy trình diễn xướng lẩu Then Pháp...............................................................55
3.2. Không gian, thời gian và chủ thể diễn xướng lẩu Then Pháp .........................62
3.2.1. Không gian, thời gian ...................................................................................62
3.3. Chuẩn bị diễn xướng........................................................................................64
3.3.1. Trang phục và đạo cụ....................................................................................64
3.3.2. Lễ vật ............................................................................................................74
3.4. Các yếu tố nghệ thuật dân gian........................................................................75
3.4.1. Âm nhạc........................................................................................................75
3.4.2. Những điệu múa đặc trưng ...........................................................................77
3.4.3. Nghệ thuật trang trí.......................................................................................79
3.4.4. Cách trang trí bàn thờ, màn lẩu ....................................................................79
3.5.1. Về hình thức diễn xướng ..............................................................................81
3.5.2. Về cách thức diễn xướng ..............................................................................82
Tiểu kết Chương 3 ..................................................................................................86
KẾT LUẬN............................................................................................................87
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................89
PHỤ LỤC.................................................................................................................1
iv
NCS DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NNND
NSND : Nghiên cứu sinh
NSƯT : Nghệ nhân nhân dân
Nxb : Nghệ sĩ nhân dân
PGS : Nghệ sĩ ưu tú
Th.sĩ : Nhà xuất bản
Tr : Phó giáo sư
TS : Thạc sĩ
VHDT : trang
VHVN : Tiến sĩ
: Văn học dân tộc
: Văn học Việt Nam
iv
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Người Tày là tộc người thiểu số đông nhất ở Việt Nam với truyền thống văn
hóa, lịch sử và nền âm nhạc lâu đời, đặc sắc, tiêu biểu trong đó có di sản Then.
Then thể hiện tâm hồn cốt cách của người Tày từ khi lọt lòng cho đến lúc về với
đất mẹ, Then là cầu nối tâm linh cho thế giới thực và hư, thể hiện ước mơ, khát
vọng về cuộc sống hịa bình, ấm no, hạnh phúc của con người.
Then Tày ở huyện Đình Lập nói riêng và tỉnh Lạng Sơn nói chung với những
âm điệu khúc hát và các hình thức nghi lễ đặc trưng tiêu biểu ở vùng Việt Bắc
nước ta, trải qua hàng ngàn năm dựng xây và phát triển Then Tày đã trường tồn
cùng dịng chảy của văn hóa dân tộc.
Theo thống kê ở Đình Lập có 31 nghệ nhân, trong đó Then Nùng có 8 người,
Then Tày có 23 người, trong đó chủ yếu là Then Xệp. Tiếng bản địa gọi những
người hành nghề Then nói chung là pựt, Sliên đó là những thầy hành nghề tâm
linh cầu an, chúc phúc, trừ tà … có thờ tổ nghề; dùng cây đàn tính, chùm xóc
nhạc, chiếc quạt, ấn và trang phục riêng làm tín vật thiêng, bất ly thân trong q
trình thực hành tín ngưỡng.
Then Pháp Tày có mặt lâu đời ở đất Đình Lập, qua nhiều thế hệ kế nối Then
Pháp được lưu lại trong dân gian bằng văn tự và truyền miệng; trong quá trình
giao lưu tiếp biến, Then Pháp đã vận dụng các làn điệu dân ca như lượn slương;
phong slư, quan làng… và một số dòng Then khác như Then Xệp, Then Văn,
Then Võ để làm phong phú hình thức diễn xướng của mình, được đơng đảo nhân
dân ưu chuộng và quý trọng.
Lẩu Then là một đại nghi lễ quan trọng bậc nhất trong Then Pháp, hội tụ nhiều
ý nghĩa, biểu tượng văn hóa, nhiều giá trị nguyên hợp về văn học - nghệ thuật, âm
nhạc, mỹ thuật và diễn xướng; những đặc trưng trong Then phản ánh giá trị tinh hoa
văn hóa, phong tục tập quán tốt đẹp của người Tày ở Đình Lập tỉnh Lạng Sơn, hơn
hết nó cịn là một nghi lễ có vai trị quan trọng trong cố kết cộng đồng góp phần tạo
nên những bản làng trù phú nơi biên cương địa đầu của Tổ quốc.
5
Với những lý do đó, tơi đã lựa chọn hướng nghiên cứu của mình về những nội
dung cơ bản “Lẩu Then trong dòng Then Pháp của người Tày ở huyện Đình Lập
tỉnh Lạng Sơn”.
2. Lịch sử nghiên cứu
Khảo qua tài liệu nghiên cứu về Then, các cơng trình của những người đi trước
đã công bố, bao gồm cả sách, bài tạp chí, bài luận tốt nghiệp, tư liệu chép tay chúng
tơi có cơ hội tiếp cận được 140 cơng trình viết về Then của người Tày, Nùng, trong
đó có 78 cơng trình viết chung về Then của cả hai dân tộc Tày và Nùng, 58 cơng
trình về Then của người Tày, chỉ có 4 cơng trình viết riêng về Then Nùng.
Qua các cơng trình, các bài viết của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi
nhận thấy một số nhà nghiên giới thiệu hệ thống những yếu tố liên quan đến lẩu
Then như:
2.1. Các cơng trình là sách
Năm 1978, nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc in cuốn Mấy vấn đề về Then Việt Bắc
của nhiều tác giả đã được viết trong Hội nghị sơ kết công tác sưu tầm, nghiên cứu
Then Việt Bắc của năm 1975 và một bài viết ở những năm trước đó. Có thể nói, đây
là cuốn sách đầu tiên đã khảo sát về Then trên phạm vi địa bàn rộng và xem xét Then
từ nhiều góc độ khác nhau, như: Nguồn gốc, loại hình, nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc,
giá trị văn học, v.v… Tuy nhiên, do quán triệt tư tưởng gạn đục khơi trong nên các tác
giả bài viết mặc dù đều thừa nhận Then là một loại hình sinh hoạt có tính tín ngưỡng
nhưng hầu như lại khơng đề cập một cách thích đáng.
Tác giả Triều Ân (2000) trong cuốn Then Tày những khúc hát (Nxb. Văn
hoá dân tộc), giới thiệu những khúc hát về cầu chúc và lễ hội. Toàn bộ cuốn
sách gồm ba phần, phần 1: Then Tày và những khúc hát; phần 2: Những khúc
hát (tuyển dịch); phần 3: Những khúc hát Dàng Then (nguyên văn Tày - phiên
âm từ bản Nôm).
Nguyễn Thiên Tứ (2009) trong cuốn Lễ cấp sắc môn phái Then phái nữ
phía tây của dân tộc Tày tỉnh Cao Bằng (Nxb. Văn hóa Dân tộc), tìm hiểu về lễ
cấp sắc mơn phái nữ phía tây của dân tộc Tày tỉnh Cao Bằng. Sách gồm ba
6
phần, phần 1: Mấy vấn đề về lễ cấp sắc mơn phái Then nữ phía tây của dân tộc
Tày tỉnh Cao Bằng; phần 2: Lễ kỳ yên giải hạn; phần 3: Nội dung lễ cấp sắc.
Hồng Việt Bình, Lý Viết Trường (2021) trong cuốn Từ điển văn hóa Then
(Nxb. Thế giới), khảo qua nhiều tài liệu nghiên cứu về Then, tác giả đã giải
nghĩa gần 1000 các từ khóa xuất hiện trọng Then. Có thể nói rằng cuốn sách
này là “chìa khóa” để mở cửa vào thế giới thần linh Then rộng lớn.
Hoàng Biểu (năm 2017) sưu tầm, biên dịch cuốn Khỏa Quan của người
Tày ở Lạng Sơn (Nxb. Văn hóa Dân tộc). Tác giả đã phiên âm, dịch nghĩa, chú
thích và giới thiệu được 54 bài hát Khỏa quan mà tác giả đã sưu tầm được ở xã
Tân Đoàn, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
Nguyễn Thiên Tứ (2009) trong cuốn Lễ cấp sắc mơn phái Then phái nữ phía
tây của dân tộc Tày tỉnh Cao Bằng (Nxb. Văn hóa Dân tộc), tìm hiểu về Lễ cấp
sắc mơn phái nữ phía tây của dân tộc Tày tỉnh Cao Bằng. Sách gồm ba phần, phần
1: Mấy vấn đề về lễ cấp sắc môn phái Then nữ phía tây của dân tộc Tày tỉnh Cao
Bằng; phần 2: Lễ kỳ yên giải hạn; phần 3: Nội dung lễ cấp sắc.
2.2. Các cơng trình là bài báo
Hồng Nam (2013) có bài viết “Then - cái nhìn từ văn nghệ dân gian” in
trong Nguồn sáng dân gian, giới thiệu sơ lược về Then, một loại hình nghệ
thuật diễn xướng dân gian gồm có cả lời hát, âm nhạc, điêu khắc và hóa trang.
Nguyễn Tuấn Cường và Nguyễn Văn Tuân (2017) trong bài viết “Tìm
hiểu thuật ngữ Then từ góc độ văn học qua văn bản Nôm Tày” in trong Từ điển
học & 31 Bách khoa thư, khảo sát về cấu trúc chữ Then và ý nghĩa của nó qua
một số văn bản Then viết bằng chữ Nơm Tày, từ đó rút ra định nghĩa khái niệm
về Then một cách tổng quát.
Phương Bằng (1990) có bài viết “Then “Bách điểu” in trong Tạp chí Dân
tộc học, giới thiệu thể loại Then Bách điểu là bài ca về một trăm loài chim sinh
sống trên các vùng núi phía Bắc của Việt Nam. Tồn bộ nội dung của tác phẩm
đã được ơng dịch sang tiếng Việt (Kinh) để người đọc tiện theo dõi.
7
2.3. Các cơng trình là luận án, luận văn
Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2017) hoàn thành luận án Tiến sĩ ngành Văn
hóa học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, đề tài “Nghệ thuật trình diễn nghi lễ
Then của người Tày ở huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn”, đã đi sâu vào nghiên cứu
những yếu tố cấu thành nghệ thuật trình diễn nghi lễ Then, trong đó chủ yếu là
Then cấp sắc. Từ đó nhận định về đặc điểm, giá trị và sự biến đổi của nghệ
thuật trình diễn ở huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn.
Nguyễn Thị Hoa (2002) hoàn thành luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Sư
phạm I Hà Nội, đề tài Khảo sát Then hắt khoăn (giải hạn) của người Tày ở
huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn, tiến hành khảo sát buổi lễ Then giải hạn của
người Tày ở huyện Đình Lập. Từ đó, nêu ra những yếu tố nghệ thuật, văn học
của loại Then này.
Dương Thị Lâm trong cơng trình Nghệ thuật Then của người Tày ở Lạng Sơn
(Luận văn Thạc sĩ, Đại học Văn hoá Hà Nội, 2002) đã tìm hiểu, phân tích và đánh
giá nghệ thuật hát Then của người Tày tại tỉnh Lạng Sơn.
Nơng Thị Nhình (2004) Nét chung và riêng của âm nhạc trong diễn xướng
Then Tày Nùng (Nxb. Văn hoá dân tộc), đề cập tới phần âm nhạc trong Then, sự
giống nhau và khác nhau về âm nhạc Then của mỗi vùng. Qua đó thấy được sự
phong phú, đa dạng cũng như giá trị nghệ thuật trong Then của người Tày Nùng.
Sách gồm ba chương, chương 1: Các hình thức âm nhạc trong Then; chương 2:
Nhạc cụ trong Then; chương 3: Đặc điểm âm nhạc trong Then. Đây là một cơng
trình khảo cứu cơng phu về âm nhạc Then, góp phần khẳng định cho thành tựu
nghiên cứu Then trong giai đoạn hiện nay.
Hồng Nam (2013) có bài viết “Then - Cái nhìn từ văn nghệ dân gian” in
trong Nguồn sáng dân gian, giới thiệu sơ lược về Then, một loại hình nghệ thuật
diễn xướng dân gian gồm có cả lời hát, âm nhạc, điêu khắc và hóa trang.
Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2017) hoàn thành luận án Tiến sĩ ngành Văn hóa
học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, đề tài “Nghệ thuật trình diễn nghi lễ Then
của người Tày ở huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn”, đã đi sâu vào nghiên cứu những
8
yếu tố cấu thành nghệ thuật trình diễn nghi lễ Then, trong đó chủ yếu là Then cấp
sắc. Từ đó nhận định về đặc điểm, giá trị và sự biến đổi của nghệ thuật trình diễn ở
huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn.
Nguyễn Tuấn Cường và Nguyễn Văn Tn (2017) có bài viết “Tìm hiểu
thuật ngữ Then từ góc độ văn học qua văn bản Nôm Tày” in trong Từ điển học &
31 Bách khoa thư, khảo sát về cấu trúc chữ Then và ý nghĩa của nó qua một số văn
bản Then viết bằng chữ Nơm Tày, từ đó rút ra định nghĩa khái niệm về Then một
cách tổng quát.
Phương Bằng (1990) trong bài viết “Then “Bách điểu” in trong Tạp chí Dân
tộc học, giới thiệu thể loại Then Bách điểu là bài ca về một trăm loài chim sinh
sống trên các vùng núi phía Bắc của Việt Nam. Tồn bộ nội dung của tác phẩm đã
được ơng dịch sang tiếng Việt (Kinh) để người đọc tiện theo dõi.
Các tác giả đã cung cấp được nhiều tư liệu rất có giá trị về Then nói chung,
nghệ thuật Then, diễn xướng nghi lễ Then của người Tày nói riêng. Nhiều nghiên
cứu liên quan đến nghệ thuật các nghi lễ Then, giá trị tín ngưỡng Then, đi sâu khai
thác theo nhiều góc độ mang tính chất đánh giá nhận định các giá trị tiêu biểu đặc
sắc của Then Tày nước ta, phản ánh đời sống đa dạng phong phú của Then, vinh
danh và nâng tầm Then trong kho tàng di sản văn hóa của nhân loại… Tuy nhiên
xuất phát từ những hoàn cảnh và mục đích nghiên cứu khác nhau nên chúng tơi
thấy số lượng các cơng trình nghiên cứu về lẩu Then đặc biệt là dòng Then Pháp
vẫn còn rất khiêm tốn chưa tương xứng với kho tàng đồ sộ của Then.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đại lễ lẩu Then “tăng binh, tăng chức sắc” của nghệ nhân Hồng Thị Thăng,
thơn Phjắc Cát, xã Đình Lập, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đại lễ lẩu Then Pháp của người Tày qua khảo sát qua các yếu tố như thời gian,
không gian, lời ca, người trình diễn, cách thức trình diễn và sự phối kết hợp biểu diễn
các thành tố nghệ thuật (mỹ thuật, âm nhạc, múa, nghệ thuật sân khấu, trò diễn,...) và
mối quan hệ giữa người trình diễn với người tham gia và với người tham dự.
9
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ đặc điểm của nghi lễ lẩu Then Pháp của người Tày ở huyện Đình Lập
trong vùng Then Lạng Sơn. Qua đó thấy được những giá trị tiêu biểu về văn học
trong nội dung nghi lễ, cách thức diễn xướng, những biểu tượng văn hóa, ảnh
hưởng của nó trong cộng đồng và vai trò cố kết cộng đồng của di sản. Từ đó góp
phần vào việc bảo tồn có hiệu quả và phát huy các giá trị bản sắc văn hoá truyền
thống của loại hình lẩu Then Pháp của người Tày ở Lạng Sơn.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn khảo sát một cách hệ thống nguồn gốc và thực trạng về Then Tày
nói chung và Then Pháp của người Tày ở huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn.
Phân tích làm rõ những đặc điểm cơ bản về ngữ văn và giá trị văn hóa tiêu
biểu trong diễn xướng nghi lễ lẩu Then Pháp của người Tày ở huyện Đình Lập,
tỉnh Lạng Sơn trong mối liên hệ với văn hóa người Tày vùng Việt Bắc nói chung
và tiểu vùng văn hóa xứ Lạng nói riêng.
Từ trường hợp nghiên cứu nghi lễ lẩu Then Pháp của người Tày ở huyện Đình
Lập, luận văn chỉ ra sự biến đổi và phát huy giá trị của Then trong đời sống hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu đã đề ra, đề tài sử dụng phương pháp nghiên
cứu liên ngành như: văn hóa dân gian, nghệ thuật học, nhân học tôn giáo... Các
phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
Phân tích văn bản: Từ các lời chép tay, tư liệu điền dã, sách xuất bản. Tổng
hợp các quan điểm liên quan đến đề tài từ các tài liệu khoa học, sách, báo, tạp chí.
Thống kê các bài báo trên 4 năm về số lượng có liên quan đến di sản Then.
Phương pháp phỏng vấn sâu các nghệ nhân tham gia nghi lễ lẩu Then Pháp -
Đình Lập - Lạng Sơn để có thêm được những kiến thức sâu hơn không chỉ riêng
trong nghi lễ lẩu Then mà nội dung của nghi lễ Then nói chung.
Phương pháp thống kê phân loại nhằm thống kê các trích đoạn có trong nghi
lễ lẩu Then và phân loại các nghi lễ Then của dân tộc Tày, Nùng từ đó phục vụ
cho q trình nghiên cứu của luận văn này.
10
Phương pháp điền dã: Bên cạnh những tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu
các nội dung trong luận văn chúng tơi cịn trực tiếp gặp mặt và trò chuyện với một
số nghệ nhân đang thực hành nghi lễ Then tín ngưỡng ở huyện Đình Lập. Ngồi
ra, chúng tơi cịn được tham gia vào các nghi lễ nhỏ khác.
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Sử dụng liên ngành giữa văn học và
lịch sử, văn học và địa lí giúp phân tích sâu sắc và cụ thể sự gắn bó khăng khít
giữa nghi lễ Then với lịch sử, văn hố huyện Đình Lập và tộc người ở nơi đây.
6. Đóng góp của đề tài
Đây là cơng trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống những giá trị cơ
bản về nội dung và nghệ thuật nghi lễ lẩu Then Pháp của người Tày ở huyện Đình
Lập, tỉnh Lạng Sơn.
Trong quá trình điền dã, khảo sát, nghiên cứu, tác giả luận văn đã thu thập
được một số lượng đáng kể những bài Then Tày được lưu truyền trong đời sống
dân gian ở Đình Lập - Lạng Sơn.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, nội dung, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn có cấu trúc ba chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về người Tày ở huyện Đình Lập, Lạng Sơn và một số
vấn đề lí luận về Then Tày
Chương 2: Đặc điểm nội dung và nghệ thuật lời ca trong lẩu Then Pháp của
người Tày ở huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn
Chương 3: Nghệ thuật diễn xướng lẩu Then Pháp của người Tày ở huyện
Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn.
11
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN ĐÌNH LẬP, LẠNG SƠN VÀ
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ THEN TÀY
1.1. Tổng quan về người Tày ở huyện Đình Lập, Lạng Sơn
1.1.1. Dân số, nguồn gốc và địa bàn cư trú
Đình Lập là một huyện miền núi nằm ở phía Đơng Nam của tỉnh Lạng Sơn.
Huyện Đình Lập nằm trên trục đường quốc lộ 4B nối giữa thành phố Lạng Sơn và
tỉnh Quảng Ninh, nối vùng biên giới Việt - Trung với tỉnh Bắc Giang và các tỉnh
miền núi Đơng Bắc của Việt Nam. Huyện Đình Lập là nơi bắt nguồn của 2 con
sông lớn là Kỳ Cùng và lục Nam. Sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ xã Bắc Xa, chảy
theo hướng Đơng Bắc qua huyện Lộc Bình, chiều dài chảy qua địa bàn huyện
Đình Lập dài 40 km. Bên cạnh đó là con sơng Lục Nam bắt nguồn từ xã Đình Lập,
chảy về phía Nam của tỉnh Bắc Giang với chiều dài dòng chảy quả huyện là 50
km. Ngồi hai con sơng lớn kể trên huyện Đình Lập cịn có hai con sơng ngắn
chảy qua địa bàn là sông Đông Khuy và Tiên Yên cùng các con suối, khe suối nhỏ
khác nhau nằm rải rác trên địa bàn huyện. Huyện Đình Lập với diện tích 1.182,7
km², dân số khoảng 28.579 người (2019). Mật độ dân số 22 người/km². Đình Lập
có 12 đơn vị hành chính, trong đó có 02 thị trấn bao gồm thị trấn Đình Lập, thị
trấn Nơng Trường Thái Bình và 10 xã: Bính Xá, Kiên Mộc, Bắc Xa, Đình Lập,
Cường Lợi, Châu Sơn, Đồng Thắng, Bắc Lãng, Lâm Ca và xã Thái Bình.
Đình Lập là địa bàn sinh sống của các dân tộc: Tày, Nùng, Kinh, Dao, Sán
Chỉ. Đây là tiểu vùng khí hậu thích hợp cho phát triển các loại cây lâm nghiệp có
giá trị kinh tế cao như: thông, chè, hoa hồi, đinh, lim,... và nhiều cây dược liệu quý
như: mộc nhĩ, nấm hương, sở,... Diện tích đồng cỏ khá lớn, mật độ cỏ che phủ đạt
70%, rất phù hợp cho phát triển chăn nuôi đại gia súc. Với tài nguyên đất, rừng
phong phú và khí hậu ưu đãi, ngành nông - lâm nghiệp là thế mạnh trong công
cuộc phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đình Lập.
12
1.1.2. Đời sống văn hoá, xã hội
1.1.2.1. Đơn vị quần cư
Người Tày sinh sống thành từng bản - làng. Bản là một đơn vị quần cư của cộng
đồng trung bình có từ 20 đến 70 nóc nhà. Trong bản có một trưởng bản, trong bản có
nhiều dịng họ, nhiều nơi họ sống xen kẽ cả người Nùng. Bản thường ở chân núi,
trước bản có cánh đồng, sau bản là đất làm nương. Cũng có nơi bản là nơi gần sông
suối tiện nguồn nước gieo trồng và giao thông đi lại. Tên bản được đặt theo các dòng
suối như Khuổi Cải, cánh đồng như Nà Chng... Bản to được chia ra các xóm gọi là
Cịn. Xung quanh bản thường được trồng lũy tre, có nơi họ dùng đá bao quanh.
1.1.2.2. Nhà ở
Người Tày chủ yếu ở nhà sàn, một số nơi ở nhà đất. Nhà sàn dựng cao,
thoáng mát tránh rắn rết, sâu bọ, thú rừng có kiểu nhà hai mái và bốn mái. Kỹ
thuật làm nhà bằng thủ cơng. Mái làm bằng máng hoặc lá cọ, ngói âm dương. Cột
nhà, xà, kèo và bức vách bằng gỗ lim, nghiến hoặc gỗ tạp theo điều kiện gia chủ.
Nhà được chia làm hai tầng, tầng dưới - tẩu lảng cho gia súc, gia cầm ở và đồ
dùng lao động, tầng trên có cửa chính và cửa phụ, có nơi trang trọng nhất để thờ tổ
tiên, hai bên chia ra các buồng cho nam giới và phụ nữ, người già. Cửa chính có
cầu thang đi lại, cửa phụ có Slíc - sàn để đựng nước khe và là nơi rửa chân khi đi
làm về.
1.1.2.3. Trang phục
Người Tày dùng trang phục nhuộm chàm, vải tự dệt từ cây bông, tự cắt may.
Áo của nam giới thường là áo tứ thân ngắn, đơm khuy con sâu gọi là Slửa chất
kháu, có nơi mặc dài ngũ thân để phân biệt với người Nùng (cần slửa tẩn - người
áo ngắn) nhưng tà rộng, quấn khăn đội đâu gọi là khân đỏng. Phụ nữ mặc áo ngũ
thân xẻ tà, chít khăn và vấn đầu như người kinh nhưng cách đội khác nhau gọi là
khân ngang, thắt đáy lưng ong - hảng lặng bằng một miếng vải dài độ 2m, buộc xà
tích và đeo vịng cổ trong các kỳ lễ tết.
1.1.2.4. Ẩm thực
Người Tày có đời sống kinh tế tự cung tự cấp, họ ăn cơm, rau thịt, cá, trứng
và có nền ẩm thực đặc trưng với các món ăn nổi tiếng như: Xơi cẩm - khẩu nua
13
cắm, bánh ngải - pẻng nhả ngài, bánh rợm - pẻng tải, bánh khảo - cao phung, khẩu
sli - bánh bỏng, bánh giầy - pẻng chì, bánh gio - pẻng đắng... lợn quay- mu sliêu,
gà quay - cáy pỉnh, thịt khổ kho - kháu nhục...
1.1.2.5. Tín ngưỡng
Người Tày tin vào tín ngưỡng đa thần, vạn vật hữu linh, coi mọi vật đều có linh
hồn. Người Tày thờ cúng tổ tiên và tôn trọng các tôn giáo như đạo Phật, đạo Giáo,
đạo Nho... Mỗi gia đình thường có ban thờ tổ tiên và các vị thần cầu an khác như
Phật bà quan âm - mè nàng, táo qn - thản bếp, thiên lơi - lịi tềnh, ông quản gia - pú
chự; tiên, bụt - thờ Then, pựt; tướng - các vị tướng có cơng với gia đình dịng họ... Họ
tơn thờ và coi trọng thầy Then, Tào, bụt, mo trong các nghi lễ vòng đời như: khai
bươn - đầy tháng, hắt bioóc- cúng mụ, kin lẩu - đám cưới, khảu lườn mấu - mừng tân
gia, cải nàn - giải hạn, pủ sang lường, hắt khoăn - mừng thọ, chúc vía, thót tang - thơi
tang... Mỗi bản thường có miếu thổ cơng là vị thần cai quản vùng đất đai và các bản -
làng, còn - xóm. Một số nơi có cả thành hồng làng được tơn thờ như những người có
cơng xây dựng nên các bản - làng đó.
1.1.3. Khái quát về văn học nghệ thuật
Người Tày có chữ viết riêng của mình, gọi là chữ Nơm Tày - slư Nam để ghi
chép lại những câu thành ngữ, tục ngữ, cao dao và các bài thơ, lời ca, truyện cổ...
mà ngày nay vẫn còn lưu giữ được rất nhiều tác phẩm thuộc các thể loại như:
Phong slư, lượn slương, truyện thơ, quan làng... Then, Mo, Tào.
Trong vòng đời của người Tày dân ca, dân vũ, nhạc cụ truyền thống đeo bám
con người từ khi lọt lòng cho đến khi về với đất mẹ. Những làn điệu hát ru, hát
đồng dao dùng cho trẻ em. Hát lượn slương, phong slư để giao duyên tìm hiểu đôi
lứa; lượn cũng được hát trong đám cưới, chúc mừng nhà mới, mừng lẩu Then, đầy
tháng... hát quan làng là điệu hát phổ biến dùng trong đám cưới.
Bộ trống, chiêng - thanh la, não bạt, chũm chọe, sáo, nhị - cò ke là những
loại nhạc cụ phổ biến trong đời sống tinh thần của người Tày.
Mo, Tào, Then là những loại hình ca nhạc mang tính tín ngưỡng, minh chứng
sinh động cho những giá trị trường tồn của nền văn học nghệ thuật của người Tày.
14
1.2. Một số vấn đề lý luận về Then Tày
1.2.1. Nguồn gốc và khái niệm Then
Liên quan đến khái niệm “Then” và tín ngưỡng “Then” còn tồn tại nhiều quan
niệm khác nhau song đa phần những người yêu thích Then và cả những người làm
Then đều cho rằng Then đã tồn tại từ lâu đời ở nước ta gìn giữ phát huy hàng ngàn
năm nay, lưu truyền qua nhiều thế hệ, vùng miền và mang nhiều dấu ấn văn hóa đặc
trưng cho các tộc người Tày Nùng Thái Việt Nam. chúng tôi tổng hợp một số tác
giả tiêu biểu có khái niệm về Then và nguồn gốc Then như sau:
(1) Nhóm tác giả Hồng Văn Ma, Lục Văn Pảo, Hồng Chí giải thích: Then
tức “hết Pụt hết Then” (làm Bụt làm Then)
(2) Dương Kim Bội quan niệm về Then: Cho dù chưa có cách định nghĩa, giải
thích một cách thoả đáng, cứ coi nó như một danh từ riêng để chỉ một loại hình mê tín.
Nhà nghiên cứu Dương Kim Bội cũng sưu tầm ở các nghệ nhân dân gian cho
biết: Có một thời gian nhà Mạc đem quân chạy lên Cao Bằng, vì xa nhà cửa, quê
hương, vợ con nên quan quân sinh bệnh, đau ốm rất nhiều. Giữa lúc bệnh hoạn đang
hoành hành như thế, một viên quan bầy cách cho một nhóm binh sĩ có học thức làm
Then để giải khuây. Việc làm này đã đem lại kết quả một cách không ngờ. Từ khi có
nhóm người này hát Then, tự nhiên quan quân khỏi bệnh quá nửa! Từ đó vua nhà
Mạc truyền cho quân sĩ hãy phổ biến ra ngoài dân chúng thật rộng rãi.
(3) Nông Văn Hồn cho rằng: Then là Tiên 仙 (có nơi gọi sliên), là người
của trời. Họ là người giữ mối liên hệ giữa người trần gian với Ngọc hoàng và
Long vương. Khi họ làm Then là họ đại diện cho người của trời giúp cho người
trần gian cầu mong được sự tốt lành, được tai qua nạn khỏi v.v... tức là Then chỉ
làm điều thiện cứu giúp người trần gian.
Theo ông, vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, khi Mạc Kính Cung lên
chiếm cứ đất Cao Bằng đánh lại nhà Lê (1598 - 1625). Nhà Mạc bị nhà Lê đánh
đuổi phải chạy lên Cao Bằng vì buồn rầu lo sợ mà sinh phát bệnh chạy chữa mãi
cũng khơng khỏi. Sau có người tâu với vua rằng: Bệnh của vua chỉ có ơng Tư
Thiên đem đội xướng ca đến mới khỏi. Tức khắc vua sai người đem chiếu chỉ đến
15
mời Trạng. Nhận được chiếu chỉ của vua, Trạng liền chuẩn bị tập tành và tiến vào
chầu vua. Đội xướng ca nữ khi vào chầu vua liền biểu diễn điệu múa chầu làm cho
vua tươi hẳn lên rồi nhỏm dậy ban khen tấm tắc. Múa xong lại cầm đàn tính vừa
gẩy vừa hát điệu Then chúc tụng nhà vua làm cho vua quên hết lo sầu rồi tự nhiên
thấy khỏe hẳn. Sau đó vua liền phong sắc cho Tư Thiên thêm chức Quản nhạc.
(4) Triều Ân thì cho rằng: Then là những khúc hát thuộc về thờ cúng (chant
cultuel) do những Then làm nghề (chan-teuse cultuelle) hát trong nghi lễ.
Nhà nghiên cứu Triều Ân cho biết: Bế Văn Phụng đặt thêm lời ca, đồng thời nâng
cao hơn các bản nhạc đàn tính phục vụ nhu cầu và trình độ thẩm mỹ chốn cung đình.
Nhạc sỹ Hoa Cương cho biết thêm: Ông Bế Văn Phùng rất thông minh tài
giỏi, am hiểu cả về thiên văn địa lý, nên được gọi là quan Tư Thiên Quản nhạc.
Cịn ơng Nơng Quỳnh Vân thì tài nghệ thi phú cũng rất giỏi mà cịn có tài lặn
xuống nước được lâu nên nhân dân còn gọi là ông vua Ca Đáng (nghĩa là vua của
loài quạ khoang chuyên lặn bắt cá). Hai ông là bạn thân với nhau và thường xuyên
xướng họa thi ca cùng nhau. Về sau vua Ca Đáng thành lập đội xướng ca nam ở
vùng Trùng Khánh gọi là Giàng, còn quan Tư Thiên thì lập xướng ca nữ ở vùng
Hịa An gọi là Then.
(5) Giáo sư Trần Quốc Vượng nhận xét: “Nghiệm sinh một vấn đề phương
pháp luận văn hóa dân gian đó là có hai lối đi về giữa dân gian và cung đình, từ
dân gian đi vào và được nâng cao ở cung đình (...); từ cung đình đi ra dân và được
dân gian hóa” Với trường hợp hát Then, nhà nghiên cứu Triều Ân nhận định có đủ
cả hai lối đi và về giữa dân gian và cung đình.
Sau khi nhà Mạc tan rã, các ca sĩ Then dần trở về quê, ở với người dân và
mang theo những giá trị tinh hoa cung đình trở về dân gian. Các ông bà Pựt, Sliên,
Dàng tiếp tục xứ mệnh vốn có của mình đi cứu dân độ thế.
(6) Hoàng Phê chủ biên, định nghĩa từ Then có ba nét nghĩa: 1/Lực lượng siêu tự
nhiên sáng tạo ra thế giới, theo quan niệm của một số dân tộc thiểu số miền Bắc Việt
Nam. 2/Người làm nghề cúng bái (thường là nữ) ở vùng các dân tộc thiểu số nói trên.
Bà Then, làm mo, làm Then. 3/Loại hình nghệ thuật tổng hợp gồm đàn, hát, múa gắn
liền với tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số nói trên. Hát Then, múa Then.
16
(7) Từ điển bách khoa Việt Nam, giải thích: Then tên chung chỉ một loại
hình sinh hoạt văn hóa - văn nghệ dân gian của các dân tộc Tày, Thái. Tùy theo
mục đích của từng kỳ lễ mà Then có tên gọi và kiểu cách trình diễn khác nhau như
Then kỳ yên, Then cầu hoa, Then nối số, v.v… Đầy đủ nhất là Then cấp sắc hay
còn gọi là lẩu Then. Người làm Then gọi là thầy Then, khi đã già, muốn nghỉ thì
làm lễ Then cáo lão. Then có nguồn gốc từ niềm tin của con người vào sự tồn tại
của các siêu linh trong các thế giới trên trời, trên mặt đất và dưới nước. Khi con
người ốm tức là hồn hay vía của họ bay vào các thế giới đó. Muốn khỏi bệnh họ
phải nhờ đến các thầy Then. Các thầy Then dùng giọng hát dẫn đường cho âm
binh đi đến tất cả các thế giới nói trên để tìm hồn trả về cho thân xác và người ốm
sẽ khỏi bệnh.
(8) Nguyễn Thị Yên trong cuốn Then Tày sau khi phân tích sự tương đồng giữa
tên gọi Then (đọc trại từ chữ Hán... thiên - trời) với các hình thức cúng bái tương tự của
người Tày, Nùng, Thái như Pụt, Sliên, Một mà đã đưa ra giả định “Tên gọi Then là bắt
nguồn từ tín ngưỡng thờ trời (phạ) của các cư dân Tày, Thái nói chung”.
(9) Theo Nguyễn Tuấn Cường và Nguyễn Văn Tuân khi phân tích nguồn tư
liệu được viết bằng chữ Nôm Tày rất đáng tin cậy, khơng những có giá trị về mặt
phân tích tìm hiểu về các vấn đề liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng, dân tộc học,
văn học nghệ thuật..., mà cịn góp phần vào việc khẳng định về mặt văn tự đối với
một số thuật ngữ, trong đó có “Then” đó là chữ ghép của bộ Khẩu 口và chữ Thiên
天. Về ý nghĩa của chữ “Then”, Then là người có tài trí, có uy quyền với những
phép thuật cao siêu, là người giữ mối liên hệ bằng lời giữa người trần gian với một
thế giới tâm linh khác như Ngọc Hoàng, Long Vương..., nhằm giúp cho người trần
gian cầu mong được sự tốt lành.
(10) Giáo sư Tô Ngọc Thanh cho rằng Then theo tiếng Thái - Tày để chỉ một
loại hình văn hóa tín ngưỡng sa-man (shamanism) trong các tộc nói tiếng Thái-
Tày như Lào, Lự, Giáy, và các nhóm Thái - Tày địa phương như Thái Trắng, như
Tày Cao Bằng, Tày Bắc Kạn, Tày sơng Chảy, sơng Lơ, Nùng v.v.. Riêng người
Thái Đen thì lại gọi là Xên Một hoặc Xên Một Lào.
17