ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ QUỲNH VƯƠNG
HÁT SẤNG CỌ CỦA NGƯỜI SÁN CHAY Ở ĐỊNH HOÁ,
THÁI NGUN DƯỚI GĨC NHÌN VĂN HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,
VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2023
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ QUỲNH VƯƠNG
HÁT SẤNG CỌ CỦA NGƯỜI SÁN CHAY Ở ĐỊNH HOÁ,
THÁI NGUN DƯỚI GĨC NHÌN VĂN HOÁ
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã ngành: 8 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ,
VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thị Minh Thu
THÁI NGUYÊN - 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đã thực hiện việc kiểm tra mức độ tương đồng luận văn qua
phần mềm Turnitin một cách trung thực và đạt mức độ tương đồng 7%. Bản luận
văn kiểm tra qua phần mềm là bản cứng đã nộp để bảo vệ trước hội đồng. Nếu
sai tơi hồn tồn chịu trách nhiệm.
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2023
Học viên
Trần Thị Quỳnh Vương
i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lịng biết ơn sâu sắc của mình tới PGS.TS
Nguyễn Thị Minh Thu - người đã tận tình hướng dẫn tơi trong suốt q trình
nghiên cứu đề tài luận văn.
Trong q trình làm luận văn, tơi cịn nhận được sự chỉ bảo, góp ý, tạo
điều kiện của các thầy cơ Khoa Ngữ văn, phịng Đào tạo, Bộ phận Sau đại học,
cán bộ phịng Khoa học cơng nghệ và HTQT, thư viện trường Đại học Sư phạm
– Đại học Thái Nguyên, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Tơi xin chân thành cảm ơn bác Trương Văn Lập – Chủ nhiệm Câu lạc bộ
hát Sấng cọ tại huyện Định Hóa đã giúp đỡ tận tình, tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho tơi trong suốt q trình thu thập tài liệu.
Tôi cũng xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn
bè, đồng nghiệp - những người luôn dành cho tơi lời động viên, khích lệ, chia sẻ
và hỗ trợ tơi để tơi hồn thành luận văn này.
Thái Nguyên, ngày 21 tháng 10 năm 2023
Tác giả luận văn
Trần Thị Quỳnh Vương
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan ........................................................................................................ i
Lời cảm ơn ........................................................................................................... ii
Mục lục ............................................................................................................... iii
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề.................................................................................................. 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................... 7
4. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................... 8
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 8
6. Đóng góp của luận văn .................................................................................... 9
7. Bố cục luận văn ............................................................................................... 9
NỘI DUNG ....................................................................................................... 10
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN................................... 10
1.1. Khái niệm văn hoá và văn học ................................................................... 10
1.1.1. Khái niệm văn hoá ................................................................................... 10
1.1.2. Khái niệm văn học ................................................................................... 11
1.1.3. Mối quan hệ giữa văn hoá và văn học ..................................................... 13
1.1.4. Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hoá ................................................ 16
1.2. Khái quát chung về huyện Định Hoá và dân tộc Sán Chay ở Định Hoá ... 17
1.2.1. Định Hoá – mảnh đất văn hoá ................................................................. 17
1.2.2. Dân tộc Sán Chay ở Định Hoá ................................................................ 20
1.3. Khái quát chung của hát Sấng cọ của người Sán Chay ở Định Hoá,
Thái Nguyên ...................................................................................................... 25
Tiểu kết chương 1 .............................................................................................. 28
Chương 2: DẤU ẤN VĂN HOÁ TRONG NỘI DUNG HÁT SẤNG CỌ
CỦA NGƯỜI SÁN CHAY Ở ĐỊNH HOÁ, THÁI NGUYÊN ..................... 29
iii
2.1. Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên..................................................................... 29
2.2. Phong tục, tập quán .................................................................................... 33
2.2.1. Phong tục hôn nhân của người Sán Chay................................................ 33
2.2.2. Tục ma chay của người Sán Chay ........................................................... 40
2.3. Văn hoá ứng xử .......................................................................................... 44
2.3.1. Văn hoá ứng xử trong xóm làng .............................................................. 44
2.3.2. Văn hố ứng xử trong gia đình ................................................................ 46
2.3.3. Văn hố ứng xử trong tình u đơi lứa.................................................... 50
Tiểu kết chương 2 .............................................................................................. 55
Chương 3: DẤU ẤN VĂN HỐ TRONG HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT
HÁT SẤNG CỌ CỦA NGƯỜI SÁN CHAY Ở ĐỊNH HOÁ, THÁI
NGUYÊN .......................................................................................................... 56
3.1. Hệ thống biểu tượng ................................................................................... 56
3.1.1. Biểu tượng trời và đất .............................................................................. 57
3.1.2. Biểu tượng con thuyền............................................................................. 60
3.1.3. Biểu tượng con gà.................................................................................... 64
3.2. Ngôn ngữ .................................................................................................... 66
3.2.1. Ngơn ngữ giàu tính tượng hình ............................................................... 66
3.2.2. Ngơn ngữ giàu sắc thái biểu cảm ............................................................ 73
3.2.3. Lối diễn đạt đối xứng............................................................................... 78
3.3. Kết cấu đối đáp và thể thơ thất ngơn .......................................................... 80
3.3.1. Kết cấu đối đáp tâm tình.......................................................................... 80
3.3.2. Thể thơ thất ngôn..................................................................................... 83
Tiểu kết chương 3 .............................................................................................. 86
KẾT LUẬN....................................................................................................... 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 90
PHỤ LỤC
iv
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là mảnh đất vô cùng đặc biệt khi trải dài trên mảnh đất hình chữ
S là 54 dân tộc cùng chung sống hồ thuận. Mỗi dân tộc là một mảnh ghép tạo
nên bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc lại mang một vẻ đẹp riêng
với những làn điệu dân ca du dương, trầm bổng, đằng sau những lời ca là cả một
nền văn hoá, một câu chuyện của cộng đồng dân tộc. Dân ca là những câu hát
giúp con người có thể bộc lộ tồn bộ đời sống tinh thần, những cảm xúc mà chưa
thể nói bằng lời nói trực tiếp, họ tìm tới những câu hát để mở ra thế giới nội tâm
phong phú, nhạy cảm của mình. Không chỉ ca dao, dân ca của người Kinh mà ở
bất kì dân tộc nào cũng đều có nhu cầu khai mở thế giới nội tâm phong phú ấy.
Dân tộc Sán Chay là một dân tộc có số lượng dân cứ tương đối lớn, họ
cũng sống thành các bản, các mường, cũng cùng nhau làm việc, chung sống.
Điều đó tạo điều kiện nảy sinh các hoạt động văn hoá dân gian, và Sấng cọ là
một làn điệu dân ca được coi là linh hồn của người Sán Chay cùng với điệu nhảy
Tắc Xình. Sấng cọ hay cịn gọi là Hát ví Lưu Tam đã có từ lâu đời, cũng giống
như điệu Then của dân tộc Tày, điệu Páo Dung của dân tộc Dao, Sấng cọ là một
phương tiện giúp người Sán Chay bày tỏ mọi tâm tư, tình cảm. Đó có thể là tình
cảm đối với tổ tiên, đối với bản mường, làng xóm, đối với cha mẹ hay tình cảm
của những đơi trai gái đương tuổi yêu đương với trái tim ấm nồng,…Họ mượn
những câu hát có nhịp điệu để vừa hát cho nhau nghe, vừa để hiểu lòng nhau.
Huyện Định Hóa là một huyện nằm ở phía tây bắc tỉnh Thái Ngun, phía
đơng giáp huyện Phú Lương và huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn; phía tây giáp
huyện Yên Sơn và huyện Sơn Dương thuộc tỉnh Tuyên Quang; phía nam giáp
huyện Đại Từ; phía bắc giáp huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Huyện Định Hóa
bao gồm thị trấn Chợ Chu và 22 xã. Địa hình ở khu vực huyện Định Hoá tương
đối phức tạp, xen lẫn giữa đồi thấp và núi cao, có nhiều khu vực núi đá vôi giáp
với khu vực đồng hẹp. Những dãy núi đá vôi này cao từ 200 – 400m so với mực
1
nước biển với độ dốc cao, hiểm trở, bởi vậy ở những khu vực có núi đá vơi sẽ ít
dân cư sinh sống. Huyện Định Hoá là một trong những huyện có số lượng người
Sán Chay sinh sống đơng đảo ở Thái Nguyên. Trong những năm gần đây, ban
lãnh đạo huyện uỷ không ngừng thực hiện các đề án nhằm bảo tồn, phát triển văn
hoá địa phương, đặc biệt căn cứ vào Chương trình hành động số 22-CTr/HU
ngày 26/8/2014 của Huyện ủy Định Hóa về thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW,
ngày 09/6/2014 Hội nghị Trung ương lần thứ 9 (khóa XI) về “Xây dựng và phát
triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất
nước”, lãnh đạo và nhân dân không ngừng nghiên cứu, khơi dậy lại những giá
trị truyền thống. Các câu lạc bộ được thành lập nhằm bảo tồn, phát huy và quảng
bá văn hoá địa phương như Then Tày, câu lạc bộ nhảy Tắc Xình, đặc biệt là câu
lạc bộ Hát Sấng cọ của dân tộc Sán Chay được thành lập ở các xã như Phú Đình,
Sơn Phú, Tân Dương, Tân Thịnh,…
Hiện nay, Sấng cọ đã được cơng nhận là di sản văn hố phi vật thể tại Phú
Lương và cũng đã có một vài nghiên cứu hướng góc khám phá về điệu hát còn
nhiều điều thú vị này. Tuy nhiên, sự giao thoa, gắn bó giữa văn hố cộng đồng
dân tộc Sán Chay và loại hình dân ca này vẫn cịn được bỏ ngỏ hay chưa được
đề cập đến một cách chi tiết, cụ thể. Hơn nữa, gắn với Sấng cọ là một không gian
diễn xướng vô cùng sinh động nhưng cũng chưa được khai thác. Các nghiên cứu
mới chỉ dừng lại ở việc khám phá nội dung, nghệ thuật của điệu hát này. Chính
bởi vậy, tơi mạnh dạn đưa con mắt đầy hứng khởi của mình để tìm đến những
mối quan hệ giữa một làn điệu dân ca và văn hoá của một cộng đồng người –
người Sán Chay với tên đề tài: “Hát Sấng cọ của người Sán Chay ở Định Hố,
Thái Ngun dưới góc nhìn văn hố”
2. Lịch sử vấn đề
Hát Sấng cọ của dân tộc Sán Chay đã được quan tâm sưu tầm, nghiên cứu
trên một số khía cạnh, phương diện.
2
Trước hết, đối với công tác sưu tầm hát Sấng cọ và dân ca Sán Chay, chúng
tôi thu thập được một số tư liệu có giá trị do chính người dân tộc Sán Chay ở
Định Hoá sưu tầm, ghi chép và dịch nghĩa.
Đầu tiên, có thể kể đến cuốn Xịnh ca Cao Lan, Đêm hát thứ nhất, Song
ngữ: Việt – Cao Lan, NXB Văn hoá dân tộc của tác giả Lâm Quý. Cuốn sách này
được các nghệ nhân người Sán Chay sưu tầm và lưu hành trong tồn huyện.
Trong sách có các bài hát của đêm hát thứ nhất – có nghĩa tất cả các phần được
hát trong một đêm từ khuya cho tới rạng sáng với các phần bao gồm: Hát mở
đầu; Hát vào bản; Du hương ca; Bơi thuyền vượt biển; Hát chúc tụng; Thỉnh
mời thần ca hát; Hát về gà gáy; Hát chúc phụng chủ nhà. Tài liệu này được
người dân Định Hoá sử dụng phổ biến và thường hát trong các buổi đối đáp giao
duyên, các cuộc giao lưu nghệ thuật.
Ngoài ra, số lượng các tài liệu hát Sấng cọ còn được sưu tầm với số lượng
khơng nhỏ, có cả những bản được chép tay vội và dịch từ chữ Hán sang chữ Việt.
Có thể kể đến cuốn Trường ca Cao Lan, tập 1, Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh
Phúc. Cuốn này nhìn chung tương đối giống các phần trong cuốn Xịnh ca Cao
Lan của Lâm Quý tuy nhiên số lượng câu hát nhiều hơn. Tiếp theo là hai cuốn
Hát ví tập 1 và Hát ví tập 2, nhưng ở hai cuốn này đều chưa được dịch nghĩa từ
phiên âm Sán Chay sang tiếng Việt. Thường cuốn này chỉ dành cho nghệ nhân
hát Sấng cọ của người dân tộc Sán Chay mới có thể hát và hiểu. Bên cạnh đó có
cuốn Hát ví dân tộc Sán Chay, Cao Lan, tập 12 do ông Phương Văn Sáng – một
trong những thành viên Câu lạc bộ hát Sấng cọ xóm Nạ Tẩm, xã Phú Đình, huyện
Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên dịch từ chữ Hán sang phiên âm tiếng Sán Chay, tuy
nhiên cũng chưa có dịch nghĩa sang tiếng Việt. Đồng thời có cuốn “Cọ chắu
diu” là cuốn được ghi chép bằng tay và lưu hành trong cộng đồng người dân tộc
Sán Chay. Cuốn này chủ yếu nói về nghi lễ hơn nhân của người Sán Chay và
cũng chưa được dịch nghĩa. Tất cả những tư liệu này được những người nghệ
nhân tại Định Hoá giao lưu, sưu tầm, học hỏi và có tính chất là tư liệu chung của
hát Sấng cọ.
3
Trong giới nghiên cứu, Sấng cọ cũng là một nét đặc sắc mà nhiều nhà báo,
nhà nghiên cứu cũng tìm tịi và khai mở nét riêng ấy. Nhiều bài báo, nghiên cứu
đã được xuất bản. Một số cơng trình biên soạn như: Dân tộc Sán Chay ở Việt
Nam – Khổng Diễn, Trần Bình, Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc. Ở cuốn này,
chúng tơi có thể hiểu rõ hơn về điều kiện tự nhiên, dân cư, dân số và các đặc
điểm đời sống kinh tế, tổ chức xã hội và đặc trưng văn hố của dân tộc Sán Chay
ở Việt Nam. Ngồi ra, trong cuốn Dân ca Cao Lan – Phương Bằng, Nhà xuất
bản Văn hố dân tộc đã cung cấp các thơng tin về Sình ca với các bài hát giao
duyên của trai gái, các bài hát ca ngợi sản xuất,…gửi gắm tâm tư, tình cảm và
những nguyện vọng của người Cao Lan, Sán Chay. Văn hố dân gian người Sán
Chí ở Thái Nguyên của Trần Văn Ái – Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc đã xác định
được những hệ giá trị tiêu biểu của dân tộc Sán Chay, đồng thời cịn chỉ ra được
những hạn chế trong văn hố cần được định hướng lại trong thời đại mới.
Một số bài báo khoa học như Về nguồn gốc và quá trình di cư của người
Cao Lan, San Chí – Thơng báo dân tộc học số (1); Các bài báo, tạp chí được
cơng bố với nhiều góc nhìn khác nhau như Vũ trụ luận của người Sán Chỉ qua
Sình Ca của Phạm Thị Phương Thái là một bài nghiên cứu về Sình ca trong mối
quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Phạm Thị Phương Thái chỉ ra rằng mỗi
bài hát Sình ca là một cái nhìn về thế giới tự nhiên, là phương tiện ghi lại sự vận
động, phát triển của tộc người trong quá trình chinh phục và ngưỡng vọng tự
nhiên: “…Sình ca của người Sán Chỉ được hình thành do sự quy tụ mọi hình thức
lao động, sinh hoạt vui chơi, nhảy múa tạo hình dân gian để trở thành cuốn bách
khoa thư về đời sống của tộc người này trong thời kỳ phong kiến. Thiết nghĩ,
thanh sắc riêng của người Sán Chỉ một phần được quy định bởi những khúc hát
Sình ca”. Đồng thời, bài nghiên cứu này còn chỉ ra những “ẩn ức dân tộc ảnh xạ
qua niềm tin tôn giáo” chính là thể hiện quan niệm của người Sán Chay về kiếp
nhân sinh. Bài nghiên cứu đã có cái nhìn mới khá cụ thể về Sình ca dưới góc
nhìn văn hoá, tuy nhiên chỉ ở mức độ sơ khởi mà chưa đi sâu vào vấn đề văn hoá,
4
tôn giáo của dân tộc Sán Chay, đặc biệt là chưa chỉ rõ nét văn hố xuất hiện trong
Sình ca, bởi vậy đây vẫn còn là một mảnh đất cần được khai phá. Ngồi ra, cịn
có thể kể đến bài “Sình ca - lời dẫn đường hạnh phúc lứa đơi”, bài viết khẳng
định: “Có thể nói hát Sình ca là một nét đẹp văn hố thể hiện sự hài hồ giữa
tính nghi lễ và tính sinh hoạt trong đám cưới của người Sán Chí. Sau những lần
đối đáp giao duyên bên sườn núi, trong những lễ hội hay ngày cưới trong thơn
bản, từ những câu Sình ca đằm thắm, những mối tình được nhen nhóm hình thành
và đơm hoa kết trái”. Hay bài viết “Hát Sấng cọ của người Sán Chay ở Phú
Lương, Thái Nguyên với vấn đề dạy học chương trình Giáo dục địa phương lớp
6”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Thái Nguyên tập trung làm rõ định
hướng dạy hát Sấng cọ vào chương trình Giáo dục địa phương; "Có một khơng
gian siêu nhiên trong Sình ca” đã chỉ ra được thế giới gồm 3 cõi trời, cõi trần và
cõi âm và thế giới tâm linh trong các câu hát Sấng cọ; “Giải mã biểu tượng chim
– cá – hoa trong lối hát “Xắng cọ”, Tạp chí Văn nghệ Thái Nguyên của người
Sán Chay ở tỉnh Thái Nguyên là bài viết đã khai thác khá cụ thể về một số biểu
tượng mang tính chất văn hoá trong các câu hát Sấng cọ như biểu tượng chim,
cá và biểu tượng hoa. Nhìn chung, các bài báo đã chỉ ra được những nét đặc sắc
về văn hoá tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở việc khái quát mà chưa đi sâu vào phân
tích, chưa thấy được vẻ đẹp văn hoá riêng biệt của người Sán Chay qua các câu
hát sấng cọ.
- Mốt số luận văn thạc sĩ, báo cáo khoa học như “Hát xắng cọ của người
Sán Chỉ ở Lộc Bình, Lạng Sơn – Những đặc điểm nội dung và nghệ thuật” -
Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái
Nguyên của Nguyễn Thị Thu Hiền; Tìm hiểu Hát Sình ca của dân tộc Cao Lan
ở Đại Phú, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang; Khi tìm hiểu về người Sán
Chay ở Định Hố, có bài nghiên cứu Đời sống văn hố của người Sán Chay ở
Định Hố – Hồng Quốc Bảo về nếp sống, đời sống văn hoá, các phong tục, tập
quán của người dân Sán Chay ở Định Hoá. Song, bài nghiên cứu chỉ đề cập đến
5
nếp sống văn hố mà chưa có sự liên hệ với lối hát Sấng cọ của người Sán Chay
ở Định Hoá. Một nghiên cứu luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Mai Quyên về
“Hát ví Lưu Tam ở Tức Tranh, Phú Lương, Thái Nguyên”. Ở luận văn nghiên
cứu này, tác giả đã làm rõ được các nét đặc trưng văn hoá của dân tộc Sán Chay
ở Phú Lương, Thái Nguyên từ ngơn ngữ, sinh hoạt cộng đồng và văn hố truyền
thống. Tác giả khái quát được hát ví Lưu Tam, hay lối hát Xình Ca thơng qua
việc tìm hiểu các quan điểm được đưa ra trước đó, cuối cùng tác giả khái quát
được “Xình ca, Sịnh ca hay hát Lưu Tam có nghĩa là xướng ca. Một bên hát
xướng lên, một bên hát đối đáp lại. Đây là một loại dân ca trữ tình, nét sinh hoạt
văn hố dân gian độc đáo, phong phú, hấp dẫn của dân tộc Sán Chay. Mỗi bài
ca là một bài thơ được ghi bằng chữ Hán viết theo thể thất ngôn (7 chữ thành
một câu, 4 câu thành một bài) và được lưu truyền trong đồng bào từ nhiều đời
nay”. Tác giả cũng đã chỉ ra được các dạng thức của hát ví Lưu Tam, đó là các
dạng thức chia theo thời gian như hát ban ngày, hát ban đêm. Chia theo nội dung
có các bài hát ca nghi lễ - phong tục như bài ca nơng lễ, trong lễ chắn cửa, hát
ví chúc mừng, các bài ca tang lễ, ví mừng xn,…Ngồi ra cịn có các bài ca lao
động, bài ca giao dun, bài ca sinh hoạt,…Nội dung của điệu hát ví của dân tộc
Sán Chay được làm rõ trong bài nghiên cứu với các chủ đề như tình yêu thiên
nhiên, ca ngợi lao động và tình yêu lao động, tình yêu lứa đôi,…và các đặc điểm
nghệ thuật được nêu ra vô cùng cụ thể như thể thơ và kết cấu với thể thơ thất
ngôn tứ tuyệt (4 câu bảy chữ), kết cấu đối đáp, trùng điệp; cách gieo vần và nhịp;
một số biện pháp tu từ được thể hiện trong các bài ca như so sánh, ẩn dụ, nhân
hố,…Qua tìm hiểu, đây là một nghiên cứu tương đối cụ thể và đi vào từng giá
trị nội dung, hình thức của Hát ví Lưu Tam kết hợp với các phương án bảo tồn
và phát huy loại hình. Đây cũng chính là nghiên cứu có thể tạo tiền đề cho những
người nghiên cứu sau đi sâu hơn nữa vào làn điệu Hát ví Lưu Tam của dân tộc
Sán Chay, từ nghiên cứu này mở ra những hướng nghiên cứu mới, đặc biệt là
mối quan hệ giữa hát ví Lưu Tam và văn hố cộng đồng của dân tộc Sán Chay.
6
Khố luận tốt nghiệp chun ngành âm nhạc: Tìm hiểu hội hát Sấng cọ của dân
tộc Sán Chay ở Bình Liêu, Quảng Ninh chỉ ra được những hình thức diễn xướng
và phương hướng bảo tồn làn điệu này ở Bình Liêu, Quảng Ninh. Tuy nhiên chưa
thực sự đi sâu khai thác vào các nội dung, mối quan hệ giữa diễn xướng Sấng cọ
và đời sống người dân Sán Chay ở Bình Liêu.
Thơng qua việc tìm hiểu lịch sử nghiên cứu về dân tộc Sán Chay và cụ thể
là Sấng cọ của dân tộc này nói chung, chúng tơi nhận thấy có những vấn đề cần
bàn đến như sau:
- Thứ nhất, các nghiên cứu đã cho thấy nguồn gốc, lịch sử của dân tộc Sán
Chay và các nếp sống, nếp nghĩ của cộng đồng dân tộc này.
- Thứ hai, nhiều nghiên cứu đã khai thác được thế giới nghệ thuật, trong
đó có hát Sấng cọ - linh hồn của người Sán Chay bao gồm các giá trị nội dung,
nghệ thuật.
- Thứ ba, các nghiên cứu cũng đã đề cập đến vấn đề bảo tồn và phát huy
giá trị truyền thống của dân tộc Sán Chay nói chung, hát Sấng cọ nói riêng.
Trên tinh thần kế thừa những thành tựu nghiên cứu đi trước, đây cũng là
cơ sở, tiền đề giúp chúng tơi có một hướng đi thú vị liên quan đến góc nhìn văn
hố gắn liền với các giá trị văn học dân gian, cụ thể là Sấng cọ của dân tộc Sán
Chay ở Định Hoá. Chính bởi vậy, tơi mong muốn đề tài “Hát Sấng cọ của người
Sán Chay ở Định Hoá, Thái Nguyên dưới góc nhìn văn hố” sẽ là chiếc chìa
khố giúp chúng tơi có thể khai mở nhiều khía cạnh văn hố của cộng đồng người
Sán Chay, đồng thời thấy được sự tác động trở lại của văn hoá trong việc bảo tồn
và phát huy giá trị văn học dân gian. Chúng tơi hy vọng việc nghiên cứu đề tài
này sẽ góp phần tạo nên một hệ dữ liệu về bản sắc dân tộc người Sán Chay ở
Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống các bài hát Sấng cọ của người Sán Chay được lưu truyền, diễn
xướng ở Định Hoá, Thái Nguyên.
7
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Phạm vi vấn đề: Luận văn tập trung nghiên cứu khái quát về diện
mạo, đặc điểm và giá trị của hát Sấng cọ của người Sán Chay ở Định Hóa, Thái
Nguyên trong mối quan hệ với đời sống văn hóa.
3.2.2. Phạm vi tư liệu: Tập hợp các bài hát Sấng cọ được lưu truyền trong
đời sống người Sán Chay ở Định Hóa do bác Trương Văn Lập – chủ nhiệm câu
lạc bộ hát Sấng cọ, xã Sơn Phú, Định Hóa và một số nghệ nhân cung cấp. Ngồi
ra, chúng tơi cũng sử dụng tư liệu trong cuốn: “Xình ca Cao Lan” do nhà thơ
Lâm Quí sưu tầm và dịch để đối chiếu, so sánh.
4. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn thực hiện nhằm nghiên cứu diện mạo hát Sấng cọ, nội dung và
nghệ thuật của hát Sấng cọ từ góc nhìn văn hố để thấy được mối quan hệ giữa
loại hình dân ca này và văn hoá cộng đồng dân tộc Sán Chay, để hiểu rõ hơn biểu
tượng xuất hiện trong hát Sấng cọ ẩn chứa ý nghĩa văn hố dân tộc, đồng thời
hiểu về khơng gian diễn xướng gắn với văn hoá cộng đồng người Sán Chay ở
Định Hố. Từ đó, góp phần lan tỏa sự trân trọng với nét đẹp giá trị văn hoá của
cộng đồng người dân tộc Sán Chay, góp phần giữ gìn, bảo tồn, phát huy vốn văn
hóa, văn học truyền thống đậm bản sắc dân tộc.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Giới thuyết những vấn đề lý luận và thực tiễn: khái niệm văn hoá, mối
quan hệ giữa văn hoá và văn học.
- Khảo sát, thống kê, phân tích các phương diện nội dung và nghệ thuật
của Sấng cọ, yếu tố văn hoá trong hát Sấng cọ, phân tích hệ thống biểu tượng
mang tính văn hố trong Sấng cọ.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điền dã văn học: chúng tôi sử dụng phương pháp điền dã
văn học để thu thập các bài hát Sấng cọ được diễn xướng tại Định Hoá, Thái
Nguyên bằng việc trực tiếp tham gia các buổi diễn xướng.
8
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: chúng tơi sử dụng phương pháp phân
tích, tổng hợp để phân tích các biểu tượng, các đặc trưng văn với loại hình dân
ca khác để thấy được nét riêng, độc đáo mà Sấng cọ phản ánh.
- Phương pháp hệ thống: chúng tôi sử dụng phương pháp hệ thống để tập
hợp các biểu tượng nhằm khái quát số lần xuất hiện của hình ảnh mang tính biểu
tượng, khám phá mối quan hệ giữa biểu tượng và văn hoá của người Sán Chay
qua lời hát Sấng cọ.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: sử dụng liên ngành giữa văn học và
lịch sử, văn học và địa lí giúp phân tích sâu sắc và cụ thể sự gắn bó khăng khít giữa
hát Sấng cọ và lịch sử, văn hoá địa phương Định Hoá, của tộc người Sán Chay.
6. Đóng góp của luận văn
- Làm rõ mối quan hệ giữa văn hoá và văn học, với Sấng cọ của dân tộc
Sán Chay ở Định Hoá.
- Khẳng định đời sống tinh thần phong phú, đa dạng, sâu sắc, giàu tình
cảm, đầy tính nhân văn của cộng đồng người Sán Chay.
- Luận văn nghiên cứu sẽ là tư liệu hữu ích giúp người đọc có cái nhìn tổng
qt về văn hố người Sán Chay nói chung, Sấng cọ nói riêng. Đồng thời, luận
văn là mong ước nhằm bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống đang dần bị mai
một của người dân tộc Sán Chay.
7. Bố cục luận văn
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan
Chương 2: Dấu ấn văn hóa trong nội dung hát Sấng cọ của người Sán
Chay ở Định Hóa
Chương 3: Dấu ấn văn hóa trong hình thức nghệ thuật hát Sấng cọ của
người Sán Chay ở Định Hóa, Thái Nguyên
9
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN
1.1. Khái niệm văn hoá và văn học
1.1.1. Khái niệm văn hoá
Văn hoá là một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những cách nhìn
khác nhau. Theo thống kê tính đến năm 1952 của nhà văn hoá người Mỹ A.L.Kroeber
và K.Klaxon, có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hoá xuất hiện trong các sách
báo phương Tây. Số lượng này ngày càng tăng lên theo thời gian.
Ở phương Tây, ta có thể kể đến khái niệm văn hoá trong cuốn “Văn hoá
nguyên thuỷ”’ (1871) của E.Tylor, ơng xác định văn hố là “một tồn thể phức
tạp bao gồm trí thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, luân lí, pháp luật, phong tục và tất
thảy những năng lực khác mà con người hoạt động với tư cách là thành viên của
xã hội”.
Ở Việt Nam, khái niệm văn hoá cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
và đưa ra các quan điểm riêng của mình, tiêu biểu là hai cuốn “Cơ sở văn hoá
Việt Nam” do Trần Quốc Vượng chủ biên và “Cơ sở văn hoá Việt Nam” do Trần
Ngọc Thêm chủ biên. Trong cuốn “Cơ sở văn hoá Việt Nam” của Trần Quốc
Vượng cũng đưa ra khái niệm văn hoá “là sản phẩm do con người sáng tạo ra,
có từ thuở bình minh của xã hội lồi người, lấy văn hoá để cảm hoá con người”.
[22, tr.17]
Đến năm 1943, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rất rõ khái niệm về văn hố
trong cuốn Hồ Chí Minh: Tồn tập, T.3, tr. 458 và Hồ Chí Minh: Văn hóa nghệ
thuật cũng là một mặt trận, NXB. Văn Học, Hà Nội, 1984, tr. 34: “Theo nghĩa
rộng, văn hoá là sự tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà lồi người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi
hỏi của sự sinh tồn . Theo nghĩa hẹp, văn hoá là một trong những phương diện
vô cùng quan trọng trong việc kiến thiết nhà nước: “Trong công cuộc kiến thiết
10
nhà nước, có bốn vấn đề cần chú ý đến, cũng phải coi là quan trọng ngang nhau:
chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá. Nhưng văn hoá là một kiến trúc thượng tầng.
Theo nghĩa rất hẹp, văn hoá là trình độ của con người trong việc xây dựng và
phát triển đất nước, xã hội.
Unesco cũng từng đưa ra khái niệm về văn hoá khá rõ ràng và cụ thể, tổng
hợp được nhiều định nghĩa và tựu chung lại “văn hoá là tổng hợp các hệ thống bao
gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội. Văn hoá khơng thuần
t bó hẹp trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật mà cũng bao hàm cả phương thức
sống, những quyền cơ bản của con người, truyền thống, tín ngưỡng.”
Khi làm luận văn này, chúng tôi sử dụng và dựa trên các khái niệm về văn
hố sẵn có, từ đó tổng hợp lại được khái niệm văn hố tập trung lại 2 khía cạnh:
vật chất và tinh thần, đặc biệt văn hố ln gắn liền với con người, đó là sản
phẩm do con người sáng tạo ra, nhưng nó đồng thời tác động lại con người để
hoàn thiện cá nhân và tạo nên giá trị cho xã hội.
Trong văn hoá, thuật ngữ văn hoá dân gian cũng là một vấn đề được chú
ý. Được dịch từ cụm “Folklore” chính là “nhân loại” và “trí khơn”, tất cả các sản
phẩm của văn hoá dân gian thuộc về một cộng đồng người, một dân tộc, nó phản
ánh trí khơn của con người qua các sản phẩm vật chất và tinh thần được hình
thành trong quá trình sinh sống và sinh hoạt mang tính tập thể, trở thành các giá
trị truyền thống của mỗi dân tộc. Văn hoá dân gian là tập hợp tất cả các giá trị về
tập quá, quy tắc, phong tục, các sản phẩm truyền miệng như truyện cổ tích, thành
ngữ, tục ngữ, các tác phẩm âm nhạc truyền thống, đặc biệt là các bài hát dân ca.
Văn hố dân gian được hình thành trong cộng đồng người, được lưu giữ bằng
phương thức truyền miệng từ đời này qua đời khác.
1.1.2. Khái niệm văn học
Theo cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, “văn học”’ được định nghĩa là “một
loại hình nghệ thuật sáng tạo bằng ngôn từ” […] Văn học là sự phản ánh của
đời sống xã hội thể hiện sự nhận thức và sáng tạo của con người. Bản chất xã
11
hội lịch sử của văn học với tư cách là hình thái ý thức xã hội đặc thù được xác
định bằng các khái niệm như “tính hiện thực”, “tính nhân loại”, “tính giai cấp”,
“tính tư tưởng”, ‘tính khuynh hướng”,…Văn học lấy con người làm đối tượng
nhận thức trung tâm. Văn học nhận thức con người với tồn bộ tính tổng hợp,
toàn vẹn, sống động trong các mối quan hệ đời sống phong phú và phức tạp của
nó, trên phương diện thẩm mỹ.” [10, tr.401,402]
Văn học là một sản phẩm nghệ thuật ngôn từ, phản ánh thực tế đời sống có
sự sáng tạo, chiêm nghiệm, từ đó thể hiện tồn bộ sự phong phú của xã hội, đời
sống con người, tâm tư, tình cảm, khát vọng của con người. Văn học môi dẫn tộc
thường bao gồm 2 bộ phận: văn học dân gian và văn học viết hay còn gọi là văn
học thành văn.
Văn học dân gian tương ứng với khái niệm folklore ngôn từ, là những sáng
tác nghệ thuật ngôn từ truyền miệng và không ngừng được sáng tạo theo phương
thức tập thể và có sự chỉnh sửa và gọt giũa của nhân dân. Văn học dân gian có
những đặc trưng riêng điển hình như tính nguyên hợp, tính đa chức năng, tính
truyền miệng, tính tập thể, tính dị bản, tính truyền thống. Những đặc trưng này
tạo nên một chỉnh thể thống nhất của các tác phẩm văn học dân gian. Trước hết
là tính nguyên hợp, các tác phẩm văn học dân gian là một chỉnh thể chưa bị chia
cắt, phản ánh đầy đủ toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Trong
mỗi tác phẩm dân gian đều chứa đựng nhiều những mặt nghĩa khác nhau về lịch
sử, tơn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán của con người. Ví dụ trong thần
thoại, các tác phẩm truyện thần thoại phản ánh và lí giải nguồn gốc của thế giới
lồi người, các hiện tượng tự nhiên như truyện “Thần Trụ Trời” đã lí giải nguồn
gốc của trời đất mang ý niệm của con người. Văn học dân gian mang tính ngun
hợp cịn thể hiện ở chỗ các hình thức diễn xướng dân gian còn kết hợp với các
phương tiện khác như âm nhạc, vũ điệu, động tác,..Ví dụ trong hát Then của
người Tày, họ vừa hát, vừa đệm đàn bằng đàn tính tẩu, vừa diễn. Thứ hai là tính
truyền miệng của văn học dân gian. Tính truyền miệng của các sáng tác văn học
12
dân gian trở thành một yếu tố và nhu cầu khơng thể thay thế, đây chính là phương
thức tồn tại của văn học dân gian. Tính truyền miệng cũng chi phối hình thức
diễn xướng của văn học dân gian như nói, ngâm, hát, kể, diễn,…những lời nói
trong văn học dân gian được cách điệu với lời nói thường và trở thành một yếu
tố có tính nghệ thuật. Nhờ tính truyền miệng mà văn học dân gian có thể đa dạng
loại hình diễn xướng và tiếp cận đến nhiều đối tượng độc giả. Tính tập thể cũng
là một yếu tố phân biệt văn học dân gian với văn học viết. Tính tập thể thể hiện
từ việc sáng tác, hoạt động trình diễn và hoạt động thưởng thức văn học dân gian.
Mọi sự sáng tạo cá nhân trong văn học dân gian đều phải tuân theo những quy tắc
nhất định của tâm lí sáng tác tập thể. Từ tính tập thể - truyền miệng mà văn học dân
gian có một đặc trưng đặc biệt đó là tính dị bản. Tính dị bản là kết quả của việc sáng
tác tập thể và lưu truyền bằng hình thức truyền miệng, từ đó có thể ở mỗi vùng, mỗi
địa phương có thể thay đổi một số chi tiết, một số câu trong tác phẩm.
Nhìn chung, văn học dân gian chính là những tác phẩm nghệ thuật ngơn từ
và gắn liền với đời sống sinh hoạt của nhân dân, truyền tải những thơng điệp có
ý nghĩa, phản ánh cuộc sống con người.
1.1.3. Mối quan hệ giữa văn hoá và văn học
Văn hoá và văn học là hai khái niệm có mối quan hệ chặt chẽ và có sự
tương tác qua lại. Nếu nói “văn hố là sản phẩm của con người do con người
sáng tạo ra” hay “văn hoá là tổng hợp các hệ thống bao gồm các mặt tình cảm,
tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội”, rõ ràng văn học cũng là một trong những
yếu tố nằm trong văn hoá bởi văn học là một sản phẩm thuộc dạng tinh thần của
xã hội và do con người sáng tạo ra bằng ngôn ngữ.
Văn hoá và văn học đều hướng tới một mục đích đó là làm cho con người
và xã hội ngày một trở nên tốt đẹp. Đặc trưng cơ bản của văn hố trong đó có
tính nhân sinh, tính nhân văn, có nghĩa là văn hố phải do con người sáng tạo ra,
là thành quả của sự lao động và phục vụ sự phát triển ngày một tốt hơn của con
người. Đặc biệt, trong cuốn “Văn hoá – văn học dưới góc nhìn liên khơng gian”
13
của Nguyễn Văn Dân”: “Văn hố cịn có khả năng làm biến đổi tính cách và phát
triển trí tuệ con người, góp phần xây dựng phẩm giá và nhân cách cá nhân” [8,
tr.71] hay cùng trong cuốn này, Nguyễn Văn Dân cũng đưa ra quan niệm của các nhà
nghiên cứu văn hố trên thế giới rằng tính nhân đạo (hay nhân văn) luôn là động lực
cơ bản của một nền văn hoá dân tộc tiến bộ. [8,tr.82]
Văn học là sản phẩm sáng tạo của con người, ngồi tính thẩm mỹ, văn học
cũng đều hướng tới giá trị cốt lõi là tạo nên một xã hội tốt đẹp. Khơng phải ngẫu
nhiên Maxim Gorki nói rằng “văn học là nhân học” bởi đối tượng của văn học
là con người và con người mà văn học nhận thức đều mang một nội dung đạo
đức nhất định nhưng tồn vẹn hơn. Belinski cũng từng nói “Tác phẩm nghệ thuật
sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu nó khơng phải là tiếng thét
khổ đau hay lời ca tụng hân hoan, nếu nó khơng đặt ra những câu hỏi hoặc trả
lời những câu hỏi đó”. Hay Sê – khốp cũng khẳng định rằng: “Một nghệ sĩ chân
chính phải là một nhà nhân đạo từ trong cốt tuỷ”. Vậy, văn học vốn dĩ hướng tới
cái đẹp, cái đẹp ln đi liền với cái thật, đó là “chân – thiện – mỹ”. Bởi vậy mà
từ xưa, các nhà văn Việt Nam đã dùng văn học để nói đạo, dùng văn học để
khuyên răn người đời giữ trọn vẹn cái đức. Văn học hiện đại tuy không giấu diếm,
không che đậy sự thật mặc dù xấu xa, nhưng việc phơi bày đó cốt yếu là để con
người nhận ra cái xấu hiện hữu mà bài trừ nó, mà tiêu huỷ nó để hướng tới cuộc
sống tốt đẹp. Vậy trên phương diện hướng tới cái tốt đẹp của con người và xã
hội, rõ ràng văn học là một trong những yếu tố của văn hố góp phần tạo dựng
nên cái đẹp ở đời.
Văn hố và văn học cịn có mối quan hệ biện chứng với nhau. Văn hoá là
tổng hợp những giá trị vật chất và tinh thần đã có từ lâu đời, bởi vậy văn hố
chính là vốn tri thức, là nguồn tài liệu phong phú để các nhà văn, nhà thơ sáng
tạo nên các tác phẩm văn học của mình. Ngay trong văn học dân gian, ta có thể
thấy được một vốn văn hoá đồ sộ được đi vào trong văn học. Đó là văn hố “uống
nước nhớ nguồn”: Tục ngữ (Ăn quả nhớ kẻ trồng cây/ Ăn khoai nhớ kẻ cho dây
14