Tải bản đầy đủ (.pdf) (115 trang)

Đảng bộ thành phố lai châu, tỉnh lai châu lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2010 đến năm 2022

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (5.34 MB, 115 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

TRẦN LỆ QUYÊN

ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2022

Ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 8229015

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS. Mai Thị Hồng Vĩnh

Thái Nguyên, Năm 2024

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn là cơng trình nghiên cứu của cá nhân tôi.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không
trùng lặp với luận văn khác.

Thái Nguyên, tháng 12 năm 2023
Tác giả luận văn

Trần Lệ Quyên


ii

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................. 1
2. Tình hình nghiên cứu .......................................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................... 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.......................................................................6
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu.........................................................6
6. Đóng góp của luận văn........................................................................................7
7. Kết cấu của luận văn ........................................................................................... 7
Chương 1 ĐẢNG BỘ THỊ XÃ - THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM
2015 ......................................................................................................................... 8
1.1. Những nhân tố tác động đến chủ trương phát triển kinh tế du lịch của Đảng
bộ thị xã - thành phố Lai Châu................................................................................8

1.1.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước ................................................................. 8
1.1.2. Chủ trương của các cấp Đảng bộ về phát triển kinh tế du lịch................13
1.1.3. Khái quát về thành phố Lai Châu và các điều kiện phát triển kinh tế du lịch .......18
1.2. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ thị xã – thành phố Lai Châu về phát
triển kinh tế du lịch từ năm 2010 đến năm 2015 .................................................. 24
1.2.1. Chủ trương của Đảng bộ thị xã - thành phố Lai Châu về phát triển kinh
tế du lịch từ năm 2010 đến năm 2015................................................................24
1.2.2. Quá trình chỉ đạo về phát triển kinh tế du lịch từ năm 2010 đến năm 2015..... 27
Chương 2 ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ LAI CHÂU LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH ... 36
PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TỪ NĂM 2015 ĐẾN NĂM 2022 ............... 36
2.1. Những yêu cầu mới trong phát triển kinh tế du lịch ...................................... 36
2.1.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước ............................................................... 36
2.1.2. Chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế du lịch …………………...39

2.1.3. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Lai Châu về phát triển kinh tế du lịch ...42
2.2. Chủ trương và sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Lai Châu về đẩy mạnh phát
triển kinh tế du lịch từ năm 2015 đến năm 2022......................................................... 46

iii

2.2.1. Chủ trương của Đảng bộ thành phố Lai Châu về phát triển kinh tế du lịch
từ năm 2015 đến năm 2022 ....................................................................................... 46
2.2.2. Đảng bộ thành phố Lai Châu chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch từ
năm 2015 đến năm 2022 ........................................................................................... 51
Chương 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM.......................................................69
3.1. Một số nhận xét .............................................................................................. 69
3.1.1. Ưu điểm và nguyên nhân ......................................................................... 69
3.1.2. Hạn chế và nguyên nhân .......................................................................... 76
3.2. Một số kinh nghiệm ....................................................................................... 81
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 94
PHỤ LỤC ............................................................................................................ 100

iv

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT Chữ viết tắt Nguyên nghĩa chữ viết tắt
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association
1 ASEAN of South East Asian)
Mỗi xã một sản phẩm (One commune one
2 OCOP product)
coronavirus disease 2019 (nghĩa là bệnh virus
3 Covid-19 corona 2019)

Đại học Quốc gia
4 ĐHQG Tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic
Product)
5 GDP Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourism
Organization)
6 UNWTO Nhà xuất bản

7 Nxb

v

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1. Lượng khách du lịch đến thành phố Lai Châu ................................... 72
giai đoạn 2010 -2022........................................................................................... 72
Bảng 3.2. Các cơ sở lưu trú trên địa bàn thành phố Lai Châu ............................ 73
giai đoạn 2010 – 2022 ......................................................................................... 73

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

Du lịch là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp, sự tăng trưởng của ngành du
lịch đã tác động lan tỏa đến nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau; tạo chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời
sống, cải thiện diện mạo đô thị và nông thôn của nước ta. Bên cạnh đó, phát
triển du lịch góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc; đảm bảo an
ninh, quốc phịng, giữ vững mơi trường hịa bình, hữu nghị, tăng cường hiểu biết
và nâng tầm vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Chính vì vậy, trong q trình

lãnh đạo Đảng ta ln chú trọng đầu tư phát triển du lịch, đặc biệt Nghị quyết số
08-NQ/TW, ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn đã nêu rõ quan điểm: “Phát triển du lịch trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn là định hướng chiến lược quan trọng để phát triển đất
nước, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác” [2, 1].

Thành phố Lai Châu có diện tích 92,37 km², dân số là 42.973 người với 7
đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 5 phường và 2 xã, phía Bắc giáp với huyện
Phong Thổ và huyện Tam Đường, phía Đơng và Nam giáp huyện Tam Đường,
phía Tây giáp huyện Sìn Hồ. Vị trí địa lý trên tạo cho Thành phố có lợi thế phát
triển kinh tế, thương mại, dịch vụ, du lịch và là vị trí quan trọng trong chiến lược
quốc phòng - an ninh của tỉnh Lai Châu. Sau gần 20 năm xây dựng và phát triển,
thành phố đã đổi thay cả về diện mạo cũng như đời sống của nhân dân. Kinh tế,
xã hội đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đặc biệt chú trọng đến phát triển du
lịch, khẳng định được vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, an
ninh quốc phòng, là đầu tầu trong phát triển kinh tế của tỉnh.

Từ năm 2010 đến năm 2022, Đảng bộ thành phố Lai Châu đã vận dụng
các chủ trương, đường lối của Đảng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội,
đặc biệt là chủ trương về du lịch, khai thác các tiềm năng lợi thế của địa phương
để phát triển kinh tế du lịch. Đảng bộ thành phố đã ban hành nhiều văn bản lãnh
đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành, các cơ quan chuyên môn đầu tư phát triển du
lịch. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố, kinh tế du lịch Lai Châu có

2

nhiều chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội
của thành phố Lai Châu. Bên cạnh những thành tựu đạt được, kinh tế du lịch ở thành
phố Lai Châu cịn gặp một số khó khăn, hạn chế: quản lý nhà nước trong hoạt động du
lịch chất lượng đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực, sản phẩm du lịch,…


Để đánh giá đúng thực trạng sự phát triển kinh tế du lịch của thành phố
Lai Châu trong những năm từ 2010 đến năm 2022, làm cơ sở cho việc ban hành
các chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo trong giai đoạn tiếp theo, cần có sự tổng kết về
lý luận và thực tiễn, lý giải nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm.

Xuất phát từ những lí do trên, tác giả đã chọn đề tài “Đảng bộ thành
phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm
2010 đến năm 2022 ” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng
sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu

Du lịch là ngành kinh tế mới nhưng rất quan trọng được Đảng ta xác định
là “ngành kinh tế mũi nhọn” và đang có bước tiến phát triển mạnh mẽ đóng góp
vào sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Nghiên cứu về du lịch đã được sự
quan tâm của các nhà khoa học ở những phạm vi và mức độ khác nhau.

2.1. Các cơng trình nghiên cứu về du lịch nói chung
Tác giả Vũ Mạnh Hà (2014), trong cơng trình Kinh tế du lịch [30], đã đề
cập đến những vấn đề cơ bản về du lịch, kinh tế du lịch. Cuốn sách cung cấp
những kiến thức cơ bản về loại hình du lịch, điều kiện phát triển du lịch, các linh
vực kinh doanh du lịch, lực lượng lao động trong du lịch, quy hoạch và tổ chức,
quản lý ngành du lịch.
Trong cơng trình Đào tạo nguồn nhân lực du lịch hiện nay (2016) [29], tác
giả Nguyễn Sơn Hà đã đi sâu làm rõ một số vấn đề về nguồn nhân lực du lịch
Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015, cụ thể là: quy mơ, trình độ, cơ cấu và thực
trạng công tác đào tạo nhân lực du lịch.
Đề cập đến vai trò của phát triển du lịch đối với sự phát triển kinh tế, xã
hội, cụ thể là Phát triển du lịch biên giới là góp phần bảo đảm an ninh quốc
phịng quốc gia (2017) [3], tác giả Ngơ Hồi Chung đã làm rõ các vấn đề: phát


3

triển du lịch biên giới góp phần giải quyết và việc làm, giảm nghèo, giữ gìn và
làm tăng các giá trị cảnh quan; bảo tồn các giá trị văn hoá. Đồng thời, tác giả
nhấn mạnh, vai trò của phát triển kinh tế du lịch vùng biên giới góp phần quan
trọng trong việc giao lưu các dân tộc vùng biên giới, củng cố giữ gìn quốc
phòng an ninh quốc gia, khu vực giáp biên, tạo điều kiện xây dựng đường biên
hồ bình, hữu nghị.

Cơng trình “Du lịch Việt Nam từ lý thuyết đến thực tiễn” (2018) [65] của
tác giả Phan Huy Xu, Võ Văn Thành gồm ba phần chính: Phần 1, đề cập đến
những lý luận về du lịch học nói chung và du lịch Việt Nam nói riêng; Phần 2,
làm rõ những vấn đề cụ thể của du lịch Việt Nam như: tài nguyên du lịch, sản
phẩm du lịch, về đào tạo, làng nghề; Phần 3, khảo cứu về những thuật ngữ
thường dùng của du lịch học và du lịch Việt Nam.

2.2. Các cơng trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề Đảng lãnh đạo
phát triển du lịch

Nhóm các cơng trình nghiên cứu liên quan đến Đảng lãnh đạo phát
triển kinh tế du lịch

Cơng trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch
thời kì đổi mới (1986 - 2001) [53] của Nguyễn Văn Tài, cùng với việc hệ
thống hóa về chủ trương của Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch thời kỳ
đổi mới (1986 - 2001), tác giả đã phân tích, làm rõ các yếu tố tác động đến
chủ trương của Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch; phân tích, luận giải
q trình lãnh đạo phát triển du lịch; những thành tựu, hạn chế trong quá trình
lãnh đạo của Đảng và đúc kết được các kinh nghiệm có giá trị khoa học về lý

luận và thực tiễn.

Tác giả Nguyễn Thế Thi có nhiều cơng trình nghiên cứu về du lịch như
“Một số quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế du lịch từ năm 1986 đến năm
2010” (năm 2017)” [55]; “Đảng lãnh đạo phát triển du lịch trong thời kì đẩy
mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (2006 - 2017)” (2019)
[56]; “Một số kinh nghiệm của Đảng lãnh đạo phát triển du lịch trong thời kì
đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (2006-2017)”

4

(2019) [57]. Các công trình đã hệ thống hố và phân tích chủ trương phát triển
du lịch của Đảng qua các nhiệm kỳ Đại hội Đảng từ năm 1986 đến năm 2017.
Thông qua các cơng trình nghiên cứu, tác giả đã chỉ rõ những bài học kinh
nghiệm của Đảng trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch.

Ngoài ra, các luận án, luận văn nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối
với kinh tế du lịch như: Luận án tiến sĩ của tác giả Đinh Văn An (2017), Đảng
bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 1991 đến
năm 2015 (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) [1]; Nguyễn Thế Thi
(2020), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm
2006 đến năm 2015 (Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng)... Luận văn thạc sĩ:
Nguyễn Thu Nhàn (2013), Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo phát triển kinh tế
du lịch từ năm 2001 đến năm 2011 (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn - ĐHQG Hà Nội) [32]; Nguyễn Thị Phương (2014), Đảng bộ tỉnh Thanh
Hoá lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2001 đến năm 2010 (Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG Hà Nội) [36]; Đoàn Hải Đăng
(2014) Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo phát triển du lịch giai đoạn từ năm
2001 đến năm 2010, (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) [27]; Nguyễn
Thị Nhung (2018), Đảng bộ tỉnh Lào Cai lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ

năm 2001 đến năm 2015 (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn -
ĐHQG Hà Nội) [33]; Đàm Văn Trường (2022), Đảng bộ huyện Lộc Bình, tỉnh
Lạng Sơn lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2010 đến năm 2020 (Trường
Đại học Khoa học Thái Nguyên) [54]... Các luận văn nêu trên đã làm rõ về sự
lãnh đạo của Đảng bộ ở từng địa phương cụ thể trong phát triển kinh tế du lịch
gắn với tiềm năng, lợi thế, tình hình thực tiễn của các địa phương.

Nhóm các cơng trình nghiên cứu liên quan đến kinh tế du lịch ở tỉnh
Lai Châu thành phố Lai Châu

Nghiên cứu về Lai Châu nói chung và thành phố Lai Châu nói riêng có
một số luận văn, luận án thuộc các chuyên ngành khác nhau đã tiếp cận đến phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lai Châu nói chung, du lịch nói riêng như: Luận án
“Đảng bộ tỉnh Lai Châu lãnh đạo phát triển kinh tế lâm nghiệp từ năm 2004 đến

5

năm 2015” (2020) [33] của Hoàng Thị Nhung; Luận án “Di dân với xây dựng
lực lượng quốc phịng tồn dân (nghiên cứu trường hợp tỉnh Lai Châu)” [64] của
Nguyễn Văn Vị; Luận văn “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hoá tỉnh Lai
Châu” (2014) [31] của tác giả Lưu Thị Minh Huệ,…

Các cơng trình nghiên cứu khoa học nêu trên đã đề cập đến những phạm
vi và mức độ khác nhau liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Tuy nhiên, cho đến
nay, chưa có cơng trình nghiên cứu nào trình bày một cách đầy đủ, hệ thống về
quá trình “Đảng bộ thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu lãnh đạo phát triển
kinh tế du lịch từ năm 2010 đến năm 2022”. Mặc dù, đề tài nghiên cứu của
luận văn là mới, nhưng những nghiên cứu đã công bố ở các mức độ khác nhau
từ trước đến nay đều là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng, có giá trị thiết thực
giúp tác giả hoàn thành luận văn.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích

Luận văn làm rõ quá trình Đảng bộ thành phố Lai Châu lãnh đạo phát triển kinh
tế du lịch, nêu lên những thành tựu chủ yếu, chỉ ra những hạn chế và bước đầu đúc rút
một số kinh nghiệm trong lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn thành phố từ
năm 2010 đến năm 2022 có ý nghĩa tham khảo trong những năm tiếp theo.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xuất phát từ những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, luận
văn tập trung đi sâu vào phân tích các chủ trương, chính sách của Đảng bộ thành
phố Lai Châu về phát triển kinh tế du lịch từ năm 2010 đến năm 2022.

- Đưa ra các nhận định khoa học về những thành tựu và hạn chế trong quá
trình lãnh đạo kinh tế du lịch của Đảng bộ thành phố Lai Châu.

- Từ đó, luận văn rút ra những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo và đề
xuất một số giải pháp cụ thể, thiết thực, đóng góp vào sự lãnh đạo của thành phố
Lai Châu trong lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch trong thời gian tới.

6

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng

Đề tài tập trung nghiên cứu chủ trương, chính sách và sự chỉ đạo của
Đảng bộ thành phố Lai Châu đối với việc phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn
thành phố từ năm 2010 đến năm 2022.
4.2. Phạm vi nghiên cứu


Về nội dung: Luận văn nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ
thành phố Lai Châu trong phát triển kinh tế du lịch từ năm 2010 đến năm 2022.

Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu trên địa bàn thành phố Lai
Châu, tỉnh Lai Châu gồm 7 đơn vị hành chính: 5 phường và 2 xã.

Về thời gian: Từ năm 2010 đến năm 2022, qua 2,5 nhiệm kì Đại hội
Đảng bộ: Đại hội Đảng bộ Thị xã Lai Châu lần thứ II, nhiệm kì 2010 – 2015;
Đại hội Đảng bộ thành phố Lai Châu lần thứ III, nhiệm kì 2015 – 2020; Đại hội
Đảng bộ thành phố Lai Châu lần thứ lần thứ IV, nhiệm kì 2020 – 2025.
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu chủ yếu của luận văn là: các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết,
của Đảng và Nhà nước; các văn bản của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Tổng
cục Du lịch về phát triển kinh tế du lịch. Các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết, quyết
định; các đề án, báo cáo, tài liệu hội thảo liên quan đến du lịch của tỉnh Lai
Châu, thành phố Lai Châu. Các cơng trình nghiên cứu như sách chuyên khảo,
bài nghiên cứu, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ có liên quan đến vấn đề nghiên
cứu của đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong luận văn là phương pháp lịch
sử và phương pháp logic. Trong đó, việc vận dụng phương pháp lịch sử giúp
luận văn làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Lai Châu trong phát triển
kinh tế du lịch từ năm 2010 đến năm 2022. Sử dụng phương pháp logic để đánh
giá một cách khái quát thành tựu, hạn chế, rút ra những kinh nghiệm trong lãnh
đạo phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ thành phố Lai Châu. Ngoài ra, luận

7


văn còn sử dụng phương pháp khác như: thống kê, phân tích, tổng hợp, so
sánh… để hồn thành nội dung luận văn.
6. Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ vai trị quan trọng của Đảng bộ thành phố Lai
Châu trong việc lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch; những thành tựu và hạn chế
trong quá trình lãnh đạo phát triển ngành kinh tế du lịch của Đảng bộ thành phố Lai
Châu giai đoạn từ năm 2010 - 2022. Trên cơ sở đó, luận văn rút ra một số kinh
nghiệm chủ yếu của Đảng bộ thành phố Lai Châu trong phát triển kinh tế du lịch.

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp nguồn tài liệu tham
khảo để nghiên cứu, học tập Lịch sử địa phương trên địa bàn thành phố.
7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
phần nội dung của luận văn được chia làm ba chương.

Chương 1: Đảng bộ thị xã - thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu lãnh đạo
phát triển kinh tế du lịch từ năm 2010 đến năm 2015

Chương 2: Đảng bộ thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu lãnh đạo đẩy
mạnh phát triển kinh tế du lịch từ năm 2015 đến năm 2022

Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm.

8

Chương 1
ĐẢNG BỘ THỊ XÃ - THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU LÃNH


ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015

1.1. Những nhân tố tác động đến chủ trương phát triển kinh tế du lịch của
Đảng bộ thị xã - thành phố Lai Châu
1.1.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước

Bối cảnh quốc tế
Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, diễn ra mạnh mẽ và sâu rộng hơn,
cuốn hút tất cả các nước và vùng lãnh thổ tham gia trong thế vừa hợp tác vừa
cạnh tranh, vừa tạo ra cơ hội, vừa đưa lại nhiều thách thức. Quan hệ song
phương, đa phương ngày càng sâu rộng trong kinh tế, văn hóa, xã hội, môi
trường và những vấn đề chung hướng tới mục tiêu thiên niên k . Hiến chương
ASEAN có hiệu lực từ tháng 12/2008 đã trở thành một cột mốc quan trọng, tạo
nền tảng cho thể chế mới của ASEAN, tăng cường sự gắn kết, năng động và hội
nhập đầy đủ giữa các quốc gia ASEAN. Đây là thách thức đồng thời cũng là cơ
hội lớn cho Du lịch Việt Nam trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế.
Trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học - cơng nghệ tiếp tục có những
bước tiến nhảy vọt, thúc đẩy kinh tế tri thức phát triển, tác động tới tất cả các
lĩnh vực, các nước và vùng lãnh thổ, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời
sống vật chất và tinh thần của xã hội. Các yếu tố này tác động rộng, lớn đến cơ
cấu và sự phát triển, mở ra triển vọng mới cho Du lịch Việt Nam tham gia vào
phân công lao động du lịch toàn cầu. Mỗi biến động của kinh tế thế giới đều tác
động đến ngành du lịch, nhiều hay ít tùy thuộc vào mức độ hội nhập và trình độ
thích ứng của ngành Du lịch Việt Nam.
Giao lưu và hội nhập quốc tế diễn ra thuận lợi và nhanh chóng, nhưng
cũng là cuộc đấu tranh gay gắt để bảo tồn tính đa dạng và bản sắc văn hóa dân
tộc. Q trình giao lưu, hội nhập quốc tế có khả năng tạo ra những biến đổi lớn
về diện mạo, đặc điểm, loại hình du lịch; đồng thời, sự bùng nổ của các phương

tiện và công nghệ truyền thông, của công nghệ giải trí cũng tạo nên những tác

9

động cả tích cực và tiêu cực đến đời sống xã hội và công chúng, kéo theo tác
động vào sự phát triển du lịch.

Nhân loại đang có hai nhóm vấn đề cần đến hành động tập thể mới có thể
giải quyết được, mới bảo vệ được lợi ích chung làm cơ sở để bảo vệ lợi ích riêng
của từng quốc gia và vùng lãnh thổ. Nhóm vấn đề thứ nhất là những mâu thuẫn
trong chính trị, quân sự (chiến tranh, khủng bố, vũ khí giết người hàng loạt,
xung đột chủ quyền...) và những mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế (sự phân hóa
giàu - nghèo; nợ nần; khủng khoảng kinh tế và tài chính...). Nhóm vấn đề thứ
hai là sự mất cân đối trầm trọng giữa con người với thiên nhiên như vấn đề bùng
nổ dân số, thiếu lương thực, thực phẩm trên khắp thế giới; dịch bệnh và sức
khỏe con người; việc bảo vệ môi trường thiên nhiên trước tác động hu hoại của
con người; sự biến đổi khí hậu với các hiện tượng cực đoan của thời tiết; cuộc
khủng khoảng về năng lượng và nguyên liệu... Tất cả những vấn đề nêu trên đòi
hỏi các nước, các dân tộc trên toàn thế giới phải cùng nhau giải quyết nhằm gìn
giữ “trái đất chung của tồn nhân loại”. Quan hệ song phương và đa phương
giữa các nước, các khu vực và các đối tác ngày càng sâu rộng cả trong kinh tế,
văn hóa, bảo vệ mơi trường, giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu và cả
trong việc phòng chống các đại dịch... thúc đẩy sự di chuyển luồng khách du
lịch và nhân lực du lịch.

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và sự hình thành nền
kinh tế tri thức làm cho “thế giới phẳng hơn”, sự cách trở về không gian địa lý
từng bước thu hẹp lại. Sự chuyển dịch của con người, vốn, công nghệ, sản phẩm,
dịch vụ từ nơi này của trái đất qua những nơi khác trên trái đất nhanh chóng,
thuận tiện và dễ dàng hơn. Cuộc cách mạng 3T (Transport - Telecommucation -

Tourism) đã thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển. Công nghệ mới làm thay đổi
căn bản phương thức quan hệ kinh tế, đặc biệt là công nghệ thông tin truyền
thông được ứng dụng mạnh trong du lịch.

Sự chuyển giao khoa học kỹ thuật và các công nghệ mới từ nơi nghiên
cứu ra thực tế được rút ngắn khoảng cách về không gian và thời gian. Hầu hết
thời gian sử dụng của mọi thứ trên lý thuyết chỉ còn từ chín đến mười hai tháng.

10

Chính việc phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật và công nghệ đã phá vỡ
hàng rào ngăn cách địa giới hành chính và các rào cản khác trong giao dịch của
con người trên tất cả các lĩnh vực giữa các quốc gia. Internet đã kết nối cả thế
giới lại và ảnh hưởng sâu sắc đến phương thức sản xuất và sinh hoạt của loài
người, làm cho bất cứ người nào, bất kể ở đâu đều có thể xây dựng được mối
liên lạc với nhau. Phương pháp tổ chức công việc được thay đổi (làm việc tại
nhà và cùng một lúc phối hợp với nhiều người trên khắp thế giới). Đời sống xã
hội được tồn cầu hố, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện, kể cả
trong lĩnh vực du lịch.

Suy thoái kinh tế và khủng khoảng tài chính dẫn tới tái cấu trúc nền kinh
tế thế giới, đòi hỏi các quốc gia, các vùng lãnh thổ phải thích ứng theo xu hướng
mới. inh tế thế giới có thể khơi phục, nhưng phải mất khơng ít thời gian để ổn
định và phát triển với tốc độ cao. Các ngành, nghề biến đổi liên tục, một số
ngành, nghề cũ nhanh chóng mất đi, nhiều ngành, nghề mới nhanh chóng xuất
hiện, yêu cầu kỹ năng tổng hợp thay cho kỹ năng hẹp. Chu kỳ vòng đời của mỗi
loại sản phẩm du lịch ngày càng ngắn lại, sản phẩm mới liên tục xuất hiện, khu
vực dịch vụ du lịch và các dịch vụ khác phát triển nhanh, chiếm t trọng lớn về
giá trị gia tăng và việc làm. Trong quá trình này, nước nào nắm được xu hướng
phát triển cơng nghệ - kỹ thuật, nước đó sẽ tăng cường được sức mạnh kinh tế

và năng lực cạnh tranh.

Những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam cần có lợi thế về tài
nguyên độc đáo, bản sắc văn hóa dân tộc để phát triển du lịch. Nhu cầu du lịch
thay đổi hướng tới những giá trị mới được thiết lập trên cơ sở giá trị văn hóa
truyền thống (tính độc đáo, nguyên bản), giá trị tự nhiên (tính nguyên sơ, hoang
dã), giá trị sáng tạo và cơng nghệ cao (tính hiện đại, tiện nghi). Du lịch bền
vững, du lịch xanh, du lịch có trách nhiệm, du lịch gắn với xóa đói giảm nghèo
là những xu hướng nổi trội. Chất lượng môi trường trở thành yếu tố quan trọng
cấu thành giá trị du lịch và là tiêu chí khơng thể thiếu trong đánh giá sự phát
triển du lịch. Tất cả những điều đó địi hỏi trình độ và kỹ năng của nhân lực

11

không ngừng phải nâng lên và thường xuyên thay đổi để phù hợp và kịp bắt nhịp
với những cái mới do tiến bộ khoa học công nghệ đem lại.

Bối cảnh trong nước
Việt Nam đã có những khoản đầu tư chung của Nhà nước và các thành
phần kinh tế để tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực, xã
hội hóa cơng tác du lịch, tạo thuận lợi cho du khách và sản phẩm du lịch ngày
càng phong phú. Với nhiều khu vui chơi giải trí, sân thể thao, lễ hội đang được
nâng cấp và đầu tư mới, ngày càng có thêm nhiều cơ sở vật chất khá tốt phục vụ
khách du lịch trong nước và ngoài nước. Tăng cường phối kết hợp giữa các ban,
ngành trong việc phát triển du lịch, kể cả nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch,
tạo thuận lợi cho du khách trong việc hưởng thụ các sản phẩm du lịch, đẩy mạnh
xuất khẩu tại chỗ. Những biện pháp về đơn giản hóa thủ tục Visa và mở rộng
quyền của các tổ chức lữ hành đã bắt đầu được hoan nghênh rộng rãi. Theo đó,
nhà nước đã vận dụng cơ chế chính sách, luật pháp liên quan đến du lịch và giải
quyết các vấn đề có tính liên ngành ngày càng linh hoạt để tạo thuận lợi cho du

lịch phát triển nhanh, trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế và hội nhập
quốc tế của đất nước. Trong đó, tập trung đổi mới, hồn thiện chính sách xuất
nhập cảnh, hải quan, thu hút đầu tư du lịch, tài chính, ngân hàng, đầu tư kết cấu
hạ tầng và chính sách xúc tiến du lịch; Tăng cường ứng dụng công nghệ thông
tin trong hoạt động du lịch.
Ngành du lịch đã từng bước coi trọng, đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị
trường và xúc tiến quảng bá du lịch, xây dựng và phát triển thương hiệu du lịch
Việt Nam trong khu vực và thế giới; Chủ động tuyên truyền, giáo dục, giúp
khẳng định được vai trò, động lực của du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội và
hội nhập quốc tế của đất nước. Từ đó tạo nên những chuyển biến nhận thức sâu
rộng và rõ nét trong xã hội về tầm quan trọng của phát triển du lịch ở các địa
phương nói riêng và cả nước nói chung, nhất là trong đầu tư, bảo tồn, tôn tạo,
khai thác sử dụng tài nguyên, phân công, phân cấp trong quản lý du lịch.
Việt Nam với nền tảng là một đất nước nghìn năm văn hiến, phát triển du
lịch vẫn giữ được bản sắc văn hóa của dân tộc, chính là góp phần thực hiện mục

12

tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Bản sắc
chính là tăng thêm sự độc đáo, hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu của du khách. Cánh
cửa du lịch mở rộng càng làm cho nhân dân thế giới hiểu được đất nước, con
người, văn hóa Việt Nam và ngược lại chúng ta cũng tiếp cận được với nền văn
minh thế giới, từ đó tăng cường tình hữu nghị, hợp tác giữa các nước. Đặc biệt
chúng ta đã phát triển các loại hình, sản phẩm du lịch văn hóa từ lâu đời gắn với
những di sản, lễ hội, tham quan và tìm hiểu văn hóa, lối sống địa phương, du
lịch cộng đồng và du lịch làng nghề,… Đó chính là những tiền đề để phát triển
kinh tế du lịch đất nước.

Với tiềm năng tài nguyên và vị thế của một đất nước hướng ra biển với
nhiều bãi biển, hải đảo đẹp, hấp dẫn và nguyên sơ, chúng ta đã tập trung phát

triển loại hình du lịch nghỉ dưỡng biển, xây dựng các khu du lịch nghỉ dưỡng
biển chất lượng cao, phát triển các sản phẩm du lịch thể thao, giải trí trên biển và
sinh thái biển. Trong đó khơng chỉ tăng cường phát triển du lịch tàu biển liên kết
với các trung tâm du lịch biển lớn của khu vực và thế giới để nối chương trình
đón khách, mà cịn cần khuyến khích người dân trong nước đi du lịch tàu biển
dọc lãnh thổ Việt Nam và sang các nước trong khu vực.

Bên cạnh đó, nguồn nhân lực có trình độ và kỹ năng nghề nghiệp, công
tác đào tạo nhân lực cũng bắt đầu được các nhà đầu tư quan tâm. Đẩy mạnh
đào tạo, đào tạo lại và khơng ngừng bồi dưỡng, nâng cao trình độ nhân lực
ngành du lịch, Ngành du lịch đã có những bước đặt ưu tiên cho công tác này
và tập trung mọi nỗ lực để chuyên nghiệp hóa đội ngũ quản lý và nhân viên
trong ngành du lịch.

Trong giai đoạn này, nền kinh tế của Việt Nam đã có sự tăng trưởng đáng
kể. Sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người đã làm tăng nhu cầu du lịch nội
địa. Điều này đã tạo cơ hội cho thành phố Lai Châu phát triển ngành du lịch
bằng cách hướng đến khách du lịch trong nước.

Việt Nam đang thật sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Thời cơ
và thách thức đan xen. hó khăn cịn nhiều nhưng thuận lợi cũng khơng nhỏ.
Trong bối cảnh đó, ngành du lịch Việt Nam tiếp tục nỗ lực phấn đấu và đặt mục

13

tiêu đến năm 2025 thu hút được 15 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 40 triệu
lượt khách du lịch trong nước. Mục tiêu đó đã đặt ra cho ngành du lịch Việt
Nam một trọng trách không nhỏ. Với sự quan tâm của Ðảng và Nhà nước, sự chỉ
đạo thường xuyên của Chính phủ, sự hợp tác chặt chẽ của các cấp, các ngành
liên quan, sự chuyển biến trong nhận thức, đánh giá đúng vai trò của du lịch,

chắc chắn du lịch nước ta sẽ phát triển mạnh, đóng góp ngày càng lớn cho sự
tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân và thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc
tế của đất nước.

Thực trạng của du lịch thị xã – thành phố Lai Châu trước năm 2010
Thành phố Lai Châu là một cao ngun đá vơi có độ cao trung bình gần
1.000 m (điểm thấp nhất gần 895 m, điểm cao nhất gần 1.300 m). Đây là trung tâm
tỉnh lỵ có độ cao lớn nhất miền Bắc và thứ hai Việt Nam (sau thành phố Đà
Lạt, tỉnh Lâm Đồng), chạy dài theo hướng tây bắc xuống đông nam và nằm trong
vùng có độ cao lớn nhất cả nước - từ 900 đến trên 2.000m giữa 2 dãy núi
lớn Hồng Liên Sơn (phía đơng) và Pu Sam Cáp (phía tây) dọc theo Quốc lộ 4D.
Trong khu vực thành phố Lai Châu và vùng lân cận có nhiều ngọn núi cao từ 1.500
m đến trên 3.000 m, tiêu biểu là đỉnh Bạch Mộc Lương Tử cao 3045m ở phía Bắc
và Pu Ta Leng (hay Phu Ta Leng - đỉnh núi cao thứ 2 tại Việt Nam với độ cao
3.096m. Vào những ngày đẹp trời từ trung tâm thành phố có thể quan sát được khu
vực này. Ngồi ra cịn rất nhiều đỉnh núi cao từ 2000 ~ 3000m chỉ nghe tên đã
muốn khám phá. Tuy nhiên trước năm 2010 các tiềm năng, lợi thế về du lịch
chưa được khai thác, do du lịch chưa được coi là ngành kinh tế quan trọng của
thị xã - thành phố, theo đó chưa được đầu tư phát triển.
1.1.2. Chủ trương của các cấp Đảng bộ về phát triển kinh tế du lịch
Chủ trương của Trung ương Đảng về phát triển kinh tế du lịch
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011) đã đề ra chủ
trương thúc đẩy hơn nữa về phát triển kinh tế du lịch “Thực hiện cơ cấu lại nền
kinh tế du lịch, trọng tâm là cơ cấu lại dịch vụ phù hợp với các vùng. Tập trung
xây dựng, tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế du lịch đáp ứng
yêu cầu phát triển của đất nước”. Phương hướng phát triển của ngành kinh tế du

14

lịch giai đoạn 2011 – 2015 được xác định là “Xây dựng một số trung tâm du lịch

lớn trong nước, gắn kết có hiệu quả với các trung tâm du lịch lớn của các nước
trong khu vực” [6,9].

Nhằm cụ thể hoá các mục tiêu về phát triển kinh tế du lịch tại đại biểu
toàn quốc lần thứ XI, Kết luận số 74-KL/TW, ngày 17/10/2013 Hội nghị lần thứ
tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) về “Tình hình kinh tế - xã hội
năm 2013 và nhiệm vụ năm 2014” và “Đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết
Đại hội XI về kinh tế - xã hội, trọng tâm là ba đột phá chiến lược gắn với tái cơ
cấu nền kinh tế, đổi mới mơ hình tăng trưởng” đã xác định một trong những
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2014-2015 là: Đẩy mạnh phát triển du
lịch, các ngành dịch vụ hỗ trợ sản xuất kinh doanh… Tiếp tục phát riển các
ngành dịch vụ có tiềm năng, lợi thế, có giá trị gia tăng cao, như công nghệ thông
tin, viễn thông, vận tải, logistics, du lịch, tài chính – ngân hàng.

Cụ thể hóa mục tiêu đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
2473/QĐ-TTg ngày 31/12/2011 về Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến
năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, với chủ trương “Đến năm 2020, du lịch cơ
bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chun nghiệp, có hệ thống cơ sở
vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng
cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh
được với các nước trong khu vực và thế giới. Tốc độ tăng trưởng của ngành du
lịch bình quân thời kỳ 2011 - 2020 đạt 11,5 - 12%/năm” [58,1-2]. Chiến lược
định hướng: “Phát huy thế mạnh và tăng cường liên kết giữa các vùng, miền, địa
phương hướng tới hình thành sản phẩm du lịch đặc trưng theo các vùng du lịch.
Trong đó, phát triển sản phẩm du lịch ở Vùng trung du, miền núi Bắc Bộ, gồm
các tỉnh: Hịa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai,
Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc
Giang. sản phẩm du lịch đặc trưng là: Du lịch văn hóa, sinh thái gắn với tìm
hiểu bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số [58,2-3].


Quyết định số 201-TTg/2013 ngày 22/01/2013 về việc phê duyệt “Quy
hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm


×